00. Tựa - Thiện Nhựt xin thưa vài lời.

16 Tháng Ba 20204:37 CH(Xem: 1066)
00. Tựa - Thiện Nhựt xin thưa vài lời.

GiacNiemVeHoiTho_BGiác Niệm Về Hơi Thở
Mindfulness With Breathing
Bhikkhu Buddhadasa
Translated from the Thai by Santikaro Bhikkhu
Thiện Nhựt phỏng dịch
Source-Nguồn: dhammatalks.net, ftp.budaedu.org, budsas.org, thuvienhoasen.org
____________________
-----------------------------

 

 

Tựa

 

Chào mừng đến với Giác Niệm Về Hơi Thở!

 

Giác niệm về hơi thở là một kỹ thuật quán tưởng cắm sâu vào hơi thở của chúng ta. Đó là một phương tiện tinh vi để thám hiểm đời sống xuyên qua ý thức tế nhị và sự điều nghiên tích cực về hơi thở và đời sống. Hơi thở chính là đời sống; ngừng thở là chết. Hơi thở thiết yếu cho đời sống, làm cho êm dịu, tự nhiên, và năng phát hiện. Hơi thở là bạn đồng hành luôn luôn ở với chúng ta. Bất cứ nơi nào chúng ta đi đến, vào mọi thời, hơi thở hộ trì đời sốngcống hiến cơ hội cho sự phát triển tâm linh. Do sự quán tưởng về hơi thở, chúng ta phát triển và củng cố các khả năng tinh thần và đức tánh tâm linh của chúng ta. Chúng ta học hỏi được sự thư giãn của thân thểan tịnh của tâm hồn. Khi tâm thức lắng dịu và trở nên trong sáng, chúng ta xét nghiệm được cuộc sống, thân và tâm của ta, hiển lộ ra như thế nào. Chúng ta khám phá được sự thật căn bản về sự hiện hữu của nhơn sanh và học hỏi được nghệ thuật sống đời sống chúng ta như thế nào cho hoà điệu với sự thật đó. Và trong suốt chuỗi thời gian, chúng ta cắm sâu vào hơi thở, được hơi thở nuôi dưỡnghộ trì, được hơi thở xoa dịu và làm quân bình, cảm ứng với hơi thở ra, hơi thở vào. Đấy là sự thực tập của chúng ta.

 

Giác niệm về Hơi thở là một hệ thống quán tưởng, hay là huấn luyện tinh thần (citta bhàvanà, tâm quán), được Đức Phật Thích ca thường thực tập và đem ra giảng dạy. Đã hơn 2500 năm, đường lối thực tập nầy được giữ gìn và trao truyền lại về sau. Đường lối ấy là phần thiết yếu trong đời sống của các Phật tử thuần thành ở Á châu và khắp nơi khác trên thế giới. Các tôn giáo khác cũng có đường lối tu tập tương tự như thế nữa. Thật ra, các hình thức của Giác niệm về Hơi thở đã có trước thời Đức Phật. Các hình thức đó đã được Ngài làm hoàn hảo thêm để bao trùm toàn bộ Giáo pháp và các khám phá mới của Ngài. Như thế, hình thức bao quát của Giác Niệm về Hơi Thở được Ngài chỉ dạy mới đưa đến sự thành tựu tiềm năng cao quí nhứt của nhơn loại là sự giác ngộ. Ngoài ra, còn có các thành quả khác hiến tặng cho cả nhơn loại, ở mọi giai tầng xã hội và mọi trình độ phát triển tâm linh, những giá trị ngắn và dài hạn, những lợi lạc thế tụcsiêu thế.

 

Nơi Tam Tạng Kinh Điển, hệ Pali, sự thực tập giác niệm về hơi thở được gọi là Ànàpànasati, có nghĩa là "có giác niệm về hơi thở vào và hơi thở ra". Toàn bộ hệ thống thực tập được mô tả trong các bản Kinh Pali và sau đó được giải thích rộng ra trong các Chú giải. Cùng với thời gian, cả một công trình văn chương đồ sộ được phát triển. Từ các nguồn xuất xứ đó, và nhứt là từ các lời dạy của Đức Phật, Pháp sư Phật Lệ (Ajahn Buddhadàsa) đã rút ra phương pháp thực tập riêng của chính ông. Do kinh nghiệm đó, Người đã trình bày thành một hệ thống thật rộng rãi để giải thích rõ thế nào và tại sao phải nên thực tập Giác niệm về Hơi thở. Quyển sách nầy ghi lại các buổi giảng pháp gần đây nhứt của Người về sự thực tập quán tưởng.

