Tham Vấn Nhập Thất, Và Những Lời Dạy Của Sư Ông Thích Thanh Từ

18 Tháng Tám 201710:50 SA(Xem: 8641)
Tham Vấn Nhập Thất, Và Những Lời Dạy Của Sư Ông Thích Thanh Từ
 
 ThamVanNhapThat_1A
 
 
Tham Vấn Nhập Thất
Và Những Lời Dạy Của Sư Ông Thích Thanh Từ
Như Đức
Nguồn: vienchieu.org
 
___________________

 

 

1. MUỐN TU THEO LỐI NHẬP THẤT PHẢI CÓ NHỮNG ĐIỀU KIỆN GÌ? NGƯỜI MỚI TẬP NHẬP THẤT THÌ MỖI THẤT LÀ BAO LÂU?

 

Nhập thất là khép cái tâm dong ruổi và cái thân dao động của mình trong một giới hạn nghiêm nhặt. Thông thường muốn nhập thất, chúng ta phải có thời gian chuẩn bị. Chuẩn bị về điều kiện bên ngoài, như có một nơi ổn định, một cái thất có sân thoáng chung quanh là tốt nhất, hoặc không thì phải có một phòng riêng. Trong thời gian nhập thất, chúng ta không tiếp xúc bên ngoài, vật dụng cá nhân chuẩn bị đầy đủ, mọi sự giao tế hẹn hò về công việc làm ăn đều phải giải quyết dứt điểm. Không để điện thoại hoặc tivi, cassette... trong thất. Cứ coi như mình không liên hệ gì với ai, mình đang ở một mình, chỉ có mình và cái tâm đang hạ thủ tu tập thôi.

 

Muốn nhập thấthiệu quả, trước đó nên tập có tâm thư giãn, buông bỏ. Không nôn nóng và không bận lòng với bất cứ việc gì. Tránh xem phim ảnh hoặc tiếp xúc với mọi đám đông người trước đó một hai hôm. Như là đem cái tâm mình ra dọn dẹp, chùi rửa sạch.

 

Mới tập nhập thất, thời gian tốt nhất là một tuần. Cần có một người hộ thất. Người hộ thất là người trong chỗ thân tình, biết rõ sức khỏethói quen sinh hoạt của mình. Người hộ thất không cần gặp mỗi ngày, nhưng biết những gì chúng ta cần để giúp đỡ. Tập nhập thất cũng là tập lối sống độc cư, giảm thiểu mọi ràng buộc về tiện nghi bên ngoài, nên càng đơn giản càng tốt. Chọn thời gian thích hợp như thời gian nghỉ phép trong năm. Và nếu cảm thấy sức khỏe đầy đủ chúng ta có thể bắt đầu. Thân và tâm an ổn, có một nơi chốn thích hợp, và nghĩ rằng trong thời gian nhập thất, mình sẽ cố gắng quay về nhìn rõ chính mình, lợi dụng thời gian không bị ai quấy rầy, không bận lo công việc, để chỉ tu tập cho được khít khao. Chỉ một việc đó thôi, không cần tính toán thêm làm gì.

 

 

___________________

 

  

2. TRONG KHI Ở THẤT, NẾU NGOẠI CẢNH BẤT LỢI ĐƯA ĐẾN THÌ PHẢI LÀM SAO?

 

Trong khi nhập thất, nếu ngoại cảnh bất lợi đưa đến thì phải làm sao? Ngoại cảnh bất lợi có nhiều mức độ. Nếu tình trạng về an ninh như bị hỏa hoạn, lụt lội... thì phải xả thất, dời chỗ.

 

Nếu công việc đòi hỏi phải có mặt để giải quyết, không thể tránh được thì cũng phải xả thất.

 

Nếu công việc giải quyết gọn trong một hai hôm thì có thể vào thất lại. Không nghĩ nhớ chuyện đã qua.

 

Phương châm ở trong thất là: “Không nghĩ nhớ quá khứ, không suy tính tương lai, chỉ có hiện tại tỉnh giác”. Còn như bệnh ngặt nếu không thể quyết tử, thì xả thất đi trị bệnh. Điều cần thiết là cái tâm của mình đối với ngoại cảnh ấy. Nếu tâm mình thấy bình thường thì cứ nhập.

 

 

___________________

 

  

3. TRONG KHI Ở THẤT, NẾU NỘI TÂM BẤT AN NHƯ VỌNG TƯỞNG KHÔNG GIẢM MÀ TĂNG THÌ PHẢI LÀM SAO?

 

Vọng tưởng trước hết là những hình ảnh, những suy tư của mình, những điều ngủ ngầm trong tiềm thức. Khi vào thất chúng có cơ hội tuôn ra, nên dường như vọng tưởng tăng, nhưng không phải tăng. Chúng vẫn luôn luôn có mặt, chỉ tại mình không để ý thôi. Người khéo điều phục khi vọng tưởng dấy lên nhiều, chỉ nhìn chúng và cười: “Mầy đấy à!”. Không lo sợ hoặc tìm cách đè nén, vì như thế càng làm tăng tình trạng bất an. Có thể dùng phương pháp đối trị bằng hơi thở. Vọng tưởng, bất an hoặc tâm lý sôi nổi, chỉ cần hít vào thật sâu, thở ra dài (bằng mũi) hoặc chú tâm vào hơi thở một vài lần, vọng tưởng sẽ nhẹ nhàng.

 

Chỉ cần không có tâm lo sợ và quan trọng đối với vọng tưởng, xem nó như hình bóng chiếu trên màn ảnh, hình ảnh trong film không có thật, bóng dáng không có thật. Biết vọng tưởng như thế, tâm sẽ tự an ổn. Hoặc có khi tri vọng, chăn trâu nhức đầu, có thể đi dạo vài vòng trong sân, thư giãn và mọi việc sẽ qua.

 

 

___________________

 

  

4. TRONG KHI Ở THẤT NẾU BỊ BỆNH VỀ THÂN VÀ TÂM NHIỀU THÌ PHẢI LÀM SAO? THÍ DỤ: VỀ THÂN THÌ BỆNH, CÒN VỀ TÂM THÌ THẤY BUỒN, CHÁN V.V...

 

Thân và tâm luôn luôn có ảnh hưởng với nhau. Tâm lo nghĩ về việc nhập thất, dự tính mình nhập thất sẽ được những gì, sẽ bớt phiền não... Lo nghĩ nhiều thì thân sanh bệnh. Ngược lại ở trong thất nếu không biết điều hòa về thân để phát sanh bệnh thì tâm theo đó cũng bị ảnh hưởng.

 

Nếu khi thân bệnh, để ý quán sát, nếu là bệnh cũ tái phát thì uống thuốc điều trị. Nếu do thân không khéo điều hòa, thì điều chỉnh chế độ ăn uống, tọa thiền nhiều lần, lạy sám hối khéo léo vận chuyển hơi thở, hít thở sâu để trị bệnh. Cứ nghĩ rằng dù có nhập thất hay không nhập, thân mình là vô thường thì ráng tu, dù bệnh cũng có công phu trong khi bệnh, không chán nản.

 

Còn tâm đầy ý nghĩ buồn chán, xem đó là một loại vọng tưởng. Đang buồn chán biết mình buồn chán. Quan sát sâu, nhìn kỹ, coi nỗi buồn chán như một trò chơi của tâm. Thật ra tâm mình hay bày ra nhiều trò chơi, buồn vui cũng chỉ là như vậy. Kiên trì nhìn lâu sẽ thấy tu là vui, không buồn chán.

 

 

___________________

 

 

5. THƯỜNG THƯỜNG Ở TRONG THẤT CÓ ĐẶT RA THỜI KHÓA KHÔNG? NẾU CÓ THÌ THỜI KHÓA THÔNG THƯỜNG RA SAO?

 

Thời khóa trong thất như một ngày bình thường của người tu, gia thêm nhiều giờ ngồi thiền.

 

          Khuya: 3g kém 15' - Thức dậy.

          3g đến 5g - Tọa thiền.

                  

Xả thiền, xoa bóp kỹ, đi kinh hành, tập thể dục... Có nhiều vị sau một đoạn xả thiền ngắn, có thích ngồi thêm đến 7g sáng cũng tốt. Thời gian trong thất tùy mình sắp đặt, phù hợp với thói quen và tâm trạng của mình.

 

          6g30' - Dùng sáng.

          7g đến 8g30' - Lao động tay chân.

          9g đến 10g - Thời sám hối sáu căn.

                  

Sau đó có thể đi kinh hành hoặc ngồi yên để nhìn lại tâm mình.

 

          11g - Dùng cơm trưa.

                  

Sau giờ cơm trưa, ngủ nghỉ nửa tiếng.

 

          Chiều: Từ 2g đến 4g - Tọa thiền

                  

Có thể tăng giờ ngồi thiền buổi chiều. Nếu không ngồi lâu được, xả một chút rồi ngồi tiếp. Hoặc xả thiền đi kinh hành, ngồi yên nơi ghế, hoặc làm việc gì cũng không rời tâm niệm, làm gì biết mình đang làm.

 

          5g - Dùng cháo, sữa, bột...

          6g30' - Thời sám hối sáu căn.

          7g30' đến 9g30'- Ngồi thiền và ngủ.

 

 

___________________

 

 

6. XIN HOAN HỶ CHO BIẾT THÔNG THƯỜNG NHỮNG SINH HOẠT Ở THẤT NHƯ THẾ NÀO? NHƯ LAO ĐỘNG HOẶC THỂ DỤC, NGỒI THIỀN, TỤNG KINH, HỌC KINH, ĐỌC SÁCH CÓ CẦN THIẾT KHÔNG?

 

Sinh hoạt trong thất như câu số 5 vừa nêu. Cần lao động ở ngoài trời khoảng một tiếng để vận động tay chân. Tập thể dục cũng tốt, trong khoảng nửa tiếng. Đó là phần điều hòa cơ thể. Ngoài ra không nghe tape, đọc sách nhiều. Chỉ lạy sám hối sáu căn, ngày có thể ba thời. Không tụng kinh bộ. Nhập thất theo thiền tông chủ yếu dành hết thì giờ xoay lại chính mình, nếu làm việc khác dù tụng kinh, đọc sách dễ tán tâm. Nếu nhập thất lâu - trên một tháng - có thể đọc thêm kinh Lăng Nghiêm hoặc Pháp Bảo Đàn, một vài quyển kinh sách của Hòa Thượngliên quan đến lối tu của mình. Ngoài ra, không đọc sách khác. Dồn mọi suy tư và thói quen nhìn bên ngoài vào trong. Chú tâm vào từng động tác, hơi thở, tâm vừa rong chạy là kéo trở lại, tự nhắc, tự hỏi mình, nhiều hơn là đọc sách duyên bên ngoài.

