Chương hai: Như huyễn

21 Tháng Tư 20207:09 CH(Xem: 453)
Chương hai: Như huyễn

ThienLaGi_A 

Thiền Là Gì? - Thích Thông Huệ 

Nhà xuất bản Phương Đông TP. HCM 2002
Nguồn: thuvienhoasen.org

 

____________________


CHƯƠNG HAI: NHƯ HUYỄN

 

 

I.- KHÁI LƯỢC

 

Lý Như-Huyễn là một quan niệm về nhân sinhvũ trụ độc đáo của nhà Phật. Trong thiền định sâu xa, Đức Phật thấy rõ tất cả các pháp đều là những hiện tượng không thật có, vì chúng do nhiều duyên tụ hội lại mà thành. Bản chất của chúng là không, vì chúng không có tự thể. Như vậy, nhìn trên hiện tượng (SẮC) là duyên hợp tạm có, nhưng bản thể lại là KHÔNG. Nói khác đi, SẮC là biểu tướng của KHÔNG, KHÔNG là bản chất của SẮC. Đây là tinh thần Bát-Nhã, mà chỉ những người ở trong Như-Huyễn tam-muội, tức trong chánh định quán triệt lý Như-Huyễn, mới thẩm thấu được.

 

Các pháp không thật có nên là huyễn, nhưng tự tánh các pháp là không, nên tuy huyễn mà vẫn thường ở trong Như tánh. Như là thể của Huyễn, Huyễn là dụng của Như. Như là thể tánh bất động, không bao giờ thay đổi; Huyễn là tùy duyênhình tướng đổi thay. Chúng ta từ Như đến đây, mang thân huyễn mộng này, rồi khi mất đi lại trở về Như. Nhưng không phải đợi lúc hình tướng tan hoại mới trở về Như, mà ngay khi còn thân huyễn, nó đã là Như rồi. Cũng như nước là hiện tượng, có thể thay đổi từ thể lỏng sang thể rắn, thể hơi, nhưng không bao giờ mất đi tánh ướt. Vì Huyễn không bao giờ rời Như, nên nhà Phật gọi là Như-Huyễn.

 

Lý Như-Huyễn là một vũ khí lợi hại, quét tận gốc rễ mọi tham đắm chấp trước của con người về thân, tâm và cảnh. Hàng ngày, chúng ta nhìn và hiểu các pháp bằng thức tâm phân biệt và bằng sự tưởng tượng phong phú của mình, cho các pháp là thật có. Do thấy không đúng lẽ thật (si) nên sinh tham. Nếu lòng tham được thỏa mãn, lại càng tham đắm nhiều hơn, nặng hơn; nếu không thỏa mãn sẽ phát sinh sân hận. Phiền não vì thế càng tăng trưởng, không có ngày dừng. Khi lắng sâu tâm thức, hiểu rõ lý Như-Huyễn, ta sẽ thấy cuộc đời ta trải qua bao nhiêu năm vui-buồn sướng-khổ thịnh-suy, chỉ như một giấc mộng dài! Cảnh vật bên ngoài cũng thế, căn nhà ta ở, khung cảnh xung quanh ta..., có phải chúng đang biến đổi trong từng giây phút? Trong phạm trù không gian, thân-tâm-cảnh là duyên sinh giả hợp; trong phạm trù thời gian, chúng biến đổi không dừng trụ; như thế không phải huyễn là gì?

 

 

II. NỘI DUNG.

 

1) Từ Lý Nhân-duyên đến Tánh Không.

 

Về mặt tục đế, Đức Phật thuyết giảng lý Nhân-duyên giải thích sự thành hình của tất cả các pháp, đồng thời bài bác 4 luận thuyết của ngoại đạo đương thời:

 

1- Thuyết tự sanh: Các pháp được sanh ra từ chính bản thể của nó.

 

2- Thuyết tha sanh: Các pháp sanh từ bản thể của những pháp khác.

 

3- Thuyết cộng sanh: Pháp này nhờ pháp kia mà sanh và ngược lại.

 

4- Thuyết vô nhân sanh: Các pháp ngẫu nhiênhiện hữu, không cần có điều kiện hay nguyên nhân nào.

 

Lý Nhân-duyên cắt nghĩa sự thành lập của các pháp là do nhân và duyên kết hợptác động. Trong đó, nhân là yếu tố quyết định, không thể thiếu; duyên là những điều kiện hỗ trợ. Ví dụ: Để có cây lúa (một pháp), phải có hạt lúa là nhân, cùng kết hợp với các duyên là đất, nước, ánh sáng mặt trời, người nông phu... Từ lý Nhân-duyên, Đức Phật triển khai thành lý Nhân-quả thế gianxuất thế (tức Tứ Diệu Đế) cho các vị Thanh Văn, và Thập nhị nhân duyên cho các bậc Duyên Giác. Tu theo con đường này, hành giả phá được ngã chấp, cuối cùnggiải thoát khỏi luân hồi sanh tử. Chúng ta thường gọi đây là con đường của Nhị thừa.

 

Đối với Bồ-tát Đại thừa, các Ngài do quán triệt lý Nhân-duyên đưa đến nhận thức đúng đắn về các pháp. Từ những pháp hữu hình đến vô hình (không thấy được bằng mắt thường như không khí), từ hiện tượng vật chất đến tinh thần (cảm thọ, nhận thức...), chúng đều không thể tự mình hình thành mà phải nhờ nhân và duyên sanh ra. Đến lượt các nhân duyên ấy, vì chúng cũng là các pháp, nên cũng phải cần các nhân duyên khác tạo nên. Từ đó, chúng chuyển biến sinh diệt, làm nhân duyên cho pháp này rồi lại là quả của những nhân duyên khác, không biết đâu là bắt đầu và đâu là tận cùng. Đức Phật gọi là “trùng trùng duyên khởi” .