 

Các bài giảng pháp được tuyển chọn ở đây vì hai lý do. Thứ nhứt, các bài pháp đó được thuyết giảng trước các người Tây phương tham dự các khoá hàng tháng tu học tại Suan Mokkh (Suan Mokkhabalàràma, Khu vườn của Năng lực Giải thoát, một tu viện Phật giáo ở miền Nam nước Thái). Khi diễn giảng cho thiền sinh Tây phương, Pháp sư đã dùng cách nói bộc trực chẳng quanh co. Người chẳng cần đi sâu vào các điểm hứng thú văn hoá của truyền thống Phật giáo Thái lan, Người thích chọn một thái độ khoa học, hợp lý, và phân tách. Và thay vì giới hạn sự chỉ dẫn dành cho các Phật tử, Người nhấn mạnh đến khía cạnh phổ quát, tự nhiên, đầy nhơn tính của Ànàpànasati, Giác niệm về hơi thở. Xa hơn nữa, Người cố gắng đáp ứng các nhu cầu, khó khăn, câu hỏi, và khả năng của các thiền sinh Tây phương mới bắt đầu, nhứt là đối với các thân hữu đến thăm viếng Suan Mokkh.

 

Thứ hai, quyển sách nầy nhắm vào các "người mới bắt đầu đứng đắn" (serious beginners). Khi nói "người mới bắt đầu" (beginners)chúng tôi muốn nói tới những người còn chưa được quen thuộc lắm với sự thực tập nầy cùng lý thuyết của nó. Vài người chỉ vừa mới bắt đầu, trong khi các người khác đã có những kinh nghiệm thực tập nhưng còn khiếm khuyết các điều chỉ dẫn về cách thức làm thế nào để đẩy xa hơn nữa sự thực tập của họ. Cả hai hạng người đó đều có thể được lợi lạc nhờ nghe các lời giảng dạy trong sáng liên quan đến hiện trạng của họ và mục tiêu tổng quát.

 

Khi nói "đứng đắn" (serious), chúng tôi muốn nói tới những người quan tâm đến vấn đề một cách sâu xa hơn là sự hiếu kỳ suông. Họ sẽ đọc, đọc đi đọc lại một cách cẩn thận quyển thủ bản nầy, sẽ suy tư về tài liệu nầy một cách thích nghi, và sẽ ứng dụng, một cách chân thành và tận tình, các kiến thức vừa thâu thập được. Mặc dầu có vài người thích nghĩ rằng chúng ta đâu cần phải đọc sách về thiền quán, chúng ta chỉ thực tập quán tưởng thôi, nhưng ta cũng phải nên cẩn thận để biết rõ những gì chúng ta đang thực hành. Chúng ta phải bắt đầu với các tài liệu đầy đủ và rõ ràng, để có thể thực tập một cách có ý nghĩa. Nếu chúng ta chẳng được thân cận bên một vị minh sư, thì một cuốn sách như quyển thủ bản nầy rất cần thiết vậy. Người mới bắt đầu cần phải có các tài liệu vừa giản dị, để có được một hình ảnh rõ ràng về trọn vẹn tiến trình thực tập, vừa phải đầy đủ chi tiết để biến hình ảnh đó thành sự thật. Quyển thủ bản nầy dung hoà được hai đòi hỏi đó. Nó cũng đủ để hướng dẫn một cuộc thực tập đến chỗ thành công, nhưng nó chẳng quá rườm rà để khiến cho mọi việc trở thành rắc rối và làm ta bị tràn ngập. Những người đứng đắn tuy vừa mới bắt đầu sẽ chẳng gặp khó khăn chi trong việc tìm thấy ở đấy những gì họ đang cần dùng đến.