 

 

___________________

 

 

7. KHI Ở THẤT TU CÓ THƯỜNG GẶP NHỮNG CẢNH HOẶC HIỆN TƯỢNG LẠ KHÔNG? NHỮNG CẢNH HOẶC HIỆN TƯỢNG LẠ ĐÓ LÀ GÌ? KHI GẶP PHẢI LÀM SAO ĐỐI PHÓ?

 

Khi nhập thất do sự chuyên chú nỗ lực, tâm sẽ có nhiều biến chuyển. Những biến chuyển ấy hiện thành biến tướng bên ngoài. Nếu hiện tượng lạ xảy ra, đều biết từ tâm mình hiện, không quan tâm đến thì mọi việc sẽ qua. Cần nhất đừng khởi tâm mừng, giận, lo sợ, mong muốn trên các hiện tượng.

 

Có nhiều vị nhập thất lâu, nghe được tiếng động từ xa, thấy ánh sáng, thấy hình ảnh cách vách. Hoặc thân nhẹ nhàng, hoặc chợt làm thơ, văn chương từ ngữ tuôn chảy. Đây là những biến tướng thông thường. Biến tướng nhiều hơn cần đọc kỹ kinh Lăng Nghiêm, phần Phật chỉ dạy về 50 thứ ma ngũ ấm, và đọc “Mười điều biện ma” của Thượng tọa Nhật Quang. Đọc kỹ “Yếu Chỉ Thiền Tông” của Hòa Thượng Viện Trưởng Trúc Lâm, phần “Phương pháp tọa thiền” có dạy đủ về cách đối trị này.

 

Chỉ cần thiết giữ tâm an tĩnh, không xao động, thì dù hiện tượng lạ mấy cũng không nao núng. Nếu có vị thiện tri thức một bên thì đem thưa hỏi ngay.

 

 

___________________

 

 

8. XIN HOAN HỶ CHO BIẾT SỰ KHÁC NHAU GIỮA TU THEO LỐI NHẬP THẤT, TU THEO CHÚNG VÀ TU TẠI GIA NHƯ THẾ NÀO?

 

Sự khác nhau giữa người trong thất, người trong chúng, người tại gia:

 

Người trong thất tu một mình, các duyên chung quanh đều dứt, không bận tâm điều gì, có nhiều thời giờ để quay trở về chính mình. Hòa Thượng nói: “Chỉ cần nhập thất miên mật khoảng ba tháng là có tin tức tốt”. Tin tức tốt ở đây là tự khám phá được cái linh diệu nơi mình. Người trong thất có nhiều cơ hội ngồi thiền, tâm an lạc, không bị ai quấy nhiễu nên dường như khôngphiền não, thấy mình tu tiến. Đó là điều khích lệ cho người tu, vì được những giây phút khinh an, tâm trí rỗng lặng, hiểu được lời kinh ý Tổ, có niềm vui trong khi ngồi thiền. Càng ở yên lâu, có dịp thấy được vọng tưởng, tập khí sâu kín, dần dần khám phá những điều chưa biết về mình.

 

Tuy nhiên, nhập thất lâu không phải là cứu cánh. Cái nhận được trong thất phải đem ra ngoài ứng dụng. Trong khi tiếp xúc, gặp nghịch cảnh bên ngoài, cái an lạc của mình có còn không? Nhập thất lâu sanh tâm ưa thích cảnh tịnh, thích được ở yên hoài cũng là bệnh. Tu hành phải khéo sắp đặt, có lúc ở thất, có lúc ở chúng.

 

Tu với chúng, trong một tập thể, sẽ có nhiều va chạm và nhiều học hỏi. Tập thích nghi với mọi người, tập chịu đựngnhẫn nhục. Đó là lối tu trong động. Phát triển được khả năng làm lợi ích cho cộng đồng. Vì gẫm ra chúng ta sinh ra là để giúp ích cho mọi người chứ không phải ngồi yên trong thất. Khi tâm có an lạc và niềm vui, chúng ta dễ vượt qua những bực bội, phiền não. Và cái đó mới là cái chất thật của mình.

 

Chúng ta sẽ học được những cái hay và những cái dở từ chúng bạn. Luôn phát triển tâm từ, tâm hỷ xả và có dịp tiếp cận, an ủi, chia xẻ với bạn bè trong chúng. Có những vị Cổ Đức suốt đời làm việc chúng mà vẫn thành tựu công hạnh của mình. Nhất là khi làm việc, khi phụng sự đại chúng, bản ngã của chúng ta được mài giũa, và tập quên mình trong đại chúng.

 

Thường chư Tổ hay quán sát căn cơ. Người ưa thích yên tĩnh được khuyến khích tu với chúng. Người lăng xăng loạn động được khuyến khích vào thất để tâm tĩnh dần.

 

Người tu tại gia khó hơn hai lối tu với chúng và tu trong thất, nhưng nếu hạ thủ được thì sức rất mạnh, gọi là “Múa gươm ra trận vẫn giữ được chánh định”. Người tại gia có hai bổn phận: một là với gia đình, hai là với xã hội. Trong gia đình giữ được an vui, hòa nhã. Chuyện tu hành của mình đừng biến nó thành một vấn đề trở ngại. Tu tùy duyên, giữ được bản lĩnh của mình. Mọi việc khó khăn, rắc rối đều giải quyết êm đẹp. Thái độ của một người tu tại gia rất quan trọng, có ảnh hưởng đến thân quyến của mình. Nếu người tại gia càng lúc càng thấy khỏe khoắn, buông bớt chấp trước, lúc nào cũng bình an, thì người thân trong gia đình càng có niềm tin với mình.

 

Quan trọng là biết tọa thiền, biết điều chỉnh những vọng niệm của mình trước mọi sự việc bất ngờ. Nếu có trách nhiệm về mọi vấn đề tài chánh, lo việc học hành cho con... thì nên làm tròn bổn phận của mình một cách vui vẻ. Đừng lấy lý do bận tu mà bỏ lơ trách nhiệm. Điều này rất thất bại. Hòa Thượng có dạy vấn đề qua tape “Tu trong mọi hoàn cảnh” rất hữu ích cho quý vị tại gia.

 

 

___________________

 

 

9. TRƯỜNG HỢP PHẬT TỬ TẠI GIA MUỐN TU THEO LỐI NHẬP THẤT PHẢI CHUẨN BỊ NHƯ THẾ NÀO CHO CÓ KẾT QUẢ?

 

Người cư sĩ tại gia có nhiều ràng buộc và bổn phận hơn tu sĩ. Muốn nhập thất trước hết phải nghiên cứu về cách dụng công trong thất, thử xem mình có thích hợp không? Cách sống trong thất là yên lặng một mình, không làm việc lăng xăng. Chuẩn bị tư tưởng để biết rằng mình sẽ trải qua bảy ngày hay nửa tháng chỉ có một mình đối mặt với chính mình. Nếu thấy mình có niềm vui, có thể hứng khởi được trong cách sống đó thì tiếp tục chương trình. Sắp đặt việc nhà, sắp đặt mọi việc giao dịch chung quanh, sao cho trong thời gian nhập thất không có việc nào cần đến sự có mặt của mình. Cứ tưởng như mình có việc phải đi đâu xa trong một thời gian, hoặc mạnh hơn, nghĩ rằng nếu mình chết. Tập cắt đứt lần mọi suy tính, mọi liên hệ. Khi vào thất với một cái tâm trống trơn không nghĩ Đông, nghĩ Tây.

 

Cũng cần một người hộ thất hiểu ý mình, hoặc con cháu, người thân là tốt nhất. Cần việc gì dặn người hộ thất. Một ngày có thể cho người hộ thất vào gặp một lần. Nhập thất không phải là tịnh khẩu, nhưng không nên nói nhiều, vì nói nhiều sẽ tán khí và mất thời giờ. Những việc gì quan trọng cho việc tu trong thất thì nói, ngoài ra không hỏi thăm việc gia đình vô ích. Cũng giữ thời khóa nghiêm nhặt như người xuất gia. Không khởi tâm mong cầu thấy hiện tượng lạ, hay tu mau chứng đắc. Chỉ bình tĩnh sống từng phút giây hiện tại, vọng tưởng nhào đến biết là vọng tưởng; vọng tưởng mạnh thì cột tâm vào hơi thở... Tất cả những niệm nghĩ về con cháu, về gia đình, về công việc đều đem để trước mặt, quán sát tới lui, và luôn có ý thức rằng mình chỉ sống tạm trong một thời gian, trong một gia đình như thế, không có gì bền chắc lâu dài để buông tâm lo tính.

 

Các vị tại gia, nếu đã được nghe Hòa Thượng chỉ dạy qua băng từ hay đọc sách thì thâm nhập lời dạy, dễ điều phục tâm hơn. Vị nào chưa được nghe, cần phải học hỏi trước khi chọn thời gian nhập thất. Tốt nhất là có một vị Thầy rành rẽ chỉ dạy. Còn như buồn phiền, có thân bệnh, tâm bệnh không nên vào thất lâu, sợ có biến chứng.

 

 

___________________

 

 

10. XIN QUÝ THẦY (CÔ) HOAN HỶ CHO BIẾT ĐÃ THEO TU HỌC VỚI HÒA THƯỢNG ĐƯỢC BAO LÂU RỒI? ĐÃ TỪNG VÀO THẤT ĐƯỢC MẤY LẦN? MỖI LẦN BAO LÂU? CÓ NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ NHỮNG KẾT QUẢ TỐT NÀO? XIN TỪ BI HOAN HỶ NÓI VỀ NHỮNG KINH NGHIỆM NHẬP THẤT ĐỂ CHÚNG CON HỌC.

 

Chúng tôi tu học với Hòa Thượng từ năm 1974. Có nhiều đợt nhập thất. Lần lâu nhất là một năm. Cũng có những vị hai ba năm. Những khó khăn xảy ra tùy theo tâm trạng và sức khỏe của mỗi người. Lần nhập thất một năm vào khoảng 1980, lúc đó thiền viện còn nhiều khoảng cây rừng và đất trống. Đời sống đơn giản, chúng tôi ít khách viếng thăm và không có nhiều vấn đề giao tiếp. Thời gian đó nhập thất rất tốt. Chúng tôi theo thời khóa bình thường, như đã kể trong câu số 5. Có nhiều thì giờ để đi kinh hành trong khoảng đất trống, cây rừng quanh thất. Thất nằm gần khu vực của chúng, nhưng coi như không liên hệ gì, vì người trong thất được quyền độc lập, không chú ý đến ai. Thời gian đầu mới vào thất rất khó chú tâm, chỉ một chút xíu là đã dong ruổi. nhưng cứ kiên trì mỗi ngày, dù đang làm gì, nhổ cỏ vườn, đi kinh hành hay ngồi chơi một mình luôn luôn nhìn ngó tâm mình. Vì đã được học với Hòa Thượng đầy đủ nên chúng tôi ít xem kinh, chỉ đọc một bộ “Lăng Già Tâm Ấn” thôi. Khoảng hơn ba tháng thì bắt gặp được lúc niệm dong ruổi vừa khởi. Từ đó công phu dễ dàng dần, niệm khởi chỉ cần quở nhẹ; nhưng tập khí cũ, hình ảnh xa xưa lũ lượt triền miên. Càng phải gia tăng thời gian chăn dắt, thức thêm vào trong đêm, hoặc khuya dậy sớm; vẫn thấy an ổn và không mệt nhọc; dù ít ngủ vẫn tỉnh táo. Đủ thứ tâm niệm hiện khởi, khi buồn, khi vui, khi mong được ngộ đạo thấy tánh, khi tính toán... Chỉ có khó khăn về nội tâm chứ không bị ngoại cảnh quấy rầy. Niềm tin dần thuần thục. Đó là thời gian thích hợp để thâm nhập lời Phật dạy một cách dễ dàng, không bị cưỡng ép.