 

Như vậy, các pháp đều không phải thật không và cũng không thật có. Chúng không thật là không, vì con người có thể cảm nhận chúng bằng giác quan; chúng không thật có vì chúng do các pháp khác tạo thành, nên không có tự thể. Vì thế, tánh của chúng là Không, nhờ duyên hợp nên giả có. Đây là tinh thần của hệ Bát-nhã, hiển bày Tánh Không của tất cả các pháp. Dùng trí tuệ Bát-nhã quán chiếu tường tận thật tánh các pháp, thấu triệt Pháp tánh, Bồ-tát phá được ngã chấppháp chấp, cả pháp thế gian lẫn pháp xuất thế gian. Nhà Phật gọi là con đường của Bồ-tát thừa.

 

2.) Tánh Không và Lý Như-Huyễn.

 

Đức Phật tuyên bố, vạn pháp đều như huyễn, để nói lên tính bất thực của chúng. Đó là đứng trên bình diện chơn đế, nhìn vạn pháp bằng cái nhìn “đương thể tức không”.

 

Đối với các nhà khoa học, thuyết Big Bang là một giả thuyết táo bạo và vĩ đại nhằm giải thích sự thành lập của vũ trụ. Nhưng trong giáo lý nhà Phật, vũ trụ không chỉ trải qua một chu kỳ thành - trụ - hoại - không, mà đã - đang và sẽ tiếp diễn vô lượng chu kỳ như thế, không có khởi đầu cũng không có kết thúc - tiền tiền vô thủy, hậu hậu vô chung. Thế giới hiện tượnghữu vi duyên khởi, sanh sanh diệt diệt tương duyên tương tác. Không pháp nào trong vũ trụ lại đứng yên, mà luôn luôn chuyển động đổi mới. Ngay cả phần vĩ mô nhất là toàn bộ vũ trụ, cũng thay đổi mỗi ngày. Hình thái của vũ trụ, mà một số nhà Vật lý học hàng đầu thế giới đã phác hoạ trong những công trình thực nghiệm và tư duy, thật ra chỉ là một phần rất nhỏ những cảnh giới mô tả một cách tuyệt vời trong Kinh Hoa Nghiêm. Tuy nhiên, từ những hạt Quartz (được cho là yếu tố nhỏ nhất cấu tạo thế giới) cho đến toàn thể thực tại trùng trùng duyên khởi, không có pháp nào hiện hữu mà không được tạo thành từ những nguyên nhân khác. Do vậy, tất cả chỉ là huyễn mộng, dù là thế giới vi mô hay vĩ mô.

 

Con người chúng ta, từ trước đến giờ đã trải qua bao kiếp sống; và từ giờ trở về sau, sanh sanh tử tử vẫn tiếp nối không dừng. Gọi là “tử” nhưng thật sự, chỉ là sự thay đổi của thân từ dạng thái này sang dạng thái khác, từ thân tiền ấm (con người hiện tại) chuyển qua trung ấm (lúc lìa đời); khi đủ duyên lại gá vào thân hậu ấm, tiếp tục một chu kỳ sanh tử khác với một hoàn cảnh chánh báoy báo khác. Đáo cùng, nhắm mắt lìa đời không phải là thật sự xa lìa trần tục, mà chỉ là tạm thời ngưng cuộc sống ở nơi này để tiếp nối cuộc sống nơi kia. Cho nên, không có thật sanh cũng không có thật diệt, tất cả chỉ trong huyễn mộng mà thôi.

 

Điều lầm lẫn nhất của con ngườichạy theo hình tướng mà quên bản chất, chạy theo Sắc mà quên tự tánh Không, nên không có sự hiểu biết như thật về tất cả các pháp. Sắc là do đủ duyên mà hiện hữu nên là Huyễn, còn Không là bản thể nên Như. Huyễn từ Như mà có, biểu hiện tác dụng; muốn thâm nhập Như thì phải từ Huyễn mà vào. Nói cách khác, Sắc là dụng của Không, Không là thể của Sắc; khi đủ duyên thì khởi ra Sắc, khi duyên tan thì Sắc trở về Không. Do vậy, Huyễn không bao giờ rời Như, Sắc chẳng thể nào lìa Không được. Hiểu điều này, ta sẽ thấy rõ ràng Ta-bà là Tịnh-độ, phiền não tức Bồ-đề.

 

hiện tượng không thể nào tách rời khỏi bản chất và ngược lại, nên các vị Thiền sư ngộ đạo là ngộ ngay sự hữu, từ đó thấu thể cả sự vô. Các Ngài thấy rõ vạn pháp đều vô thường theo thời gianduyên sinh trên bình diện không gian, nên chúng hiện hữu trong sự chuyển động và giả hợp. Nhưng trong lòng những chuyển động và giả hợp của sự hữu, luôn luôn hiện diện đặc tính bất biến và thống nhất của sự vô. Mặt khác, do con người luôn khởi niệm duyên theo trần cảnh, tâm không lúc nào dừng trụ, nên các pháp biểu hiện bên ngoài đều vô thường. Trái lại, các Ngài trở về trạng thái như của tâm, nên thấy các pháp đều Như. Có thể nói, tâm tịnh thì thế giới tịnh, tâm Như các pháp Như, tâm bình thế giới bình. Các Ngài vẫn ở trong cuộc đời làm lợi ích cho chúng sanh, ở trong thường tục mà vẫn siêu tục, tự tại an nhiên trước mọi khó khăn chướng ngại, ngay cả trước tử thần!

 

Bài Minh của Tổ Qui Sơn có đoạn:

 

Huyễn thân mộng trạch

 

Không trung vật sắc

 

Tiền tế vô cùng

 

Hậu tế ninh khắc.

 

Thân huyễn trong nhà mộng, tất cả vật sắc đều ở trong hư không. Vật sắc ấy, mé trước là vô cùng, còn mé sau có ai biết được? Thân chúng sanh là huyễn, thân Thánh nhân cũng huyễn, sống trong nhà mộng tam giới; nhưng phàm phu si mê chấp thân là thật nên không từ một thủ đoạn nào để bảo vệ và tô bồi cho cái ngã, đôi khi còn nhân danh Thượng Đế tiến hành những cuộc thánh chiến đẫm máu. Còn các bậc Thánh nhân, tuy mang thân huyễn mà tâm vẫn ở trong Như, vì thấu rõ lý Sắc - Không. Vũ trụ vạn phápvô thủy vô chung, nhưng luôn hiển hiện một chân lý ngàn đời: Tất cả vật sắc, lúc đủ duyên thì giả hợp thành sự hữu, khi hết duyên lại trở về sự vô. Sự hữu (Sắc) là giả tướng, biểu tướng; sự vô (Không) là tự thể, bản chất. Cả hai không thể tách rời nhau, cũng như giữa tâm và cảnh, giữa tạo chủ và tạo vật, đều bất khả phân ly như thế.