 

Phần chánh yếu của quyển thủ bản nầy bao gồm một loạt các bài pháp được thuyết giảng tại khoá tu học thiền quán vào tháng Chín 1986. Pháp sư Poh (Đại đức Bodhi Buddhadhammo, người có sáng kiến mở các khoá thiền) thỉnh cầu Pháp sư Phật Lệ (Buddhadàsa) đứng ra trực tiếp thuyết giảng. Mỗi buổi sáng, sau khi điểm tâm xong, các thiền sinh tụ tập tại Khúc Thạch (Curved Rock), khoảng đất rộng dùng làm giảng trường lộ thiên của Suan Mokkh, để nghe Pháp sư Buddhadàsa giảng pháp bằng tiếng Thái, được thông dịch ra Anh ngữ. (...)

 

Trong các buổi giảng pháp khác, gần đây hơn, Pháp sư Buddhadàsa có thảo luận thêm về các viễn tượng của Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati) còn chưa được đào sâu trong các buổi pháp thoại trước vào tháng Chín. Các kiến thức mới nầy được ghi lại trong Phần Phụ lục ở sau (...). Một bài Tổng kết của dịch giả Anh ngữ tóm tắt bảy bài pháp của Pháp sư Buddhadàsa được ghi tiếp theo đó. Và sau cùng, bản Kinh Ànàpànasati, do chính Đức Phật thuyết giảng bằng tiếng Pali, được chép lại dưới hình thức bản dịch (...) (bằng Việt ngữ, trích trong Đại Tạng Việt Nam, Trung Bộ Kinh, kinh số 118, các trang 249 đến 264 -- Người dịch)(...) Chúng tôi hi vọng khi đọc tụng, các lời Kinh bình dị và trực tiếp của Đức Phật sẽ qui chiếu tất cả lời pháp thoại trước đây về một tiêu điểm thật rõ ràng. Tiêu diểm ấy, dĩ nhiên, phải nhắm vào mục đích thực sự của đời sống -- Niết-bàn (Nibbàna).

 

Nếu bạn còn chưa chịu ngồi xuống và theo dõi hơi thở của bạn, quyển sách nầy sẽ chỉ cho bạn thấy vì sao bạn phải làm như thế và làm theo cách nào. Tuy nhiên, cho đến lúc bạn bắt đầu làm thử, và tiếp tục thử mãi luôn, thì vẫn còn khó cho bạn hiểu thật rõ và thật đầy đủ những gì nói trong quyển sách nầy. Thế cho nên, bạn hãy đọc suốt qua một lần, hoặc nhiều lần nữa, cốt để nhận ra được đại ý của việc thực tập. Rồi thì, trong khi bạn thực tập, bạn hãy đọc đi đọc lại những đoạn có liên quan mật thiết đến những gì bạn hiện đang làm hoặc sắp làm. Lời lẽ trong sách chỉ nổi bật lên rõ ràng khi nào được đem ra ứng dụng, và nhờ có sự củng cố đó mà chúng mới hướng dẫn bạn tiến triển một cách an toàn hơn. Bạn cần đủ trí thông minh để thấu hiểu rõ ràng về những gì bạn cần phải làm và phải làm các điều đó như thế nào. Trong khi bạn chú tâm đến mức yêu cầu gần của buổi thực tập ngày hôm nay, bạn đừng quên mất mục tiêu xa của toàn thể con đường tu tập, sự cấu trúc, phương phápmục đích cứu cánh của nó. Thế là bạn sẽ thực tập với niềm tự tín vào sự thành công.

 

Cùng với mục đích quan trọng là chỉ dạy cách thức thực tập Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati), quyển sách nầy còn nhắm đến một mục tiêu khác nữa mà các độc giả lơ là thường bỏ qua. Với sự nghiên cứu cẩn thận thường được nhắc đến trong sách, các bạn sẽ khám phá ra sách nầy còn đề cập đến các điểm giáo lý căn bản của nền Phật học, được bảo tồn nguyên vẹn dưới hình thức Phật giáo nguyên thủy. Do đó, nó đã cống hiến một đại cương về các giáo pháp căn bản. Và theo cách nầy, sự đào luyện trí năng của ta còn được hội nhập vào sự tu tập tâm linh nữa. Bởi vì có cách nào mà bạn tách rời ra hai việc đó? Để hiểu được trọn vẹn những gì đang thực tập, thì ta cần phải học thuộc kỹ lưỡng về Chánh Pháp (Dhamma) và ngược lại, muốn thông suốt Chánh pháp, ta cũng phải nhuần nhã trong việc thực tập. Nơi đây có đủ cả hai (lý thuyết lẫn thực hành), điều nầy giúp cho những ai còn phân vân chưa biết những gì cần học và phải học bao nhiêu. Bạn chỉ cần thông thuộc tất cả những điều bàn luận trong sách nầy, bấy nhiêu đó cũng đủ.