 

Cho đến khi gần ra thất, vì lo lắng, tính tìm chỗ nhập thêm, tránh cảnh... nên đau một trận; nhưng đó là lần nhập thất thoải mái. Những kinh nghiệm của các lần nhập thất sau đều từ đó.

 

Chúng tôi được nuôi dưỡng lâu ngày trong chánh pháp của Hòa Thượng, có bè bạn nhập thất được nhiều điều tốt. Nhưng tốt nhất là dù ở đâu, trong thất hay ngoài chúng, tâm tu không lui sụt, thấy rõ được con người thật của mình, và luôn luôn tin tưởng vào con đường của mình, không nghi ngờ. Đó là kết quả quí nhất.

 

 

___________________

 

 

11. NẾU NHỮNG PHẬT TỬ MUỐN VỀ QUÍ THIỀN VIỆN TU THEO LỐI NHẬP THẤT THÌ CÓ ĐƯỢC CHẤP NHẬN KHÔNG?

 

Phật tử trong nước nếu đủ duyên và thích hợp cũng có thể về các Thiền viện nhập thất. Quí vị cũng muốn nếm không khí nghiêm nhặt của một thất của Thiền viện.

 

Còn phật tử hải ngoại thì vướng nhiều điều kiện nên chưa thể.

 

 

___________________

 

 

12. PHẬT TỬ TẠI GIA MUỐN TU THEO HÒA THƯỢNG MÀ KHÔNG CÓ THẦY BẠN NHƯ Ở HẢI NGOẠI NÀY THÌ PHẢI LÀM SAO VÀ TU NHƯ THẾ NÀO?

 

Phật tử tại gia ở hải ngoại muốn tu theo Hòa Thượng có thể trực tiếp viết thư tham vấn Hòa Thượng để được chỉ dạy, hoặc đọc sách và nghe tape của Hòa Thượng giảng. Chỗ nào không hiểu, muốn tìm hiểu thêm thì viết thư về. Cần liên lạc thường xuyên, Hòa Thượng luôn từ bi chỉ dạy. Bổn nguyện của Hòa Thượngđộ tăng ni và phật tử, đem ánh sáng thiền phổ cập nhân sinh nên Ngài không quản ngại. Cứ nghĩ đến Hòa Thượng như một bậc Thầy chỉ đạo, một người cha tinh thần để làm chỗ qui hướng. Con đường của mình đi sẽ sáng suốt, rõ ràng hơn. Đừng để tâm nghi ngờ hoặc nghe theo lời bàn tán chung quanh. Xin trực tiếp viết thư là tốt nhất.

 

 

___________________

 

 

13. KHI ĐANG NHẬP THẤT MÀ NGƯỜI THÂN (CHA MẸ, ANH EM, CON CÁI...) ĐỘT NHIÊN QUA ĐỜI THÌ XẢ THẤT HAY LÀ VẪN TIẾP TỤC Ở TRONG THẤT?

 

Đang nhập thất mà có người thân qua đời thì tùy theo tình hình quan trọng hay không. Nếu cha mẹ thì phải xả thất. Nếu người thân thuộc về gần gũi, không thể không ra được; nhưng trước khi vào thất mình đã có lời dặn dò rồi, thì có thể ở trong thất nhiếp niệm và hồi hướng cho người đó. Cái quan trọng là xem bản tâm mình hoạt động ra sao trước tin đó.

 

 

___________________

 

 

14. KHI ĐANG NHẬP THẤT CÓ VỊ THIỆN TRI THỨC GHÉ THĂM CÓ NÊN TIẾP KHÔNG? HOẶC LÀ THIỆN TRI THỨC ĐI NGANG QUA VÙNG ĐÓ CÓ NÊN XẢ THẤT ĐI ĐẢNH LỄ KHÔNG?

 

Khi đang nhập thất, nếu vị thiện tri thức là Thầy mình, là Hòa Thượng Bổn Sư, hoặc là vị Tôn Túc rất quý kính, ít khi ghé nay ghé thăm thì tạm xả, chỉ ra đảnh lễ để cầu chỉ dạy. Còn như vị thiện tri thức đi ngang vùng thì không xả thất để đi đảnh lễ.

 

 

___________________

 

 

15. NGOÀI NHỮNG CÂU THAM VẤN TRÊN, KÍNH XIN QUÍ CHƯ THƯỢNG TỌA, ĐẠI ĐỨC TĂNG NI TỪ BI HOAN HỶ CHỈ DẠY THÊM NHỮNG ĐIỀU CẦN THIẾT ĐỂ QUÝ VỊ NÀO MUỐN TU VỀ LỐI NHẬP THẤT HỌC HỎI THÊM.

 

Lối tu nhập thất rất có hiệu quả trong việc chăn trâu. Nhốt con trâu, hoặc con khỉ ý thức lại một chỗ, với sự chăn dắt thường xuyên, nghiêm nhặt, công phu tiến nhanh hơn là lúc thả rong ở ngoài. Nhưng cần phải có sự tập quen và nhất thiết không nôn nóng. Đôi lúc do chăn dắt kỹ, sẽ có những tình trạng mất ngủ, nhức đầu... Lúc đó phải khéo léo điều chỉnh bằng cách thư giãn, ngắm cây cảnh, hoặc hít thở. Cũng có trường hợp các tập khí lâu ngày bị bỏ quên, nay trong thời gian nhập thất sẽ tuôn ra. Điều này cũng không có gì lo sợ. Mặt nước lắng trong sẽ nhìn tận đáy, những vọng tưởng ở tuốt dưới đáy mà mình thấy được, có nghĩa là mình biết rõ về mình hơn.

 

Ở trong thất lâu, tâm thuần thục, những móng khởi và cử chỉ hành động sẽ điềm tĩnh, vững vàng hơn, cho tới lúc chúng ta không bị xao độngngoại duyên. Đó là kết quả tốt nhất. Còn các hiện tượng lạ, hoặc niềm vui nho nhỏ thoáng qua, cũng có nhưng không quan trọng. Chúng tôi xin kể lại câu chuyện: “Có một lần Hòa Thượng vào thất, một huynh đệ nhập lâu (1 năm) trình rằng:

 

- Trong khi nhập thất con được tin tức tốt, điều ấy khiến con an lạchoan hỷ hai ba ngày. Con vững tin ở mình, tin vào lời Thầy dạy hơn; nhưng sao niềm vui ấy không kéo dài lâu. Con cũng có ý trông đợi một lần tin tức tốt khác nữa. Xin Thầy chỉ dạy.

 

Hòa Thượng:

 

- Nhập thấttin tức tốt hoặc chợt nhận ra tâm mình là điều quý. Nhưng phải để cho nó đi qua, đừng có tâm trông đợi hoặc mong cầu, vì tin tức tốt đó không lập lại hai lần, có thể đợt này được một niềm vui, đợt sau một niềm vui khác lớn hơn. Nên nhớ là để mọi chuyện trôi qua, chỉ sống với niệm hiện tại. Đừng tính tới, cũng đừng vói lui. Nếu mong những điều vừa nhận được xảy ra nữa, thì đó là níu kéo quá khứ....”

 

Người nhập thất được luôn luôn trình thưa với Hòa Thượng, đó là nhân duyên tốt, những nghi ngờ vướng mắc được tháo gỡtu tập phấn chấn hơn. Các vị ở xa nên xin số điện thoại. Đang nhập thất mà có việc cần hỏi thì gọi điện xin Hòa Thượng chỉ dạy. Trình bày trực tiếp tốt nhất.

 

Rất cần thiết trong cuộc đời hoạt động của mình, một lần lui về ở yên. và cũng cần thiết sau nhiều lần ở yên, ra tiếp xúc với bên ngoài để thử đạo lực. Tất cả đều là sự mài giũa, rèn luyện. Chỉ có cái tâm của mình đang bày trò. Khéo biết những trò chơi của nó thì tu nhập thất hay tu với chúng đều quan trọng như nhau.

 

 
___________________
 
 
 

 

LỜI THẦY DẠY
NHỮNG LỜI DẠY CỦA SƯ ÔNG THANH TỪ
 
 
___________________

 

 

NGÀY 23 THÁNG 3 ĐINH SỬU (29-4-1997)

 

Sau khi nghe các thất trình bày sự tu hành của mình trong thời gian nhập thất, Thầy dạy:

 

- Đợt nhập thất này người mới nhiều hơn người cũ. Nhắc lại cho tụi con từ thấp lên cao, những đứa mới nhập thất lần đầu vì thiếu kinh nghiệm nên tụi con bị trở ngại như bệnh, như vọng tưởng; không biết làm sao cho hết. Những điều này không có gì lạ. Trong khi ngồi thiền, tuy thầy nhắc tụi con luôn luôn cố gắng nỗ lực, nhưng đừng nghĩ cố gắng nỗ lực là kềm là giữø chăm chăm. Cố gắng nỗ lực có nghĩa là phải tỉnh phải sáng. Tất cả những thứ vọng tưởng dấy lên, tụi con chỉ cần thấy rõ bản chất nó là không thiệt thì nó tan. Đừng đè nó, bởi vì nhiều khi tụi con sợ vọng tưởng quá rồi kềm đè. Nhất là những đứa bệnh tim kềm đè riết rồi tim đau nhói tự nhiên thấy sợ, lúc ngồi thiền hoặc giả nghe tiếng động tụi con hồi hộp. Nói về lối tu theo Nguyên thủy, trong kinh A-hàm nói tiếng động đối với người ngồi thiền là mũi nhọn, có một sức mạnh làm cho mình khó chịu, nên Phật nói nó là mũi nhọn.