 

Trang tử Nam Hoa kinh kể chuyện Trang tử nằm mộng thấy mình hóa bướm, khi tỉnh dậy không biết “Chu là bướm hay bướm là Chu” . Câu chuyện này có một ý nghĩa rất sâu sắc, nhằm diễn tả một thực tại ly ngôn ngữ. Đây là trạng thái vô tâm, hòa nhập nhất như giữa tâm và cảnh, giữa mình và vạn pháp. Khi tâm hoàn toàn tĩnh lặng, vẫn thấy nghe hiểu biết mà không xen tạp một ý niệm nào, chúng ta sẽ nhận ra vũ trụ rất nhiệm mầu vi mật, không thể đem thức tình tầm thường mà đo được. Chúng ta cũng nhận ra rằng, cõi giới của mình là cõi phàm - Thánh đồng cư, như cõi Cực lạc của Phật A-Di-Đà. Không phải tìm Niết-bàn ở một nơi nào xa lạ, mà chỉ ngay mảnh đất hiện tại bây giờ và ở đây.

 

Một điều quan trọng cần lưu ý, chúng ta đừng bao giờ hiểu lầm Đức Phật thuyết lý Như-Huyễn là phủ nhận sự hiện hữu của các pháp. Ngài không từ chối thế giới hiện thực mà nhằm phát sinh tri kiến như thật, để chúng ta nhận ra các pháp đang là. Thiền sư Từ Đạo Hạnhbài kệ soi sáng ý nghĩa này:

 

Tác hữu trần sa hữu

 

Vi không nhất thiết không

 

Hữu không như thủy nguyệt

 

Vật trước hữu không không.

 

 

 

tạm dịch:

 

Chấp có, thảy đều có

 

Chấp không, tất cả không

 

Có - Không, trăng đáy nước

 

Chớ chấp Có cùng Không.

 

Nếu cho mọi pháp là thật thì chúng đều thật có - đây là cực đoan thứ nhất; nếu chấp tất cả đều không, thì chúng sẽ thật không - cực đoan thứ hai. Cả hai cực đoan, chấp thường và chấp đoạn, đều không hội được liễu nghĩa thượng thừa. Thường và đoạn, có và không ví như bóng trăng dưới nước, nhìn thì thấy nhưng không vớt lên được, nên không thật có cũng chẳng thật không. Nhà Phật phủ nhận cả chấp thường lẫn chấp đoạn mà theo con đường Trung đạo, tinh thần của Lý Như Huyễn.

 

3.) Như HuyễnChân Không .

 

Theo giáo lý Phật Đà, chúng sanh do nghiệp thức dẫn lôi, luân hồi trong ba cõi:

 

1. Cõi Dục: Chúng sanh còn đam mê ngũ dục, thân thô tâm thô. Tùy nghiệp thiện ác mà vào ra trong sáu đường: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, A-tu-la, Người, Trời. Cảnh giới thuần khổ là Địa ngục, nửa khổ nửa vui là Người, thuần vui là Trời gồm 6 cõi Trời Dục, dành cho người tu phước báo hữu vi.

 

2. Cõi Sắc: Đây là cảnh giới của người tu Thiền định, gồm bốn bậc: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Thân tướng tuy vẫn là sắc chất nhưng là vật chất vi tế, rất cao lớn đẹp đẽ, không còn giới tính nam nữ. Thân vi tế, tâm thiền định.

 

3. Cõi Vô Sắc: Gồm Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ở cõi này, chúng sanh tự tại vô ngại, dùng “thân định quả” tức lấy sức Thiền định làm thân; không còn thân sắc chất nhưng còn tâm phân biệt vi tế.

 

Các cõi trên có chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức khác nhau, nhưng tất cả không ngoài lý Như-Huyễn. Bởi vì, những gì có hình tướng, dù thân thô hay tế, dù tâm Thiền định mà còn một niệm nhỏ nhiệm, cũng thuộc về sinh diệt, cũng đều là Huyễn.

 

Mặt khác, những loài chúng sanh khác nhau có nhận thức về thế giới khác nhau. Như trên cùng một dòng sông, loài người nhìn thấy toàn nước, con cá thấy đó là thế giới cho nó sống và bơi lội, ngạ quỷ thấy toàn là máu, chư Thiên lại cho là một dải lưu ly. Cho nên, thế giớicon người tưởng-tri thức-tri được, không phải là thế giới tồn tại khách quan ngoài tâm thức, mà chính do tâm thức biến hiện ra. Duy thức sở biến duy tâm sở hiện, vì thế tất thảy đều là mộng ảo. Như khi nằm mộng, ta thấy rõ ràng có người có cảnh, tâm ta cũng biến thiên theo cảnh theo người; đến lúc tỉnh giấc, những gì xảy ra trong chiêm bao có phải là thật đâu? Đó là tiểu mộng, còn bao nhiêu năm cuộc đời ta, là một trường đại mộng, cũng qua đi như một giấc chiêm bao. Thuần Vu Phần nằm ngủ dưới gốc cây hòe, mơ thấy mình thi đỗ làm quan, được vua gả công chúa; sau đó nhận lệnh vua đánh giặc, thất trận, công chúa chết, vua bắt tội xử đi đày. Giật mình tỉnh giấc mới biết chỉ là giấc mộng, trên cành cây ở hướng Nam chỉ có một ổ kiến. Thật là:

 

Giấc Nam-kha khéo bất bình

 

Bừng con mắt dậy thấy mình tay không.