 

Các lợi lạc do sự thực tập đúng cách và miên mật liên quan đến Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati) có rất nhiều, cả trên phương diện tôn giáo thuần túy lẫn trong đời sống thế tục hằng ngày. Mặc dầu Pháp sư Buddhadàsa đã giảng rộng trong bảy bài pháp, chúng tôi tưởng cũng nên nêu ra một vài lợi lạc ngay tại buổi đầu. Trước nhứt, Giác niệm về hơi thở mang lợi ích đến cho sức khoẻ vừa vật chất vừa tinh thần. Hơi thở dài, sâu và an hoà rất tốt cho thân thể. Biết thở đúng cách khiến ta trở nên bình thản và giúp ta trừ được sự căng thẳng, áp huyết cao, khích động thần kinh và ung độc đã tàn phá rất nhiều đời sống hiện nay. Chúng ta có thể học được thế ngồi giản dị, đẹp đẽ, chẳng còn chút nào căng thẳng, lo âu và bận rộn đến khuấy rối. Sự an tịnh êm dịu nầy còn có thể duy trì ngay cả trong các động tác thường nhựt khác và giúp ta hoàn tất mọi việc hằng ngày một cách khéo léo và ... duyên dáng.

 

Giác niệm về hơi thở còn đưa ta đến gần với thực tếthiên nhiên. Chúng ta sống quá nhiều với cái đầu của chúng ta: tư tưởng, mơ mộng, ký ức, kế hoạch, lời nói và tất cả những thứ khác nữa. Vì thế, chúng ta còn đâu cơ hội để hiểu biết về tấm thân của chính chúng ta, chẳng hề dùng thời giờ để tìm hiểu tấm thân ấy (ngoại trừ khi bị bịnh hoạn dày vò hoặc lúc tình dục ngây ngất). Với giác niệm về hơi thở, chúng ta cảm ứng được với thân tâm ta và bản thể của nó. Chúng ta thấm nhập sâu xavững chắc vào thực tế căn bản của nhơn sanh, để khôn khéo đương đầu với các cảm thọ, tình cảm, tư tưởng, ký ức và những tâm trạng khác trong nội tâm. Hết còn bị các thứ kinh nghiệm đó thổi bạt làm chúng ta phải nghiêng ngửa, chúng ta mới dễ chấp nhận chúng đúng y như chúng đang là như thế và học được bài học mà chính các kinh nghiệm đó đang dạy chúng ta. Chúng ta bắt đầu học hỏi được cái gì là cái gì, cái chân thật, các gì giả dối, cái gì cần thiết, cái gì tầm thường, thế nào là xung đột, thế nào là an hoà.

 

Với Giác niệm về hơi thở, chúng ta học được lối sống trong hiện tại, và chỉ có khoảng thời gian nầy chúng ta mới thật sự sống. An trú trong quá khứ, thì quá khứ đã chết mất rồi, hoặc mơ mộng về tương lai, thì tương lai lại mang cái chết đến, cả hai thời nầy đều chẳng phải thật sự là sống cuộc đời đáng sống của con người. Trong khi đó, mỗi hơi thở là một sự thật sống động trong cái ở đây và bây giờ, đâu có bờ bến nào giới hạn. Biết rõ ràng được hơi thở đang thở, chính là đang sống, sẵn sàng để tăng trưởng và để đón nhận bất cứ những gì sẽ tiếp theo sau.