 

Hồi xưa thầy ở trên Phương Bối ngồi thiền, lúc đó thầy chuyên đi sâu trong A-hàm, thầy cũng thấy tiếng động là mũi nhọn, nên tối ngồi thiền nghe mấy chú xe chở hàng chạy lên đèo Bảo Lộc làm ồn quá chừng; Chà! kiểu này sao tu, động quá! Ban ngày, chiều ngồi thiền thì ba con khỉ con vượn nó la, động luôn. Thành ra trốn tuốt lên rừng sao cũng động; không khỏi cái động nên thầy hơi khó xử. Thủng thẳng từ từ tương đối yên ổn. Đến khi xuống Vũng Tàu - Chơn Không, tối loa dưới phố vang lên, nên ngồi thiền lãnh đủ, trên núi nghe ồn không thể chịu nổi. Thầy mới nghĩ rằng ở trên núi không yên, về thành phố cũng không yên, giờ chạy xứ nào tu cho yên. Nên lúc đó thầy mới nghĩ mình đừng có sợ tiếng, phải thấy rõ tiếng. Từ đó thầy chuyển, thầy không theo lối Nguyên thủy nữa. Thầy phải nhìn với tinh thần Bát-nhã, tất cả âm thanh đều hư giả không có gì thực hết. nó ca nó hát gì mặc nó, mình ngồi không bị nó chi phối như lúc đầu. Khi sợ nó mình cứ muốn tránh, nếu tránh chỗ nào cũng gặp nó, thôi nhìn thẳng, biết nó là hư giả, là không thiệt, không có gì quan trọng, không màng tới nó. Đó là kinh nghiệm những năm buổi đầu.

 

Bây giờ tụi con tu cũng vậy, đừng sợ tiếng động. Thấy tất cả tiếng độnghư giả bên ngoài, nghe qua rồi mất có gì đâu mà sợ. Giả sử mình đang ngồi, có ai làm động, làm tim mình đập, bình tĩnh lại, nhớ tiếng là hư dối không thật, cho nó qua. Đừng có hơi quan trọng nó mà kết quả không được tốt.

 

Đó là thầy nhắc về tiếng động.

 

Kế đó tụi con thấy vọng tưởng. Có những đứa thấy vọng tưởng là trở ngại, làm chướng cho sự tu của mình không được định. Nhưng đừng sợ nó, vì bản chất vọng tưởngkhông thật. Nó có lên, có khởi chỉ cần tụi con thấy rõ nó, theo dõi nó thôi; chớ đừng thèm sợ nó, đè nó, chặn nó. Sợ, đè, chặn là bệnh. Thấy nó lên cứ theo dõi, thấy và theo dõi được nó là tụi con thành công. Biết sao thành công không? Bởi vì thấy nó, biết nó là vọng tưởng, nó chạy đâu mình biết đó. Như vậy mình là chủ mà nó là khách. Vậy mình thắng nó, dù nó có, nó vẫn thua mình, vì nó bị mình nhìn, nó là khách rồi. Nên cái tu tế nhị lắm, tụi con khéo một chút là tụi con thấy. Thắng mà không phải đè nó, thắng mà không phải nó lặng hết. Dầu cho nó có lên trăm thứ ngàn thứ mà tụi con vẫn quan sát được nó, thấy được nó. Thấy tụi nó như tụi nó đang đùa giỡn trên sân khấu, tụi con cười chơi không thèm sợ; chớ còn nó lên tụi con theo nó thì sợ. Tụi con theo hay thấy? (Thầy cười). Cái đó là quan trọng, nghĩa là nó lên, tụi con vẫn thấy nhiều thứ, thấy như một đám trẻ con đùa ngoài sân, không có gì quan trọng hết. Cười với nó, nó lại tan. Chớ đứa nào lên lại chấp nhận theo nó, một hồi nghe cái gì đó mới giật mình nhớ lại, thì mình đã theo nó xa lơ xa lắc, đó là thua nó - nó là mình rồi chớ nó không phải là khách nữa. Đó, hai cái tụi con phải thấy rõ, một bên nó, bên mình nhập cuộc với nó, như vậy nó trở thành mình, mình bị nó chi phối; một bên nó lên mình thấy, nó tới đâu mình thấy tới đó, rõ ràng không cần phải la lối trừng trị gì hết, cứ thấy theo dõi nó, nó tự tan, mình chiến thắng nó vẻ vang hơn phải không.

 

Đó là hai cái tụi con cần phải lưu tâm tu, nó nhẹ không phải nặng nề phải kềm, giữ, chăn cực lắm.

 

Tụi con phải biết rõ vọng tưởng là những thứ không thiệt - đã nhắc tới lui nhiều lần tụi con nhớ rồi, nhưng quan trọng là tụi con phải thấy rõ ràng, nó sinh hoạt ra sao, thấy hết. Thấy được nó từ khi nó khởi cho tới khi nó diệt thì tự nhiên tụi con thắng. Tụi con có thấy nó hay nó dẫn tụi con? Nếu nó dẫn thì tụi con thua, nếu tụi con thấy nó là tụi con thắng nó. Chớ đừng nghĩ đè nó, cũng đừng nghĩ hết nữa, đừng nghĩ hết vọng tưởng; hết buồn lắm. Còn với tính cách mình làm chủ nó. Bởi vì tụi con thấy tu là phân rành, đâu là chủ đâu là khách; mà vọng tưởng bị mình biết, mình theo dõi, nó là khách rõ ràng. Như vậy trong cái có vọng tưởng mà mình đã thấy rõ ai là chủ ai là khách rồi. Đó là tụi con đã có một chỗ trở về rất là hay. Nếu vọng tưởng lên mình nhập cuộc với nó để năm phút, mười phút mới giật mình, thì đó là thua hoàn toàn, không làm chủ được tí nào hết.

 

Như vậy tụi con tu đừng có hai quan niệm sai lầm:

 

Quan niệm sai lầm thứ nhất là vọng tưởng nguy hiểm phải diệt, phải đè nó không cho nó cất đầu lên. Đừng quan niệm như vậy. Bởi vì càng diệt càng đè, càng khổ mình chớ không thành công.

 

Quan niệm sai lầm thứ hai là phải hết vọng tưởng. Không cần hết chỉ cần biết nó và theo dõi, quan sát nó.

 

Thầy thường nói với tụi con, không sợ ăn trộm rình nhà, chỉ sợ mình ngủ mê. Nếu ăn trộm rình mà tụi con thức, theo dõi từng hành động của nó, nó đương đào hầm hay khoét vách gì đó. Mình chỉ cần rọi đèn là nó chạy. Chớ mình ngồi ngó lom lom khi ăn trộm chưa tới, cũng cực; ăn trộm tới rồi run lên cũng cực, thành hai cái không cần. Chỉ cần biết có ăn trộm để coi nó hành động ra sao. Nếu nó bắt đầu muốn đào hầm khoét vách vô nhà, lấy đèn rọi, nó hoảng chạy. Nhẹ nhàng không có gì quan trọng. Còn mình sợ cứ quan trọng nó, nó sẽ trở thành hơi nguy hiểm với chính mình. tu không có kết quả, mà càng tu càng thấy nhọc nhằn, khổ sở. Đó là điều tụi con phải thấy thật rõ, thật tường tận. Hiểu như vậy tụi con tu đứa nào cũng nhẹ nhàng hết. Ở đây thấy vài đứa coi bộ dụng công cực quá, mặt mày xanh mét.

 

Khi tu thiền được nhập thất; thời giờ nhập thất tuy không có gì lạ nhưng quý như vàng, qua một giờ, qua một ngày là đáng tiếc. Làm sao trong một giờ, một ngày của mình là một giờ một ngày hữu ích, có kết quả, chớ không phải vô ích. Nhưng đừng nghe nói như vậy rồi kềm. Nghe hiểu rồi phải tỉnh, phải thấy rõ sự việc của mình làm, thấy rõ tâm tư mình đang biến động thế nào, theo dõi tường tận. Như vậy đó là hình ảnh phản quan tự kỷ, chớ không phải tụi con kềm. Trong nhà thiền không nói kềm, nói mình phải thấy, phải nhận cho ra. Khi tụi con nhận ra được rõ ràng rồi, sự tu sẽ tiến nhẹ nhàng tốt chớ không có xấu.

 

Khi tụi con tu rồi, mới thấy có nguồn vui của mình. Như hồi xưa thầy cứ tưởng tượng Phật bốn mươi chín ngày đêm, không thể nào ngồi một chỗ, ngồi một mạch được. Tụi con nghĩ phải đi đây đi kia chớ, vì sinh lý con người đâu tránh được. Nhưng không ngờ khi nhập định rồi tất cả những cái này dừng lại hết, đặc biệt vậy đó. Thế mới thấy được người xưa không phải là nói gạt mình, mà nói lẽ thực, mình không tu mình không bao giờ biết được hết.

 

Bởi vậy cho nên những người giảng đạo không tu, cứ tưởng tượng giảng, thì họ cho đó là nói cho vui, chớ đâu có ngồi một chỗ hoài, họ không ngờ ngồi một chỗ mà không xao động. Như thầy kể chú đó (một thầy tại thiền viện Trúc Lâm) chú ngồi, nhớ mới kéo chân lên, nhìn lại đã mười giờ rưỡi. Tụi con thấy cái định khôngthời gian, mà không có thời gian nói ba chục ngày, bốn chục ngày không có nghĩa lý gì hết; tới đó mới thấy chuyện của người xưa không sai. Cũng như ngài Hư Vân, Ngài ngồi tới nỗi nồi cháo mốc meo mà không hay. Nhưng điều đó mình kinh nghiệm, người bây giờ như vậy thì người xưa như vậy.

 

Cô Huệ thưa:

 

- Bạch Thầy theo đường lối mình tu, thầy nói là phải tỉnh sáng từng tâm niệm, những người nhập định lâu thầy có chấp nhận không?

 

Thầy dạy:

 

- Khi nào mình ngồi tu, thì luôn luôn tỉnh sáng, mà trong cái định không phải là mê mà nó quên thời gian, nó tỉnh chớ không phải mê, tỉnh bằng cách yên lặng mà không phải ngủ.

 

- Nhưng nhiều khi không để ý gì đến chung quanh.

 

- Không nhớ thời gian, không nhớ hoạt động chung quanh thì cái đó gọi là định, không phải lúc đó mê ngủ, mê ngủ là trật.

 

- Có người nói đang tỉnh tỉnh mà một hồi giựt mình.

 

- Giựt mình là ngủ.

 

- Có khi họ xuất định.

 

- Cái đó là ngủ, xuất định khác.

 

Hiểu vậy thấy tu có hiệu nghiệm vô cùng.

 

Thầy bằng lòng với việc làm, với sự hướng dẫn. Chớ thiệt ra bao nhiêu năm ở chùa cúng kính, không bao giờ có phút giây tỉnh. Cứ chạy theo, hài lòng với sự tụng kinh hay Phật tử tới cúng nhiều, nhưng không thấy được thâm sâu đạo lý. Nhờ mình tu mới thấy được.

 

Cho nên những ngày tụi con ở trong thất là những ngày quý, phải khéo sử dụng cho nó đúng để có kết quả tốt. Như vậy mới khỏi phí thời giờhuynh đệ dồn hết cho mình tu mà tu không ra gì rất uổng.