 

Biết cuộc đờimộng huyễn, không phải để chúng ta cam phận, chấp nhận khổ đau; càng không phải để chúng ta chán nản buông trôi, mặc dòng đời xô đẩy. Chúng ta ý thức mình đang hiện hữu nơi cảnh giới này cùng mọi người, là do nghiệp thức cộng trụ kết hợp với biệt nghiệp của từng người. Biệt nghiệp thì không ai giống ai, nên số phận mỗi người mỗi khác; nhưng cộng nghiệp người không khác nên sống chung một môi trường, chịu chung một hoàn cảnh thiên tai dịch họa... Và rồi, dù chánh báo hay y báo, dù biệt nghiệp hay cộng nghiệp, tất cả đều là huyễn, vậy thôi!

 

Dù sao đi nữa, ở cõi người có khổ có vui mới dễ làm ta thức tỉnh, tinh tấn tu hành dễ được thoát khổ. Nếu thuần khổ như Địa ngục, đói khát như Ngạ quỷ hoặc si mê như Súc sanh, làm sao có cơ hội tỉnh giác? Ngược lại, cõi trời quá vui quá sướng, chúng sanh đắm chìm trong đó còn ước ao gì hơn nữa; đến khi hết phước hiện tướng đọa đày, thức tỉnh thì đã muộn. Chư Phật Bồ-tát thương xót chúng sanh vô minh tăm tối, nên bằng mọi phương tiện cứu độ muôn loài thoát khỏi ngục tù tam giới.

 

Thiền sư Thanh-Đàm Minh-Chánh nói:

 

Công danh cái thế màn sương sớm

 

Phú quý kinh nhân giấc mộng dài.

 

Chẳng hiểu bản lai vô nhất vật

 

Công phu luống uổng một đời ai.

 

công danh cao tột thế gian hay phú quý đến độ người người đều khiếp sợ, cũng chỉ như màn sương buổi sớm hay giấc mộng đêm qua, có gì là thật. Vậy thì, con người phải định vị mình ở nơi đâu? Đây là câu hỏi thiết yếu mà mỗi chúng ta cần tự đặt ra và tự giải đáp.

 

Đối với người thế gian, “công phu” là kiến thức kinh nghiệm học hỏi thu thập được trong quá trình sống và làm việc, là sự nghiệp công danh, là thành công trong xã hộihạnh phúc trong gia đình. Mọi người hầu như đem hết tâm lực cốt đạt được những điều mong ước đó. Đối với hàng xuất gia, “công phu” là tích lũy một số kiến thức Phật học và thế học, có trú xứ ổn định, có tăng thân thanh tịnh hòa hợp cùng giúp đỡ nhau tu hành, ngày càng giảm thiểu phiền não khổ đau ở thân và tâm. Tuy nhiên, cả hai khía cạnh vật chấttinh thần nêu trên chưa phải là hạnh phúc tột cùng, miên viễn và đích thực. Đời tu chỉ thật sự có ý nghĩa khi hiểu được và đạt được mục đích: Trở về với con người thật của chính mình và sống bằng con người thật ấy. Muốn không để “luống uổng một đời”, người tu phải quán triệt tư tưởng “vô nhất vật”, danh từ của Lục Tổ Huệ-Năng.

 

Chúng ta nhớ lại câu chuyện ngộ đạo của Lục Tổ: Khi Ngũ Tổ Hoằng-Nhẫn gọi Ngài vào phương trượng giảng kinh Kim Cang, Ngài vẫn còn là cư sĩ làm việc dưới nhà trù. Trong kinh có đoạn Đức Phật trả lời câu hỏi của Ngài Tu Bồ Đề: “Làm sao an trụ tâm? ”. Phật dạy rằng: “Không nên trụ vào sắc mà sanh tâm; không nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm. Phải ngay nơi chỗ không trụ mà sanh tâm ấy”. “Tâm ấy” tức tâm Vô thượng Bồ-đề. Lời dạy của Đức Phật, mới nghe chúng ta chỉ hiểu là phải đặt trọng tâm ở chỗ không dính mắc với sáu trần. Vì sao không nên dính mắc vào trần cảnh? - Vì trần cảnhduyên sinh giả hợp, tự tánh của chúng là không. Nhưng nếu khéo nhìn sâu hơn, hành giả phải tự nghi vấn: “Nếu tất cả các pháp đều Không, thân tâm cũng Không, vậy cái gì giải thoát? Cái gì rõ biết Tánh Không? “Cư sĩ Huệ-Năng là một bậc pháp khí thượng thừa, nên từ lời dạy ấy, Ngài nhận ngay ra tâm thể thường hằng của chính mình. Tâm này lặng lẽ, không có hình tướng nên không thuộc về có; nhưng nó hằng tri hằng giác, biết một cách thấu thể mọi sự vật hiện tượng trong tận cùng pháp giới, nên không thuộc về Không. Vì vậy, nó được gọi là Chân - Không, cũng là Phật tánh, là Pháp thân, là Bản lai diện mục, là tâm Thiền...

 

Bằng tâm Thiền, các Ngài nhìn toàn thể sự vật bằng cái thấy như thị, không xâm phạm đến bản vị của các pháp mà vẫn hiểu một cách tột cùng bản chất của chúng. Đức Phật gọi đó là Phật tri kiến - Cái thấy biết Phật. Có cái thấy biết này, các Ngài khởi phát diệu dụng không thể nghĩ bàn. Chính là Chân Không sinh Diệu Hữu. Chân Không là tâm thể, Diệu Hữu là tâm dụng. Nhờ Diệu Hữu, các Ngài có vô số phương tiện quyền xảo để giáo hóa chúng sanh. Các Ngài dọc ngang tung hoành, làm ngược làm xuôi, đôi lúc có những hành động ngôn ngữ vượt thường mà người đời không đoán định nổi. Bàng Long Uẩn khi liễu đạt lý Thiền, đem hết của cải đổ xuống sông. Thiền sư Đơn Hà đốt tượng Phật ở chùa Huệ Lâm, làm Viện chủ Hướng “rụng cả lông mày”. Thiền sư Nam Tuyền giơ con mèo lên, cả đại chúng không ai nói được, Ngài đành chém con mèo. Gia tài sự sản bị vất hết, tượng Phật bị đốt, con mèo bị chém..., tất cả vì ai? Tất cả chuyện này có ý nghĩa gì? Cũng như Đức Phật, đã thành Bậc Chánh Giác nhưng mỗi ngày Ngài đều tọa thiền. “Na-Già thường tại định”, Ngài đạt định trong mọi thời khắc, mọi nơi chốn, cần chi phải tọa thiền? Đây là những điều chúng ta cần suy gẫm.