 

Sau cùng, trong khuôn khổ hạn hẹp của cuộc đàm luận nầy, Giác niệm về hơi thở (Ànàpànasati) giúp ta dũa mòn được và vứt bỏ đi sự ích kỷ hiện đang phá hoại đời sống chúng ta và của cả thế giới nữa. Xã hội và hành tinh của chúng ta đang bị dày xéo vì vắng bóng hoà bình. Vấn đề nầy rất khẩn thiết, khiến cho các chánh trị gia, ngay cả các kỹ nghệ gia quân sự cũng rêu rao hứa hẹn hoà bình. Nhưng còn chưa thấy thực hiện nổi những gì để thật sự khiến nền hoà bình chân chính được nở hoa. Chỉ thấy có những biện pháp hời hợt, phiến diện được đề ra, trong khi đó nguồn gốc của sự tranh chấp lại nằm bên trong nội tâm của mọi người, của mỗi người trong chúng ta. Các cuộc xung đột, tranh biện, chiến đấu, và cạnh tranh, mọi sự bạo hànhtội phạm, sự bóc lột cùng sự bất lương, đều khởi lên từ các nỗ lực đã bắt nguồn nơi các ý nghĩ ích kỷ của chúng ta. Giác niệm về hơi thở giúp ta nhổ bật được gốc rễ của cái "Ta" khả ố và những cái "của Ta" đáng ghét, là các mầm mống của lòng ích kỷ đó. Cần chi hô hào ầm ỉ về hoà bình, chúng ta chỉ cần đến luồng hơi thở nhẹ nhàng cùng với sự tỉnh giác sáng suốt.

 

Niềm khát khao hoà bình của chúng tôi, hoà bình cho nội tâm cá nhơn cũng như hoà bình cho thế giới, đã được các quí khách chia xẻ, khi họ đến viếng thăm Suan Mokkh. Với những ai hiện đang tầm cầu con đường hoà bình của Đức Phật, và nhận đó là bổn phận và nguồn hạnh phúc của tất cả mọi người, chúng tôi xin hiến tặng quyển sách nầy. Chúng tôi hi vọng quyển sách sẽ làm phong phú thêm sự thực tập Giác niệm về Hơi thở (Ànàpànasati) của các bạn để đời bạn được thăng hoa lên.

 

Nguyện cầu mọi người chúng ta đều đạt được mục đích đời sống đầy ý nghĩa của mình.

 

Tỳ kheo Santikaro
Suan Mokkhabalarama
Tân niên (P.L.) 2531 (1988)

 

-ooOoo-

 

Thiện Nhựt xin thưa vài lời ...

 

Kính thưa Quí vị Đạo hữu,

 

Trong rừng Giáo lý nhà Phật, tìm được một bản Kinh chỉ rõ vừa lý thuyết vừa thực hành là điều rất khó. Kinh Nhập tức Xuất tức Niệm (Ànapànasati) đã được Pháp sư Phật Lệ trình bày lại dưới hình thức mươi bài pháp thoại rõ ràng và giản dị, chỉ rõ con đường tu tập, từng bước một, để đi đến sự giác ngộgiải thoát hoàn toànNgay tại trang bìa, có ghi rõ sách dành cho các Phật tử quyết tâm mới bắt đầu tu tập (For serious beginners).

 

Nếu đã thấy bấy lâu nay cứ chạy lòng vòng đi tìm một pháp môn thích hợp với mình, thì tôi thiển nghĩ đây là một quyển sách, cần đọc đi đọc lại nhiều lần, và nhứt là cần được đem ra thực tập ngay. Nếu có quyết tâmkết quả sẽ đến với ta rất rõ rệt và rất đáng ước mong.

 

Trân trọng.
Montréal, 16-02-2004.

Thiện Nhựt kính trình.