 

Thôi thăm bao nhiêu đủ rồi.

 

 

___________________

 

 

21 THÁNG 6 ĐINH SỬU (25-07-1997)

 

Trước hết thầy nói về mấy đứa tu lâu một năm. Chuyện tu hành của tụi con cũng qua một hai phen chuyển biến, đó là tụi con cũng có kinh nghiệm. Ở đây thầy nói thêm. Nếu tụi con tu, giả như trong lúc tọa thiền, lúc ở ngoài có những phát minh, những cái thấy lạ tụi con thấy, rồi có niềm vui, biến chuyển cả nội tâm mình, điều đó là điều tốt. Nhưng nếu thấy rồi mà tụi con còn suy luận thế này, thế kia thì cái thấy đó chưa phải là thật. Bởi vì thấy mà mình còn phải nghĩ, phải suy luận ra cho nó rõ, thì đó là chưa phải thiệt thấy. Chừng nào tụi con tu, bất thần la lên: À! thì lúc đó mới được, mới thật thấy. Như bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng mình không biết, mình muốn tìm một cái mà mình không biết ở đâu. Bất thần mình thấy được, mình à lên một cái, trực tiếp thấy nên hết lý luận nữa chỉ còn cười thôi, mừng vậy thôi. Như vậy để tụi con hiểu, ứng dụng tu có những trường hợp lạ, rồi từ biến chuyển đó tụi con suy ra, tụi con biết thế này thế kia thì đó là còn biết trong lý luận, chưa phải biết bằng trực giác. Chừng nào tụi con à lên hoặc cười hoặc khóc thì cái đó mới biết thấy, nhớ chưa. Đó là cái chỗ của những người trực tiếp thấy đó.

 

Còn chặng thứ hai là của mấy đứa mới tập và tập hơi đỡ đỡ, tụi con nhớ tu không phải là dằn ép, thấy thì mình có cố gắng nhưng mà cố gắng ở trong cái tỉnh cái giác để đừng bị ngoại cảnh hay đừng bị nội tâm lừa gạt lôi dẫn mình đi. Như vậy đó là trúng, tỉnh không bị lầm chớ không phải là đè nó để được yên. Nhớ hai cái đó. Đè để nó yên, đó là lối dằn ép nhiều. Nếu tụi con tỉnh, thấy rõ những cái gì của quá khứ nó sống dậy lôi dẫn tụi con. Tụi con thấy cười với nó để đừng theo, làm chủ được mình, đó là khéo tu. Tuy rằng thấy như nó nhẹ nó yếu nhưng mà tu như vậy là tụi con lúc nào cũng làm chủ được mình, nếu dằn ép thì không phải là trí tuệ, nó là công phu dồn dập có khi có những phản ứng bất thường. Vì vậy ở đây chủ trương tụi con phải tỉnh phải giác, bỏ vọng niệm, thấy rõ tập khí của quá khứ. Lý đáng trong thời gian tụi con nhập thấtthời gian rảnh nhất, rảnh hơn ai hết. Mọi việc bỏ ở ngoài hết, đâu còn trách nhiệm gì, vậy mà vô đây rảnh chưa? Chuyện người ta ở ngoài cũng chen vô. Như vậy là không khôn ngoan, làm sao tụi con phải khôn ngoan, phải mạnh, phải dứt khoát, ngày ở ngoài mình lãnh công tác nào là làm cho tròn công tác đó, còn vô đây thì mọi công tác ngoài mình gạt ra hết. Được mất, hơn thua, tốt xấu gì ở ngoài mặc người ta lo. Cái lo của tụi con hiện giờ là phải sáng suốt với mình, làm chủ mình và làm chủ tất cả tập khí quá khứ. Như vậy là tụi con sáng suốt. Còn tụi con lệ thuộc cảnh ở ngoài là tụi con chưa có thái độ dứt khoát. Mà tu không có thái độ dứt khoát là khó tiến lắm. Giả sử mai kia Trụ trì nhập thất cũng vậy, hồi ở ngoài chuyện nên chuyện hư, chuyện phải chuyện quấy của chúng thì mình phải lo vì mình có trách nhiệm. Nhưng vô thất rồi thì giao lại hết, không còn trách nhiệm gì nữa hết, chỉ còn làm một việc mà mình đang làm đây thì cái đó tụi con tập dứt khoát như vậy, tụi con tu ít mất thì giờ. Chớ nhiều khi tụi con tu ở trong thất lại lo chuyện ngoài thất. Như vậy chuyện ở trong thất mình làm chưa tròn mà lo chuyện ở ngoài nữa, tức là càng rối rắm thêm. Không có lợi gì nên tụi con phải chuẩn bị cho tinh thần mạnh mẽ. Làm cái gì dứt khoát cái đó, còn chuyện ngoài bổn phận mình thì gác một bên, đừng bàn đừng nghĩ, đừng bận bịu gì. Chớ còn ngồi đây mà nghe chó sủa cũng lo không biết ai đó. Lính vô xét hay gì. Cái đó không được. Kệ, cái gì ở ngoài kia có người lo rồi. Mình ở đây chỉ làm việc ở đây thôi. Tụi con có đủ khả năng dứt khoát vậy không? Đứa nào khi nhập thất, ngang đó coi như chết, dứt điểm là chết. Sống với trong thất mà chết với thế gian. Như vậy đó mới được. Đứa nào chưa được vậy là chậm lắm. Đó là nói cho tụi con hiểu giá trị sự tu bởi vì khi mình tu thì những cái hiện tại mình đang mang, khi vào đây phải cởi bỏ nó ở ngoài, đừng đem vô đây nữa. Điều thứ hai là những cái cố hữu năm trên năm dưới gì đó, chuyện đó không phải là chuyện của mình nữa, vừa dấy lên cũng bỏ không cho tái diễn nữa. Như vậy tụi con mới đỡ mất thời giờ, tu mới có kết quả tốt. Đó là những việc cần thiết trong lúc tụi con tu. Còn nếu vừa cố gắng nhập thất, mà tâm bận bịu việc ở ngoài thì cái cố gắng này chỉ nhọc công mà không có kết quả.

 

Đó là những điều thiết yếu thầy nhắc tụi con. Thực tình đối với cái tu, thầy cũng thấy rõ lắm, nếu mà duyên tốt tụi con nhập thất ba tháng, sáu tháng, một năm thì đứa nào có chủng duyên lành sẽ có kết quả tốt. Tụi con khéo sử dụng thời gian tu, đừng bận bịu chuyện bên ngoài thì sẽ có kết quả tốt, dù rằng ở đây khí hậu không tốt. Nhưng khéo ứng dụng tu sẽ có kết quả. Đó là điều thầy xác quyết không nghi ngờ chỉ trừ đứa nào còn yếu để tập khí quá khứ sống dậy, dụ dẫn mình đó là mình thua. Vậy thì nhớ đừng bao giờ tụi con cố đè, đè riết trên đầu gân trán nổi lên hoặc đầu ran ran, đó là cái không tốt, phải khéo sáng suốt. Cái gì dấy lên tụi con cười buông nhẹ nhàng. Tỉnh táo như vậy không đòi nó được định mà bỗng dưng lúc nào đó được định, cũng như không đòi nó hiểu những cái chưa hiểu mà bỗng dưng lúc nào tự nó hiểu. Thì đó là thầy thường nói Trí vô sư chực sẵn trong tụi con rồi, khi nào bóng dáng bên ngoài không còn che mờ nữa thì Trí vô sư nó sáng, đừng có lo có sợ.

 

Đó là những điều cần thiết thầy nhắc nhở tụi con. Thôi nghỉ.

 

___________________

 

 

MẬU DẦN 1998

 

Hôm nay thầy đến thăm, biết sự tu hành của tụi con đại khái rồi, thầy có ít lời nhắc nhở thêm cho rõ ràng hơn.

 

Như trước kia thầy đã thường nói với tụi con: Có tu là có tiến, không có nghi ngờ điều đó. Ngày nay thấy qua sự trình bày của tụi con, đứa nào cũng có tiến, nhưng tiến đó tùy thuộc qua trình độ, tùy theo cơ duyên. Có đứa tiến nhanh có đứa tiến chậm. Nhưng đứa nào cũng có tiến. Thầy, gần đây mỗi khi chư tăng hoặc chư ni xin nhập thất, nhờ thầy chỉ dạy, thì thầy dạy trong đó có mấy điều, nhưng có một điều căn bản là khi ngồi thiền ở trong thất tu, tụi con phải nhớ rõ rằng tất cả cảnh hiện ra, cảnh tốt cảnh xấu, cảnh đáng sợ đáng vui mình vẫn thản nhiên đừng có sợ, đừng có mừng. Tại sao vậy? Vì tất cả cảnh đó đều từ tâm mình, do mình kềm chế hay chú tâm không để loạn tưởng, do không có loạn tưởng nên rồi phát hiện những cảm giác lạ. Có khi thấy thân mình nhẹ bổng muốn bay, có khi thấy thân cao lớn kềnh càng, có khi thấy thân như là có cái gì nặng trĩu… Tất cả cảm giác đó đều do sự tu của mình mà nó phát hiện ra, chớ không phải ở ngoài. Nói cho rõ, cảnh đều từ tâm hiện, chớ không phải là thật có cảnh bên ngoài. Cho nên khi tu, thấy những cảnh như vậy tụi con vẫn thản nhiên yên ổn tu thì mọi cái đều qua. Nếu thấy nhẹ quá sợ bay, sợ là trật rồi; thấy nặng quá sợ hoặc thấy to quá sợ thì cũng trật. Tất cả những cái đó, mình đều thản nhiên, thấy ra sao thì mặc nó, cứ thản nhiên trong tâm mình, thì mọi cái đều tốt, còn khởi niệm sợ, niệm mừng thì nó trở thành xấu. Đó là hiện tượng mà nhiều người tu thường xảy ra như vậy, tụi con nên lấy đó làm kinh nghiệm, đừng có sợ.

 

Điều thứ hai nữa là tụi con tu, nếu lúc nào đó an ổn, thanh tịnh, rỗng suốt rồi một thời gian ngắn nó mất, mất rồi tụi con tiếc muốn kiếm lại cái đó. Cái tiếc và muốn kiếm lại là trật rồi. Mình không bao giờ tìm lại cái gì đã mất. Mình cứ cố gắng tu tiến lên, tiến lên rồi sẽ tiến hơn nhiều. Bởi vậy tụi con nhớ, thầy chỉ kể cách tu thiền theo Tứ thiền, thì được Sơ thiền rồi là lìa niệm dục thế gian. Lìa được niệm dục, cảm thấy cái vui, có thích thú, thì cái vui cái thích thú đó, nó chỉ qua một thời gian rồi mất. Kế lên Nhị thiền được vui mừng do tâm an định sanh hỷ lạc, hỷ lạc rất là vui, rất là mừng, nhưng mừng vui đó rồi cũng mất. Mất rồi mới qua cái thứ ba là ly hỷ… nó cứ đi từ từ, những cái qua rồi phải mất đừng có kéo lại, kéo lại vô tình mình bước lùi. Nên tụi con khi thấy những niềm vui, những an lạc; tụi con thấy rồi nó qua mất, cố gắng tu một thời gian sẽ tiến lên, có những hiện tượng khác. Chớ nếu ngang đó rồi tiếc: “Sao hôm đó vui quá mất uổng”. Nghĩ như vậy là sai lầm.