 

 

III. Ý NGHĨA TRONG SỰ TU HÀNH.

 

* Một Thiền sinh sau giờ tọa thiền, bạch cùng sư phụ: “Hôm nay con thấy rỗng rang tự tại”. Vị Thiền sư trả lời: “Rồi nó sẽ qua đi!”. Ngày kế, trò lại trình Thầy: “Hôm nay con lại thấy nặng nề mệt mỏi”. Thầy bảo: “Rồi nó sẽ qua đi!”. Thiền sư đang khai thị chân lý cho trò: Tất cả các pháp, dù pháp thế gian hay xuất thế gian, cũng đều qua đi, như dòng sông luôn luôn trôi chảy không dừng. Thấy rõ các pháp là huyễn, không có gì vĩnh viễn thường trụ, chúng ta không ước ao thân mình luôn mạnh khỏe, hoàn cảnh luôn thuận lợi đối với mình. Bằng tinh thần lực chế ngự mọi đau khổ bất an, ta sẽ tích cực sống và làm việc vì mình, vì người.

 

 * Tánh Không là nền tảng mọi hoạt động của các pháp; nhờ Không, các pháp trở nên linh động. Từ Không biểu hiện Sắc, lúc tan hoại thì Sắc trở về Không. Sắc là do duyên mà có nên lệ thuộc vào duyên, Không là tự tánh nên hoàn toàn độc lập. Sắc là hiện tượngsanh diệt, Không là bản chất thường hằng. Hiện tượng là biểu tướng không thật nên Sắc tức Không, còn Không là thể tánh chân thật nên Không tức Sắc. Đây là ý nghĩa của Tánh-tướng bất nhị, Lý-sự vô ngại.

 

Quán triệt được điều này, chúng ta mới thấu rõ tinh thần Đương thể tức không - ngay có mà nhận ra không, từ không mà biểu hiện có. Không là nguồn cội của vũ trụ, vũ trụ tuy Huyễn nhưng nguồn cội Không ấy là Như, nên gọi là Như-Huyễn. Kinh Pháp-Hoa dùng một hình ảnh thật đẹp biểu trưng người đã thấu triệt “nhất thiết pháp không”: hình ảnh ngồi tòa Như-Lai. Do bản thể các pháp vốn không, nên chúng dung thông vô ngại. Phàm phu do tâm chấp trước các pháp là thật có, nên thấy chúng ngăn ngại lẫn nhau, đặc biệt đối với các vật thể rắn: thân người không thể đi xuyên qua vách đá, hòn gạch ném vào tường liền bị dội lại... Đức Phật dạy, do tâm chấp trước kiên cố nên các pháp biểu hiện thành chất rắn, do tâm sân hận nên sanh có lửa, do tâm tham ái nên có nước, do tâm dao động nên sanh ra gió. Tâm bên trong như thế nào thì biểu hiện các pháp bên ngoài thế ấy. Đối với các bậc ngộ đạo, lậu hoặc đã dứt, đã đạt lý tánh tuyệt đối, các vị có thể tùy ý thi triển thần thông, vì các pháp không còn ngăn ngại lẫn nhau. Đây là tư tưởng vút cao trong kinh Hoa-Nghiêm: Sự-sự vô ngại hay Pháp giới dung thông. Tư tưởng này làm sáng tỏ thêm lý Như-Huyễn, vì các pháp như huyễn nên thật sự không có ranh giới chướng ngại.

 

* Một linh hồn gõ cửa Thượng-Đế xin vào ở chung. Thượng-Đế từ trong hỏi vọng ra:

 

- Ai đó?

 

Linh hồn trả lời:

 

- Tôi.

 

- Tôi là ai?

 

- Tôi là tôi.

 

Vì “tôi là tôi” nên không có đủ chỗ cho linh hồn. Trở về tu luyện một thời gian thật lâu, lần này khi nghe hỏi: “Tôi là ai? ”, linh hồn trả lời:

 

- Tôi là Thượng-Đế.

 

Do linh hồn trở thành một với Thượng-Đế, nên trên thiên đàng có thể dung được anh ta. Tương tự như thế, khi nào ta niệm Phật mà thấy mình và Ngài là một, thì tâm ta mới tương ứng với tâm của các Ngài. Điều đó có nghĩa là, khi thấu rõ tự tánh các pháp đều không, tất cả đều như huyễn, cái ngã tiêu dung, thì tự nhiên ta thể nhập vào quỹ đạo của chư Phật Bồ-tát . Lúc ấy:

 

Năng lễ sở lễ tánh không tịch

 

Cảm ứng đạo giao nan tư nghì.

 

Cả người lễ (năng) và chư Phật (sở) tánh đều không, khi ấy sự tương cảm tương ứng thật không thể nghĩ bàn!

 

Trên thực tế, ý thức chấp ngã vừa mãnh liệt vừa thâm sâu. Phân biệt ngã chấp là dạng thô phù dễ thấy, tuy mạnh mẽ nhưng có thể nhận diệngiải trừ; còn Câu sanh ngã chấp là dạng vi tế ẩn tàng tùy miên (ngủ ngầm), mà người có công phu sâu dày miên mật mới khám phá nổi. Như thế mới biết việc tu hành thật gian nan tinh tế, đòi hỏi ý chí, nghị lực và lòng kiên nhẫn vô bờ, chứ không phải một sớm một chiều mà thu được kết quả lớn như nhiều người lầm tưởng. Nhưng một khi sự chấp ngã tiêu dung, ta sẽ có sức mạnh tinh thần rất lớn để sống và làm việc. Ta sẽ vượt qua mọi chướng duyên nơi thân tâm và cảnh, thường độc hành độc bộ mà không điều gì không biết, không việc gì không làm để tròn bản nguyện tự lợi lợi tha.