 

____________________

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 4866)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 1397)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 1430)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 1302)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 1023)
27 Tháng Mười 20209:49 CH(Xem: 82)
Những ngày qua con có nhiều thời gian hơn để thực hành, hiếm khi nào mà sự thu thúc, độc cư lại được hợp thức hóa như vậy, thật là thuận lợi. Con có dịp xem xét lại quá trình thực hành của mình từ đầu đến nay, ghi lại những điểm căn bản trong từng lá thư của Thầy, và tiếp tục thực hành những bài tập đó. Con thấy những điều đó
26 Tháng Mười 202010:55 CH(Xem: 114)
Cuộc đời con tới hôm nay là một thanh niên hơn hai mươi nhưng con đã gặp không biết bao bất hạnh từ nhỏ cho đến lớn, từ thể xác đến tinh thần có nhiều lúc tưởng như muốn tự kết liễu cuộc sống. Thực ra bấy lâu nay dù nghe pháp sư ông con vẫn quay về cảm nhận nhưng con vẫn bức xúc khổ đau vì những tổn thương bất hạnh
25 Tháng Mười 202010:40 SA(Xem: 181)
Kỳ thi ra trường của tôi ở Đại học Cambridge năm 1972 là về đề tài vật lý lý thuyết. Đó là quãng thời gian khó nhọc. Toàn bộ sự nghiệp ăn học ở đại học dồn lại thành một loạt những bài-thi khảo sát. Một là đậu hai là rớt. Kỳ thi của tôi bao gồm một bài thi viết luận ba tiếng đồng hồ liên tục vào buổi sáng và một bài thi sát hạch ba tiếng đồng hồ
24 Tháng Mười 20209:58 CH(Xem: 165)
Tối nay tôi sẽ nói về đề tài “quán hay suy ngẫm, chiêm nghiệm” (contemplation) trong Phật giáo. Làm thế nào để quán chiếu, để chiêm nghiệm, để suy ngẫm về Pháp và làm thế nào để áp dụng những điều này trong sự thực hành. Một trong những lý do tôi muốn nói về điều này là vì mọi người hay hỏi tôi làm sao quán và quán như thế nào
23 Tháng Mười 202010:04 CH(Xem: 199)
Trong tuần lễ đầu tiên của tháng 8, năm 1965, sau khi học xong khóa hè, tôi chuẩn bị sẽ đi California từ New York bằng xe hơi. Ngày ấy tôi mới 20 tuổi và sang tháng 9 tôi sẽ vào học Đại học Brooklyn. Tôi muốn đến thăm một người bạn. Anh ấy đang ở San Francisco mùa hè ấy. Tôi đã thu xếp để cùng đi với mấy người bạn học. Chúng tôi
22 Tháng Mười 20208:57 CH(Xem: 227)
Bài Kinh ĐẠI NIỆM XỨ (Trường bộ kinh Nikaya) là bài kinh quan trọng cho mọi Phật tử như trong phần mở đầu của bài Kinh, Đức Phật đã dạy: “Này chư tỳ kheo, đây là con đường độc nhất để đem lại sự thanh bình cho chúng sanh, vượt thoát sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh tríchứng ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ”.
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4866)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 229)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 243)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
19 Tháng Mười 20209:45 CH(Xem: 233)
Cúng vong linh và cúng cô hồn là tập tục, tín niệm dân gian có từ lâu đời, phổ biến trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Việt. Cúng vong linh thường thực hiện vào những ngày kỵ giỗ, con cháu soạn mâm cỗ dâng cúng ông bà cha mẹ và những người thân đã mất. Cúng cô hồntrai chủ phát tâm sắm sửa cơm nước lễ vật
18 Tháng Mười 202012:11 CH(Xem: 275)
Các lời trích dẫn giáo lý của Đức Phật cùng các danh nhân khác thường thấy trên mạng, báo chí và tạp chí đủ loại tại các nước Tây phương. Dường như trong cuộc sống dồn dập tại các nơi này, một số người đôi khi cũng thích đọc một vài câu ngắn gọn nhưng sâu sắc, giúp mình suy nghĩ về xã hội, con người và sự sống nói chung.
17 Tháng Mười 20206:19 CH(Xem: 307)
Với người hành thiền mong muốn có được tri kiến đúng đắn về năm uẩn qua việc thực hành Pháp Duyên Sanh, cuốn sách này chắc chắn sẽ là một tác phẩm đáng chú ý nhất. Nó cũng là một sự bổ sung rất ý nghĩa cho việc hiểu Pháp Duyên Sanh. U Than Daing, tác giả của cuốn sách, đã hoàn thành một sự giải thích rất rõ ràng và thấu đáo