 

Như vậy tất cả sự tu hành, nếu đủ duyên tụi con sẽ thấy bước tiến cụ thể trong lúc mình tu, chớ không phải chuyện ở đâu hay người ta bịa ra. Đó là một sự thật, không nghi ngờ gì hết. Nhưng trong số tu tụi con, đừng nghe người này kể, nói tôi thấy điều này, tôi thấy điều kia, rồi mình tu mình không thấy, cảm thấy chắc mình thua họ. Không phải vậy. Tu mỗi đứa có duyên khác nhau, do duyên ngày xưa huân tập, nên bây giờ ngồi tu thấy những chuyện lạ. Còn có đứa, xưa không huân tập những cái lạ đó thì giờ tu thấy vẫn bình thường, bình thuờng mà tỉnh táo, an định thì đó là tốt. Bởi vậy duyên tu mỗi người không ai giống ai hết, mà đã không giống, thì không bao giờ đem việc người này so với người kia được. Vậy mà tụi con cứ - mỗi đứa có cái duyên riêng, đây gọi là duyên đăïc thù - mỗi đứa cứ cố gắng tu trong cái duyên của mình, nhất là đừng có lầm lẫn. Khi gặp những sự việc gì xảy đến, tụi con ráng bình tĩnh để nhìn nó, biết nó đúng như thật, đó là tốt. Còn nếu khi nào có những chuyện xãy ra mà xúc động quá, thì khi xúc động đó có thể khóc có thể cười. Nhưng cái khóc cười một thời gian rồi, lại có những hứng thú, muốn làm thơ làm văn. Nhưng cái đó không hợp, tụi con phải bình thường, sống điềm đạm, bình tĩnh để cho sự tu hành còn tiến, bởi vì trên đường tu còn tiến sâu lắm, không phải tới chừng mực đó không. Thấy đó rồi phải vượt qua, qua rồi sẽ tới những cái khác nữa. Cho nên tụi con càng tu thì nó càng tiến, càng tiến thì có những cái lạ, ngày xưa chưa bao giờ tụi con biết. Đó để chứng minh lẽ thật trong đạo, Phật tổ đã dạy, sự tu hành là kỳ đặc vi diệu chớ không phải là chuyện tầm thường; Thế tình họ không biết, tưởng mình làm chuyện rất là tầm thường, chỉ ngồi yên ngó xuống vô ích. Thực ra nó có những kỳ lạ ở trong đó. Hiểu rồi tụi con mới thấy đường tu là điều phi phàm chớ không phải tầm thường như người ta hiểu.

 

Qua những năm gần đây, thấy sự tu tiến của tụi con, thầy cũng mừng. Có thể thầy xác định được rằng hướng chỉ, đường mà thầy hướng dẫn tụi con nó không có lầm, không có phí công vô ích. Vậy tụi con ráng cẩn thận và bền bỉ tiến lên, đó là điều tốt, không có gì đáng ngại hết.

 

Thôi tụi con ráng nỗ lực tu.

 

 

___________________

 

 

22 THÁNG 12 MẬU DẦN (1998)

 

Hôm nay dạy chung cho tụi con biết rõ tinh thần tu thiền. Trước hết đặt câu hỏi: Tu thiền là dễ hay khó? Bởi vì khi tu phải biết rõ hướng tu của mình, đường lối tu của mình là thế nào? Nên Sư Ông đặt câu hỏi là dễ hay khó? Bây giờ có thể nói là khó. Tại sao khó? Tụi con nghe Sư Ông dặn: “Vọng tưởng dấy lên liền buông đừng theo, hay thấy nó thì nó tự mất”. Như vậy thì phải chăn vọng tưởng, vậy vọng tưởng nằm ở đâu, hay hiện tướng chỗ nào? Tụi con biết không? Nếu chăn mà không biết ở đâu, cũng như thế gian đi đánh giặc, gặp giặc ở trước mặt mà không biết. Muốn chống với người mà không biết ở đâu là dễ hay khó? Đó là khó rồi. Vọng tưởng cũng vậy. Tụi con thấy không chỗ nơi, hễ gặp duyên thì hiện, không biết trụ nơi nào chốn nào. Nên muốn đào muốn xới, muốn dẹp muốn phá thì thật là khó. Đó là đứng về mặt khó.

 

Còn đứng về mặt dễ, nó không nơi chốn, nó sinh rồi diệt, nó không có thật. Bỏ cái không thật là dễ hay khó? Nó thật thì muốn đuổi xua mới khó, nó đã không thật, thấy không theo thì tự mất. Như vậy biết tu đúng, tu như lời Phật dạy, thì vọng tưởng buông xả không phải là khó. Nên tu thiền dễ chứ không khó. Đó là nói cho tụi con hiểu chuyện tu.

 

Kế đến là trong nội tâm mình. Vọng tưởng là mình hay cái biết vọng tưởng là mình.

 

Vậy thì vọng tưởng là ai? Cái giận có phải mình không? Buồn có phải mình không? Cái thương ghét phải mình không? Nếu nó là mình thì tức nhiên mình không biết nó. Cũng như con mắt không thể thấy con mắt, mà thấy cảnh bên ngoài, thấy cảnh bên ngoài thì cảnh không phải là con mắt. Cũng vậy, thấy được vọng tưởng thì vọng tưởng không phải là mình. Buồn thương giận ghét là cái bị tụi con biết. Khi giận biết giận, thấy ai mà cảm mến, thì biết đây là đang thương. Mình thấy, mình biết nó thì cái bị biết không phải là chủ. Lâu nay tụi con cho nó là chủ hay là khách? Cái không phải là chủ mà chấp là chủ là ngu si. Đó là cái mê lầm muôn kiếp của con người. Tụi con nghĩ cả thế gian này đang mê như vậy đó, có đáng thương không? Họ chỉ biết cái đó là họ, chớ họ không biết có cái biết được cái đó. Bây giờ tụi con ngồi thiền có cái biết được niệm khởi, biết được những tâm thương ghét… nó dấy lên. Như vậy cái bị biết vọng tưởng là cảnh bên ngoài, còn cái kia mới thật. Như vậy dẹp vọng tưởng để làm gì? Bởi vì lâu nay người ta mê lầm, cho vọng tưởng là mình, tụi con cũng vậy quên mất cái thật mình. Sư Ông thường dạy: Trăng trên trời, mà có mây che thì không thấy được. Bây giờ, tất cả vọng tưởng là những mây mù liên tục. Có khi nào tụi con ngồi mười phút mà không có vọng tưởng không? Như vậy để thấy, khi người tu nhận vọng tưởng là mình, cứ vọng tưởng vọng tưởng liên tục không dừng, nên không bao giờ thấy được cái này. Chỉ có mình tu ngồi lặng lại, rồi quán sát vọng tưởng. Nghe Sư Ông giảng, tụi con hiểu vọng tưởng là cái bị biết, bị biết mới dẹp được, nó là mình làm sao dẹp được. Vọng tưởng còn thêm một tính chấtảo hóa không thật. Tụi con thấy có ai buồn hoài, có ai giận hoài? Nếu buồn là mình thì hết buồn không phải mình. Giận là mình thì hết giận là không phải mình? Tất cả những thứ đó tạm thời, qua rồi mất, không phải thật mình, mà thế gian chấp là thật mình. Giận hờn, buồn phiền là tướng trạng sanh diệt. Nói theo Duy Thức Học, nó là tâm sở. Tâm sở chợt có chợt không, không phải là tâm vương. Như vậy biết rõ, mình tu thiền là cốt yếu đừng mê lầm cái bị biết, cho nó là chủ, mà quên ông chủ hay biết. Tất cả vọng tưởng lặng tụi con biết tâm lặng. Biết rõ vọng tưởng lặng, mà cái biết “vọng tưởng lặng” có lúc nào vắng không?

 

Chỉ khi nào theo vọng tưởng thì quên nó. Nên Sư Ông dạy bỏ vọng tưởng không theo, để hiển lộ cái thật của mình, cái thật của mình không bao giờ thiếu vắng, lúc nào cũng có mà lâu nay mê lầm.

 

Như vậy trọng tâm tu thiền là để không theo cái hư ảo, mà phải buông cái hư ảo để sống với cái thật của mình. Gần đây Sư Ông có đọc một cuốn sách của một nhà tâm lý trị liệu. Ông ta nói rất hay: “Cái tôi của mình có hai thể là tôi chủ thể và tôi đối tượng.” Cái tôi đối tượng sanh diệt, cái tôi chủ thể không sanh diệt. Như vậy, người ta nói mình đau chân, mình đau bụng. Đau chân, đau bụng là mình đau, hay cái gì đau? Cái thân đau chứ cái chủ thể không đau. Cũng như tôi buồn, tôi giận, tôi khổ… thì mấy thứ đó là cái tôi nào? Đó là tôi đối tượng, không phải tôi chủ thể. Tôi chủ thể không có buồn, giận ghét gì cả. Tụi con thấy người ta cũng khám phá được tới chỗ đó, mà không biết làm sao đối trị, còn mình tu để đối trị cái đó, thì ngay nơi mình có một cái thật mà lâu nay quên, rồi nhận cái hư ảo là mình thì tạo nghiệp trầm luân không dừng. Nó là hư ảo nên tạo nghiệp sanh tử để dẫn mình trầm luân. Nếu không theo nó nữa là dừng tạo nghiệp. Dừng tạo nghiệp thì cái gì dẫn mình đi trầm luân được. Đó là giải thoát sanh tử. Chỉ có cái thể trong sáng không hình không tướng không động. Cái đó làm sao dẫn đi trầm luân được? Như vậy giải thoát ngay nơi mình, khéo tu thấy liền, không phải tìm kiếm ở đâu xa. Hiểu vậy thì mới biết, ý nghĩa ngồi thiền, ý nghĩa buông xả vọng tưởng quan trọng như thế nào. Chứ không thì tụi con thấy sao trị hoài mà vọng cứ trồi lên mãi. Tại sao khó trị tụi con biết không? Tại muôn kiếp thấy nó thật rồi. Từ nhỏ đến giờ tụi con có thấy, có biết là những suy nghĩ giả không? Lúc nào cũng tưởng mình nghĩ thế này, mình tính thế kia… Tới bây giờ vào đạo tụi con mới biết nó không phải thật mình, tụi con bỏ từ từ. Bây giờ mới biết bỏ, còn cái kia đã huân bao lâu, nên bỏ cái này cái khác lại trồi lên. Không phải khó bỏ, chỉ vì huân lâu quá! Như Sư Ông thường thí dụ một bài ca hay bài thơ mà tụi con học từ bé thuộc làu làu, bây giờ muốn bỏ, thì phải làm sao? Bình thường nói bỏ thì không có nghĩa lý, chờ nó nổi dậy rồi bỏ, nhớ nó lại bỏ. Nhớ mà không đọc lại, một lần, hai lần cho đến hai chục lần thì sẽ quên. Giống như khi học, thì huân bao nhiêu lần mới thuộc, huân nhiều lần thì bỏ cũng nhiều lần. Cũng vậy, vọng tưởng huân nhiều lần quá, nên bỏ cũng phải nhiều lần thôi. Hiểu vậy rồi thì không trách, tại sao vọng tưởng bỏ hoài không hết. Biết rõ như vậy thì tụi con sẽ tiến, không còn nghi ngờ. Tất cả vọng tưởng không phải là tôi. Tôi chủ thể không như vậy, đây là tôi đối tượng. Tôi đối tượng không phải là mình mà mình chấp là mình, đó là ngu si. Cứ hiểu vậy thì tụi con tu tiến.