 

* Sau đây là bài kệ của Thiền sư Vạn Hạnh:

 

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

 

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

 

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy

 

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

 

tạm dịch:

 

Thân như bóng chớp có hoàn không

 

Cỏ xuân tươi tốt thu héo nồng

 

Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi

 

Thịnh suy như cỏ giọt sương đông.

 

Thân như ánh chớp lóe lên rồi tắt, sống trên đời vài mươi năm rồi lại ra đi. Nhất tức bất hồi thiên thu vĩnh biệt, mạng sống chỉ trong hơi thở, một hơi thở ra không hít vào là từ giã cuộc đời. Vạn vật bên ngoài cũng vô thường như thế, xuân đến trăm hoa đua nở, mùa thu đã tàn tạ héo úa rồi. Không những vô thường theo năm tháng, mà trong từng sát-na, các pháp luôn thay đổi chuyển dịch. Không những cõi Người bị vô thường chi phối, mà cả sáu cõi ba đường đều sinh sinh diệt diệt không dừng nghỉ. Hiểu rõ vô thườngquy luật tất yếu của cuộc sống, người tu không còn động tâm trước cảnh thăng trầm thịnh suy, vì tất cả chỉ như giọt sương trên lá. Các Thiền sư tự tại trước sinh tử, xem như đắp chăn đông cởi áo hạ, chính vì thẩm thấu đến tột cùng lý Vô thường; và cũng vì các Ngài thấy rõ, trong vô thường biến động có cái chân thường bất biến, tuy các pháp là huyễn mà luôn ở trong Như.

 

Thật ra, lý Như-Huyễn Phật dạy rất sâu mầu, không thể chỉ vận dụng tư duy mà hiểu thấu. Nhờ công phu Thiền tập, quán chiếu sự duyên sinh, vô thườngtự tánh Không của thân tâm cảnh, dần dần ta mới có thể hội được đôi phần. Một người mắt nhặm, nhìn ra nắng thấy hoa đốm loạn xạ trong hư không. Hoa đốm thật có hay thật không? - Do mắt nhặm nên cho là có sanh ra, thật sự chỉ là huyễn sanh. Vì huyễn sanh nên huyễn diệt. Năm uẩn của con người và mọi pháp trong vũ trụ cũng như vậy. Chính lý trùng trùng duyên khởi của Hoa-Nghiêm cho ta thấy sự sinh khởihoại diệt huyễn mộng của pháp giới. Sự giả huyễn này là vô cùng vô tận, sinh sinh hóa hóa không có ngày cùng.

 

Lại nữa, nhờ quán sát kỹ mọi pháp hữu vi đều là mộng huyễn, là bóng bọt, là sương mù điện chớp, như lời Phật dạy trong kinh Kim Cang, ta mới lần lần cảm nhận sự hư ảo bất thực của chúng. Khi đọc kinh hay nghe giảng, chúng ta dễ dàng hiểu ý Phật Tổ muốn chỉ dạy điều gì, ngay cả những điều khó tin khó hiểu. Tuy nhiên, từ hiểu biết đến hành trì có kết quả là một chặng đường rất dài và rất đỗi gian nan. Chưa nói đến từng sát-na sinh diệt của tâm mà chỉ Phật trí mới thấu suốt, đối với những niệm vi tế, nếu không có sự tỉnh giác thường trực thì ta cũng đã bị chúng dẫn lôi rồi. Đây là lý do khiến chúng ta phải miên mật công phu, theo dõi từng biến chuyển của thân tâm, nhận diệnvô hiệu hóa chúng bằng chánh niệm.

 

Tiến thêm một bước, hành giả nên tự hỏi rằng: “Thân tâm cảnh đều là pháp huyễn, vậy các pháp huyễn này lấy gì làm chỗ sở quy? “- Chỗ sở quy ấy là bản tâm chân thật bất sanh bất diệt của chính mình. Bản tâm ấy là tự thể của mọi huyễn thân, huyễn tâm và huyễn cảnh, nên các pháp tuy huyễn mà vẫn ở trong Như tánh. Chỉ khi nào hành giả ở trong trạng thái vô tâm hoặc trong Như-Huyễn tam-muội, mới hoàn toàn quán triệt lý Như-Huyễn. Và chính Như-Huyễn tam-muội là phương tiện thù thắng để hành giả trực nhận bản tâm. Dó đó, tu là phải khéo ở trong Huyễn mà nhận ra Như, từ đó phát khởi đại nguyện Như-huyễn, vận dụng thân tâm Như-huyễn, thi thiết mọi phương tiện Như-huyễn, độ tận chúng sanh Như-huyễn. Và cuối cùng, thành Phật Như-huyễn, an trú trong Niết-bàn Như-huyễn. Thế gian đã huyễn mộng thì Niết-bàn thật có được sao?

 

* Chương Phổ-Hiền trong kinh Viên-Giác, Đức Phật dạy rất kỹ về lý Như-Huyễn, trong đó có hai cách tu tùy trình độ căn cơ của hành giả:

 

Đối với bậc thượng căn đốn ngộ, bằng trực giác Bát-Nhã, các Ngài nhận ra các pháp đều huyễn, tức thì lìa huyễn mà không kinh qua thứ lớp tu tập. Lìa các pháp huyễn nhưng không sanh tâm trên nó, ngay đó là giác chứ không theo cấp bậc (Tri huyễn tức ly bất tác phương tiện, Ly huyễn tức giác diệc vô tiệm thứ). Khi biết rõ ràng các pháp mà nội tâm vẫn bất động, đây là cái Biết của tự tánh. Biết huyễn tức lìa huyễn, lìa huyễn liền là Giác.