16 Tháng Mười 20207:35 CH(Xem: 267)
Đúng, khi người tu thấy ra sự sinh diệt, vị ngọt và sự nguy hại của các pháp hữu vi sẽ không còn ham muốn chấp trước bất kỳ điều gì ở đời. Như Bồ-tát Siddhattha xuất gia không bao lâu đã chứng đắc vị ngọt của tất cả thiền định hữu vi hữu ngã nhưng khi đã thấy ra định này chỉ tạo sự dính mắc trong sắc ái, vô sắc ái ngài liền từ bỏ.
15 Tháng Mười 20204:39 CH(Xem: 269)
Thầy đã nhận được thư con và đọc nhiều lần lá thư ấy. Thầy rất thương con! Con cũng giống như thầy ngày xưa khi mới bỡ ngỡ bước chân đi tìm đạo, thật cô đơn và bơ vơ, không biết phải đi về đâu nữa. Khổ nhất là cái cảnh nửa đời nửa đạo như thế. Đời thì vừa chán vừa sợ, mà sợ nhất là những đam mê của nó cùng với phiền não
14 Tháng Mười 20203:07 CH(Xem: 331)
Nhiều Phật tử đã suy tưởng quá nhiều về Phật pháp nhưng lại thực hành quá ít. Rõ ràng là, vì thiếu kinh nghiệm trong việc hành trì giữ giới, cũng như thiếu những kết quả của công phu thiền tập, họ đã làm sai lệch giáo pháp với những mộng tưởng của chính họ. Bất hạnh thay, trong số những Phật tử này là những vị giáo thọ.
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2598)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
14 Tháng Mười 20209:01 SA(Xem: 2066)
Nhiều Phật tử suy nghĩ về giáo pháp quá nhiều mà thực hành rất ít. Thiếu những trải nghiệm như thế nào là giữ giới, và thiếu dữ liệu từ những tầng thiền định sâu (Thiền Na- Jhana), vô tình họ đã bóp méo giáo pháp bằng những mơ tưởng viển vông của chính họ. Bài kinh Udana (Ud1.10), ghi lại lời Phật dạy cho Bāhiya, là một bài kinh ngắn
13 Tháng Mười 20209:53 CH(Xem: 316)
Khi tôi chết, tôi không muốn có những nghi lễ phô trương. Tôi đã viết di chúc dặn dò nếu tôi chết trong vòng năm mươi dặm của Trung tâm Thiền quán Bhavana (West Virginia, Hoa Kỳ), những người trong đạo tràng nên thu xếp hỏa táng thân xác tôi và sau đó, tùy ý xử lý tro cốt. Tôi không quan tâm. Nếu tôi chết ở nơi khác, họ có thể thu xếp
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2848)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
12 Tháng Mười 202010:53 CH(Xem: 347)
Bài học quý ở đây là: thực sự thực hành + nghe pháp để đối chiếu. Chúng ta chưa bao giờ hiểu đúng cả. Chúng ta chưa bao giờ thực hành đúng cả. Chúng ta chỉ đang tiệm cận dần đến cái đúng. Vì vậy đừng chủ quan. Đừng coi nhẹ những hướng dẫn cơ bản. Thỉnh thoảng cần nghe lại và tìm ra lối thoát cho vấn đề của mình trong đó.
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1980)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3658)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5207)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4866)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
13 Tháng Mười 202010:39 SA(Xem: 2848)
Viết tự truyện có lẽ không phải là chuyện một vị tỳ kheo, một nhà sư Phật giáo nên làm, vì các tỳ kheo chúng tôi phải luôn phấn đấu để diệt ngã, không phải để tôn vinh nó. Qua thiền quánchánh niệm chúng tôi muốn tu tập buông bỏ ái luyến, thực hành vô ngã. Vậy thì tại sao tôi lại viết cả một quyển sách về mình?
08 Tháng Mười 202011:06 SA(Xem: 4264)
Giáo Pháp chắc chắn phải được học, nhưng hơn nữa, phải được thực hành, và trên hết, phải được tự mình chứng ngộ. Học suông mà không thật sự mình thực hành thì không bổ ích. Đức Phật dạy rằng người có pháp học mà không có pháp hành cũng tựa hồ như tai hoa lộng lẫy mầu sắc,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 4866)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 229)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 243)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2598)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1707)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 1611)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.