 

 

___________________

 

 

THÁNG TƯ KỶ MÃO - 1999

 

Hôm nay Thầy vô thăm thất, thấy tụi con đa số tiến bộ đó là điều đáng mừng.

 

Cũng có người mới chưa tiến bao nhiêu hoặc người cũ có những cái chướng.

 

Trước hết, đối với người tu Phật có ba cái chướng: Phiền não chướng, Báo chướng, Nghiệp chướng. Trong ba cái đó, thầy nói cho tụi con thấy rồi tự nghiệm, để trên đường tu gặp chướng thì biết nó thuộc loại nào.

 

Như có người tu lâu, tuổi lớn nhưng bị báo chướng nên bệnh hoạn đủ thứ. Bệnh hoạn đó là hiện tượng của quả báo, của thân. Thân của mình thuộc về báo chướng, từ thân sanh ra bệnh hoạn, từ bệnh hoạn làm cho sự tu khó khăn. Nếu không thắng được báo chướng, thì có thể trở ngại trên đường tu. Nếu gặp báo chướng thì phải sám hối. Thật ra sám hối là một lối tu để tiêu nghiệp cũ. Nếu tụi con khéo thì biết tất cả cái chướng phát nguồn từ mê mà ra. Từ mê lầm chấp thân là thật, nên báo chướng làm cho mình trở ngại. Khi nào tụi con thấy thân có bệnh hoạn thì phải dùng trí tuệ quán chiếu, thân này là một mớ duyên hợp hư giả không có thật tướng, hư giả không có gì thật hết, thân là tướng hư dối huyễn hóa thôi. Khi thâm nhập được như vậy thì nó hết chớ không có gì. Đó là thắng được báo chướng.

 

Còn những đứa tu mà bị nghiệp chướng thì sao? Nghiệp chướng hay phiền não chướng tuy là hai nhưng cũng giống nhau. Phiền não gốc từ nghiệp mà ra, trước mình đã từng làm điều gì buồn khổ cho người, bây giờ tu, nó trở lại làm rối sự tu hành của mình. Cho nên cái chướng của nội tâm, hay là cái chướng vì hình ảnh tốt xấu vui buồn cứ lảng vảng trong đầu mình, thì tụi con biết cái đó là nghiệp chướng của quá khứ, khiến mình không được làm chủ. Khi đó tụi con biết phải làm sao cho nghiệp chướng qua không? Nếu những cái chướng về nội tâm, nhớ chuyện cũ chuyện xưa, chuyện hay chuyện dở, tâm cứ rối loạn hoài, thì tụi con phải dùng quán chiếu, thấy tất cả nghiệp chướng đều không có thật. Bởi vì nghiệp dấy lên từ tâm từ niệm, mà niệm khi tìm lại thì nó mất, nó không thật, gốc không thật ngọn cũng không thật. Quán chiếu như vậy, tất cả nghiệp chướng bổn lai không. Nếu nghiệp chướng bổn lai không, nó không còn làm chướng che tụi con nữa.

 

Còn cái chướng thứ ba là sở tri, cái chướng đó tụi con không bị nhiều. Những phiền não đó do xúc duyên đối cảnh. Gặp cảnh thuận cảnh nghịch, cảnh ưa cảnh ghét… tụi con cứ để nó quấy nhiễu sự tu hành. Như tụi con đang ngồi thiền, bên xóm họ mở nhạc, mình bực bội thì cái đó thuộc phiền não chướng. Hoặc mình đang ngồi thiềnhuynh đệ cùng tu lại nói chuyện, mình nghe rồi bực bội thì cũng thuộc phiền não chướng. Hoặc đang ngồi thiền mà nhớ chuyện hôm qua hôm kia, có người nói nặng mình, mình đã bỏ qua, giờ nó sống dậy thì cũng thuộc phiền não chướng. Tụi con thấy phiền não có cội gốc không? Xét kỹ phiền não không có cội gốc. Tại vì khởi niệm chấp thì nó sanh, chấp mình là phải chấp người là quấy. Chấp những sự việc xảy ra làm trái ý mình, phá sự tu hành của mình. Vừa khởi niệm đó, là phiền não sanh. Vì vậy khi phiền não khởi, tụi con liền xét phiền não không có cội gốc, tất cả do vọng chấp mà có mà thành. Biết vậy rồi tất cả chướng nó hết. Nếu tụi con sám hối mà thấy nó thật, thì lâu lắm nó mới hết. Còn tụi con khéo quán, nó rất mau hết. Đó là lối giúp tụi con tu, gỡ những cái chướng rất nhẹ nhàng, không nặng nề chi hết. Đây là phần căn bản, Thầy nói cho tất cả tụi con biết, ai có bệnh gì thì biết mà tu, thì sẽ vượt qua.

 

Hồi nãy có đứa hỏi Thầy về giác minhminh giác. Trong kinh Lăng Nghiêm nói ai cũng có tánh giác, gọi đó là giác minh, là cái thể tánh tròn sáng của mỗi người. Ai cũng có nhưng vừa dấy niệm tìm lại ánh sáng đó, thì đó là minh tánh giác. Từ đó thành ra đối đãi, đối đãi thì khởi hiện ra tất cả những thứ hiện tiền. Muốn trở về tánh giác phải dần buông xả những niệm mà quay lại tìm cái thật. Cho nên “Thú hướng chân như tổng thị tà” nghĩa là mình quay về tìm chân như thì đó cũng là tà, vì đó là cái đã sẵn. Cho nên vừa có giác minh để minh lại tánh giác, tức đã sai lầm. Thường thường tụi con thấy mình có chân tâm, có chân như, có Phật tánh nhưng cứ tìm nó, càng tìm thì càng không thấy. Tại sao vậy? Vì chân như tự nó lặng, tự nó như. Mình tìm nó là quấy động làm sao thấy được cái như. Chân tâm thì không dấy niệm, dấy niệm tìm nó thì làm sao mà thấy. Những cái lầm lẫn mà người tu thường hay mắc phải, cho nên tụi con cứ lặng vọng tưởng, rồi tỉnh sáng, đó là đủ. Đừng tìm kiếm cái gì hết, có tìm tức có sai lầm.

 

Ngoài ra tất cả tụi con, đứa nào tu mà tâm hay hơi thở được yên được lặng, thấy như khônghơi thở, tụi con đừng tưởng là mình hết thở. Chính khi đó thở bằng lỗ chân lông, nên mũi mình không nghe khì khịt nữa chớ không phải không có hơi thở. Thở bằng cách đó thì tâm yên, không còn cái động của hơi thở vô ra. Cho nên khi nào ngồi thiền mà tụi con thấy hơi thở như mất tiêu, đừng sợ. Cứ tỉnh táo, sáng suốt thì đúng, còn dấy niệm mình không có hơi thở nữa nên sợ chết thì sai lầm thành bệnh. Vậy là cái đúng mình không biết trở thành trật.

 

Ngoài ra, Thầy thấy rằng nhiều khi muốn giải tỏa chuyện vui buồn chung quanh, tụi con dùng phương tiện này phương tiện kia, nhưng cái gốc tụi con quên. Có cái gốc giải tỏa dễ như trở bàn tay, cái gốc là ngũ uẩn giai không. Tụi con biết năm uẩn là không, không này là không thật. Trong Trung Quán có nói: Tất cả cái gì duyên khởi, duyên sanh thì không có thể tánh, Thầy thường dùng hai từ là không cố định, không có thật thể, là duyên hợp. Nó là dòng chuyển biến nên không cố định, là duyên hợp nên không có gì có thể thực hết. Thực thể không có duyên hợp, duyên hợp thì không thực thể. Cái không thực thể, không cố định thì cái đó có thật đâu. Như vậy cuộc sống của mình, lăn lộn giữa cõi trần này chỉ là trò ảo mộng chơi thôi. Có gì thật. Không thật thì có gì quan trọng. Thôi thì sống cười cho vui rồi tới ngày bỏ thân giả tạm này thôi, chớ có gì. Nhớ vậy thì cái gì nó tới, tụi con thấy rõ ràng không thật, chỉ là giả tạm thôi. Đã là giả tạm có gì hơn thua phải quấycố chấp. Nhớ vậy là giải hết chẳng có gì phiền não.