 

Đối với chúng sanh căn cơ bậc trung và hạ, Đức Phật từ bi lập bày phương tiện tiệm thứ, phá hết lớp này đến lớp khác cho đến tận cùng gốc rễ chấp trước của chúng sanh: Sáu căn là huyễn, sáu trần là huyễn, thức tâm phân biệt cũng là huyễn nên phải xa lìa: đây là giai đoạn thứ nhất. Đến cái tâm biết về sự xa lìa này vẫn là huyễn, cũng phải xa lìa: đây là giai đoạn thứ hai. Giai đoạn thứ ba, Phật gọi là “lìa cái xa lìa huyễn”, tức niệm vi tế về cái tâm xa lìa này, cũng còn là huyễn, do vậy cũng phải buông sạch. Các huyễn diệt hết, hành giả bặt hết vọng niệm, từ thô đến tế, nhưng không rơi vào trạng thái ngoan không, mà cái “liễu liễu thường tri” rõ ràng hiện bày, như mây tan trăng hiện. Lúc này, hành giả an nhiên tự tại trong dòng đời, làm ngược làm xuôi không xa rời tự tánh, dạo chơi các cõi mà vẫn ở trong chánh định. Tế-Điên Hòa-thượng nửa thực nửa hư là hình ảnh sống động của một người đạt đạo, thanh thản vân du đây đó, tùy duyên hóa độ chúng sanh:

 

Người bảo Ngài điên, Ngài chẳng điên

 

Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền

 

Hóa độ chúng sanh phiền não dứt

 

Đường trần thanh thản bước thần tiên



____________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 130)
28 Tháng Hai 2020(Xem: 1059)
14 Tháng Bảy 202010:23 SA(Xem: 36)
Hoa Trôi Trên Sóng Nước là cuốn sách nói về cuộc hành trình tìm đạo đầy gian khổ kéo dài hơn 40 năm của tác giả. Khi tạp chí Phật học Kyosho vừa khởi động loạt hồi ký này vào năm 1956, nó đã được các độc giả, nhất là độc giả phái nữ, say mê theo dõi. Lòng nhiệt thành và quyết tâm tìm đạo của bà là một tấm gương sáng cho tất cả
13 Tháng Bảy 20209:41 CH(Xem: 36)
Kính Thầy! Con xuất giatu học bên Bắc Tông. Trước đây con đã nghĩ đơn giản Nam TôngTiểu thừa, Bắc TôngĐại thừa; Nam Tông ăn mặn, Bắc Tông ăn chay; Nam Tông tụng kinh tiếng Pali không hiểu được, Bắc Tông tụng kinh tiếng Việt có vẻ thực tế hơn. Con không tìm hiểu thấu đáo mà còn cho rằng mình thật có phước,
08 Tháng Bảy 20209:02 CH(Xem: 132)
"Tôi nghĩ rằng chúng ta nên nhấn mạnh đến sự đồng nhất, sự giống nhau ... nhấn mạnh đến điều đó", nhà sư đoạt giải Nobel Hòa bình nói. Đôi khi, ông nói, chúng ta đặt nặng quá nhiều vào "sự khác biệt nhỏ" và "điều đó tạo ra vấn đề". ("I think we should emphasize oneness, sameness...emphasize that," says the Nobel Peace Prize winning monk.
07 Tháng Bảy 202010:00 CH(Xem: 209)
Trong thế giới chúng ta sống hôm nay, các quốc gia không còn cô lập và tự cung cấp như xưa kia. Tất cả chúng ta trở nên phụ thuộc nhau nhiều hơn. Vì thế, càng phải nhận thức nhiều hơn về tính nhân loại đồng nhất. Việc quan tâm đến người khác là quan tâm chính mình. Khí hậu thay đổi và đại dịch hiện nay, tất cả chúng ta bị đe doạ,
05 Tháng Bảy 20208:28 CH(Xem: 241)
Tâm biết có hai phương diện: Tánh biết và tướng biết. Tánh biết vốn không sinh diệt, còn tướng biết tuỳ đối tượng mà có sinh diệt. Khi khởi tâm muốn biết tức đã rơi vào tướng biết sinh diệt. Khi tâm rỗng lặng hồn nhiên, tướng biết không dao động thì tánh biết tự soi sáng. Lúc đó tánh biết và tướng biết tương thông,
04 Tháng Bảy 20202:37 CH(Xem: 218)
Từ yoniso nghĩa là sáng suốt, đúng đắn. Manasikāra nghĩa là sự chú ý. Khi nào chú ý đúng đắn hợp với chánh đạo, đó là như lý tác ý; khi nào chú ý không đúng đắn, hợp với tà đạo, đó là phi như lý tác ý. Khi chú ý đến các pháp khiến cho năm triền cái phát sanh là phi như lý tác ý, trái lại khi chú ý đến các pháp mà làm hiện khởi
03 Tháng Bảy 20207:32 CH(Xem: 213)
Trước hết cần xác định “tác ý” được dịch từ manasikāra hay từ cetanā, vì đôi lúc cả hai thuật ngữ Pāli này đều được dịch là tác ý như nhau. Khi nói “như lý tác ý” hoặc “phi như tác ý” thì biết đó là manasikāra, còn khi nói “tác ý thiện” hoặc “tác ý bất thiện” thì đó là cetanā. Nếu nghi ngờ một thuật ngữ Phật học Hán Việt thì nên tra lại
02 Tháng Bảy 20206:13 CH(Xem: 268)
Bạn nói là bạn quá bận rộn để thực tập thiền. Bạn có thời gian để thở không? Thiền chính là hơi thở. Tại sao bạn có thì giờ để thở mà lại không có thì giờ để thiền? Hơi thở là thiết yếu cho đời sống. Nếu bạn thấy rằng tu tập Phật pháp là thiết yếu trong cuộc đời, bạn sẽ thấy hơi thởtu tập Phật pháp là quan trọng như nhau.
01 Tháng Bảy 20205:53 CH(Xem: 275)
Khi con biết chiêm nghiệm những trải nghiệm cuộc sống, con sẽ thấy ra ý nghĩa đích thực của khổ đau và ràng buộc thì con sẽ có thể dễ dàng tự do tự tại trong đó. Thực ra khổ đau và ràng buộc chỉ xuất phát từ thái độ của tâm con hơn là từ điều kiện bên ngoài. Nếu con tìm thấy nguyên nhân sinh khổ đau ràng buộc ở trong thái độ tâm
30 Tháng Sáu 20209:07 CH(Xem: 264)
Cốt lõi của đạo Phật khác với các tôn giáo khác ở chỗ, hầu hết các tôn giáo khác đều đưa ra mục đích rồi rèn luyện hay tu luyện để trở thành, để đạt được lý tưởng nào đó. Còn đạo Phật không tu luyện để đạt được cái gì cả. Mục đích của đạo Phậtgiác ngộ, thấy ra sự thật hiện tiền tức cái đang là. Tất cả sự thật đều bình đẳng,
29 Tháng Sáu 20208:36 CH(Xem: 259)
Theo nguyên lý thì tụng gì không thành vấn đề, miễn khi tụng tập trung được tâm ý thì đều có năng lực. Sự tập trung này phần lớn có được nhờ đức tin vào tha lực. Luyện bùa, trì Chú, thôi miên, niệm Phật, niệm Chúa, thiền định, thần thông v.v… cũng đều cần có sức mạnh tập trung mới thành tựu. Tưởng đó là nhờ tha lực nhưng sức mạnh
28 Tháng Sáu 20209:36 CH(Xem: 270)
Giác ngộvô minh thì thấy vô minh, minh thì thấy minh… mỗi mỗi đều là những cái biểu hiện để giúp tâm thấy ra tất cả vốn đã hoàn hảo ngay trong chính nó. Cho nên chỉ cần sống bình thường và thấy ra nguyên lý của Pháp thôi. Sự vận hành của Pháp vốn rất hoàn hảo trong những cặp đối đãi – tương sinh tương khắc – của nó.
27 Tháng Sáu 20206:31 CH(Xem: 271)
Thầy có ví dụ: Trong vườn, cây quýt nhìn qua thấy cây cam nói nói tại sao trái cam to hơn mình. Và nó ước gì nó thành cây cam rồi nó quên hút nước và chết. Mình thường hay muốn thành cái khác, đó là cái sai. Thứ hai là mình muốn đốt thời gian. Như cây ổi, mình cứ lo tưới nước đi. Mọi chuyện hãy để Pháp làm. Mình thận trọng,
26 Tháng Sáu 20209:57 CH(Xem: 250)
Từ đó tôi mới hiểu ý-nghĩa này. Hóa ra trong kinh có nói những cái nghĩa đen, những cái nghĩa bóng. Có nghĩa là khi một người được sinh ra trên thế-gian này, dù người đó là Phật, là phàm-phu, là thánh-nhân đi nữa, ít nhất đầu tiên chúng ta cũng bị tắm bởi hai dòng nước, lạnh và nóng, tức là Nghịch và Thuận; nếu qua được
25 Tháng Sáu 202010:14 CH(Xem: 301)
trí nhớ là tốt nhưng đôi khi nhớ quá nhiều chữ nghĩa cũng không hay ho gì, nên quên bớt ngôn từ đi, chỉ cần nắm được (thấy ra, thực chứng) cốt lõi lý và sự thôi lại càng tốt. Thấy ra cốt lõi tinh tuý của sự thật mới có sự sáng tạo. Nếu nhớ từng lời từng chữ - tầm chương trích cú - như mọt sách rồi nhìn mọi sự mọi vật qua lăng kính
24 Tháng Sáu 202010:08 CH(Xem: 298)
Kính thưa Thầy, là một người Phật Tử, mỗi khi đi làm phước hay dâng cúng một lễ vật gì đến Chư Tăng thì mình có nên cầu nguyện để mong được như ý mà mình mong muốn không? Hay là để tâm trong sạch cung kính mà dâng cúng không nên cầu nguyện một điều gì? Và khi làm phước mà mong được gieo giống lành đắc Đạo quả
23 Tháng Sáu 20207:24 CH(Xem: 327)
Tất cả chúng ta sẽ phải đối mặt với cái chết, vì vậy, không nên bỏ mặc nó. Việc có cái nhìn thực tế về cái chết của mình sẽ giúp ta sống một đời trọn vẹn, có ý nghĩa. Thay vì hấp hối trong sự sợ hãi thì ta có thể chết một cách hạnh phúc, vì đã tận dụng tối đa cuộc sống của mình. Qua nhiều năm thì cơ thể của chúng ta đã thay đổi.
22 Tháng Sáu 20209:23 CH(Xem: 353)
Đúng là không nên nhầm lẫn giữa luân hồi (saṃsāra) và tái sinh (nibbatti). Tái sinh là sự vận hành tự nhiên của vạn vật (pháp hữu vi), đó là sự chết đi và sinh lại. Phàm cái gì do duyên sinh thì cũng đều do duyên diệt, và rồi sẽ tái sinh theo duyên kế tục, như ví dụ trong câu hỏi là ngọn lửa từ bật lửa chuyển thành ngọn lửa
21 Tháng Sáu 20208:58 CH(Xem: 301)
Trong Tăng chi bộ, có một lời kinh về bản chất chân thật của tâm: “Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào” cùng với ý nghĩa “cội nguồn” của “yoni” trong “yoniso mananikara” là hai y cứ cho tựa sách “Chói sáng cội nguồn tâm”. Tựa đề phụ “Cách nhìn toàn diện hai chiều vô vihữu vi của thực tại”
20 Tháng Sáu 20203:42 CH(Xem: 369)
Trong tu tập nhiều hành giả thường cố gắng sắp đặt cái gì đó trước cho việc hành trì của mình, như phải ngồi thế này, giữ Tâm thế kia, để mong đạt được thế nọ… nhưng thật ra không phải như vậy, mà là cứ sống bình thường trong đời sống hàng ngày, ngay đó biết quan sát mà thấy ra và học cách hành xử sao cho đúng tốt là được.
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1300)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2870)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4381)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 95)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 78)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 90)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 683)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 678)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 791)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 1105)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 1304)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 1175)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.