 

Xưa, khi thầy giảng Trung Quán thầy làm bài thơ Mộng. Cuộc đời như giấc mộng chứ không gì hết, thì có thực thể ở đâu. Không thực thể thì làm sao nó thật, nó không có gì cố định hết. Tụi con thấy từng giây từng phút, nó chuyển biến, cái đang chuyển biến là không phải cố định, cái không cố định không thực thể đó chỉ là giả dối tạm bợï có gì đâu mà bận tâm, có gì đâu mà phiền não, mất thì giờ vô ích phải không? Nhớ vậy rồi tụi con cứ cười, sống không có gì buồn hết. Bởi vậy câu mà thầy đắc ý nhất là: Biết được mộng, tỉnh cơn mộng. Mình thấy rõ ràng cuộc đời như ảo mộng, thấy rõ như vậy rồi, mình là người đang tỉnh. Nếu mình thấy nó, có cái phải cái quấy thật, là mình đang mê thì tất cả các thứ phiền não từ đó mà theo nhau, nó không thể nào qua được. Nên tụi con thấy các vị thiền sư ngày xưa, có vị Thiền sư nào mà thấy thân thiệt đâu? Vì vậy mà các Ngài tự tại, có hai cái lợi lớn, lợi ích thứ nhất hiện sống không mê, lợi thứ hai bỏ thân nầy không tiếc phải không? Thấy nó là giả dốiảo tưởng như giấc mộng, thì chuyện gì còn mất như trò chơi. Tụi con sống được vậy, thì trước khi ra đi tạm biệt mọi người, tạm biệt chứ không phải vĩnh biệt, thầy nói tạm biệt, vì chưa có mãn cái quả phúc thì phải tiếp nối để mà làm chứ không phải ngang đây là hết. Vậy không có gì quan trọng hết, đó là cuộc sống rất tự tại, tự tại đó là nhờ trí tuệ cho nên chiếu kiến ngũ uẩn giai không, tất cả khổ ách đều qua. Còn mình chiếu không nổi thì thấy nó thiệt, nên không qua, rồi than thở sống trong cuộc đời sao nhiều chướng quá. Biết rõ sự thật thì nó không làm chướng ngại gì mình hết. Nếu tụi con tu trong thời gian một hai tháng, không có gì làm cho tụi con bận tâm, tự nhiên nó yên rất là dễ. Còn có chuyện gì bận tâm hôm qua hôm kia, thì thấy nó rồi cho tất cả đi qua rồi, không có gì quan trọng. Ngồi thiền được bao nhiêu cũng tốt còn không thì đi kinh hành cũng tốt. Cười hoài không có gì đáng buồn hết, biết nó là mộng rồi, mộng xấu mộng tốt gì cũng cuời vui, không có gì quan trọng. Đó là một điều chí lýđức Phật dạy rằng: Ai biết được lý duyên khởi thì người đó thấy đạo, thấy được đạo tức là thấy chân lý, thấy chỗ cứu cánh của cuộc đời biết nó là duyên khởi, là ảo mộng chớ không có thiệt. Thấy rõ như vậy thì tụi con tu hành không khó, nếu không thấy vậy tụi con tu sao khổ quá, đủ thứ chuyện rắc rối.

 

Hôm nay thầy nhắc tụi con như vậy, phải biết cách hoặc trừ nó từng phần hoặc trừ tổng quát. Tu như vậy tự nhiênan ổn không có gì sợ sệt. Giả sử người ta nói có ma có quỉ gì đó, thì biết thân này nó huyễn rồi, nó có giá trị gì đâu. Dù hiện ma hiện gì cũng là huyễn hết, thì mình không bị cái gì trở ngại, không ai làm cho mình kinh hoàng hết. Đó là cái gốc của sự tu.

 
 
 
___________________
 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Bảy 2019(Xem: 959)
30 Tháng Sáu 2019(Xem: 882)
29 Tháng Sáu 2019(Xem: 882)
28 Tháng Sáu 2019(Xem: 945)
27 Tháng Sáu 2019(Xem: 905)
26 Tháng Sáu 2019(Xem: 1026)
25 Tháng Sáu 2019(Xem: 1005)
24 Tháng Sáu 2019(Xem: 1096)
31 Tháng Năm 2019(Xem: 1208)
29 Tháng Năm 2019(Xem: 1351)
26 Tháng Năm 2019(Xem: 3137)
25 Tháng Năm 2019(Xem: 3116)
24 Tháng Năm 2019(Xem: 3609)
18 Tháng Tư 2019(Xem: 3438)
18 Tháng Tư 2019(Xem: 3478)
24 Tháng Chín 2018(Xem: 5392)
01 Tháng Mười Một 2017(Xem: 2547)
31 Tháng Mười 2017(Xem: 2209)
28 Tháng Mười 2017(Xem: 2667)
25 Tháng Chín 2017(Xem: 3242)
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 160)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 180)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 158)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
27 Tháng Ba 20203:30 CH(Xem: 123)
TRÌNH BÀY TÓM LƯỢC 4 CÕI - Trong 4 loại ấy, gọi là 4 cõi. Tức là cõi khổ, cõi vui, Dục-giới, Sắc-giới, cõi Vô-sắc-giới. NÓI VỀ 4 CÕI KHỔ - Trong nhóm 4 cõi ấy, cõi khổ cũng có 4 là: địa ngục, Bàng sanh, Ngạ quỉ và Atula. NÓI VỀ 7 CÕI VUI DỤC GIỚI -
26 Tháng Ba 20207:16 CH(Xem: 178)
Ni sư Kee Nanayon (1901-1979) là một trong những vị nữ thiền sư nổi tiếng ở Thái Lan. Năm 1945, bà thành lập thiền viện Khao-suan-luang dành cho các nữ Phật tử tu thiền trong vùng đồi núi tỉnh Rajburi, miền tây Thái Lan. Ngoài các bài pháp được truyền đi
24 Tháng Ba 20202:32 CH(Xem: 189)
Sự giải thoát tinh thần, theo lời dạy của Đức Phật, được thành tựu bằng việc đoạn trừ các lậu hoặc (ô nhiễm trong tâm). Thực vậy, bậc A-la-hán thường được nói đến như bậc lậu tận - Khināsava, bậc đã đoạn trừ mọi lậu hoặc. Chính vì thế, người đi tìm chân lý cần phải hiểu rõ những lậu hoặc này là gì, và làm cách nào để loại trừ được nó.
23 Tháng Ba 20203:56 CH(Xem: 219)
Rất nhiều sách trình bày nhầm lẫn giữa Định và Tuệ hay Chỉ và Quán, đưa đến tình trạng định không ra định, tuệ chẳng ra tuệ, hoặc hành thiền định hóa ra chỉ là những “ngoại thuật” (những hình thức tập trung tư tưởng hay ý chímục đích khác với định nhà Phật), và hành thiền tuệ lại có kết quả của định rồi tưởng lầm là đã chứng được
22 Tháng Ba 20209:08 CH(Xem: 177)
Everyone is aware of the benefits of physical training. However, we are not merely bodies, we also possess a mind which needs training. Mind training or meditation is the key to self-mastery and to that contentment which brings happiness. Of all forces the force of the mind is the most potent. It is a power by itself. To understand the real nature
21 Tháng Ba 20209:58 CH(Xem: 214)
Chúng ta lấy làm phấn khởi mà nhận thấy rằng hiện nay càng ngày người ta càng thích thú quan tâm đến pháp hành thiền, nhất là trong giới người Tây phương, và pháp môn nầy đang phát triễn mạnh mẽ. Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học khuyên
20 Tháng Ba 20208:30 CH(Xem: 190)
Bốn Sự Thật Cao Quý được các kinh sách Hán ngữ gọi là Tứ Diệu Đế, là căn bản của toàn bộ Giáo Huấn của Đức Phật và cũng là một đề tài thuyết giảng quen thuộc. Do đó đôi khi chúng ta cũng có cảm tưởng là mình hiểu rõ khái niệm này, thế nhưng thật ra thì ý nghĩa của Bốn Sự Thật Cao Quý rất sâu sắc và thuộc nhiều cấp bậc
17 Tháng Ba 20205:51 CH(Xem: 313)
Mindfulness with Breathing is a meditation technique anchored In our breathing, it is an exquisite tool for exploring life through subtle awareness and active investigation of the breathing and life. The breath is life, to stop breathing is to die. The breath is vital, natural, soothing, revealing. It is our constant companion. Wherever we go,
16 Tháng Ba 20204:16 CH(Xem: 304)
Giác niệm về hơi thở là một kỹ thuật quán tưởng cắm sâu vào hơi thở của chúng ta. Đó là một phương tiện tinh vi để thám hiểm đời sống xuyên qua ý thức tế nhị và sự điều nghiên tích cực về hơi thởđời sống. Hơi thở chính là đời sống; ngừng thở là chết. Hơi thở thiết yếu cho đời sống, làm cho êm dịu, tự nhiên, và năng phát hiện.
15 Tháng Ba 202012:00 CH(Xem: 251)
Phật giáođạo Phật là những giáo lý và sự tu tập để dẫn tới mục tiêu rốt ráo của nó là giác ngộgiải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Tuy nhiên, (a) mọi người thế tục đều đang sống trong các cộng đồng dân cư, trong các tập thể, đoàn thể, và trong xã hội; và (b) những người xuất gia dù đã bỏ tục đi tu nhưng họ vẫn đang sống tu
13 Tháng Ba 20209:16 CH(Xem: 227)
Người ta thường để ý đến nhiều tính cách khác nhau trong những người hành thiền. Một số người xem thiền như là một thứ có tính thực nghiệm, phê phán, chiêm nghiệm; những người khác lại tin tưởng hơn, tận tâm hơn, và xem nó như là lí tưởng. Một số có vẻ thích nghi tốt và hài lòng với chính mình và những gì xung quanh,
12 Tháng Ba 20209:36 SA(Xem: 347)
Kinh Đại Niệm Xứ - Mahāsatipaṭṭhāna được xem là bài kinh quan trọng nhất trên phương diện thực hành thiền Phật giáo. Các thiền phái Minh Sát, dù khác nhau về đối tượng quán niệm, vẫn không xa khỏi bốn lĩnh vực: Thân, Thọ, Tâm, và Pháp mà Đức Phật
10 Tháng Ba 20202:09 CH(Xem: 318)
Giới học thiền ở nước ta mấy thập niên gần đây đã bắt đầu làm quen với thiền Vipassanā. Số lượng sách báo về chuyên đề này được dịch và viết tuy chưa nhiều lắm nhưng chúng ta đã thấy tính chất phong phú đa dạng của Thiền Minh Sát hay còn gọi là Thiền Tuệ hoặc Thiền Quán này. Thiền Vipassanā luôn có một nguyên tắc nhất quán
10 Tháng Ba 202010:20 SA(Xem: 304)
Trong tất cả các thiền sư cận đại, bà Achaan Naeb là một thiền sư đặc biệt hơn cả. Bà là một nữ cư sĩ đã từng dạy thiền, dạy đạo cho các bậc cao tăng, trong đó có cả ngài Hộ Tông, Tăng thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam cũng đã từng theo học thiền với bà một thời gian. Năm 44 tuổi, Bà đã bắt đầu dạy thiền
08 Tháng Ba 202011:08 SA(Xem: 258)
A.B.: Đầu tiên, khi họ hỏi Sư: “Sư có muốn nhận giải thưởng này không?” và Sư đã đồng ý. Nhưng phản ứng đầu tiên ngay sau đó là: “Tại sao Sư lại muốn nhận giải thưởng này? Sư là một nhà Sư Phật Giáo, đây là việc một nhà Sư (cần phải) làm. Là một nhà Sư, chúng ta đi truyền giáo, đi phục vụ, và chúng ta không nhất thiết phải đòi hỏi
07 Tháng Ba 20205:16 CH(Xem: 330)
Biên tập từ các bài pháp thoại của ngài Thiền sư Ajahn Brahmavamso trong khóa thiền tích cực 9 ngày, vào tháng 12-1997, tại North Perth, Tây Úc. Nguyên tác Anh ngữ được ấn tống lần đầu tiên năm 1998, đến năm 2003 đã được tái bản 7 lần, tổng cộng 60 ngàn quyển. Ngoài ra, tập sách này cũng đã được dịch sang tiếng Sinhala
06 Tháng Ba 20209:21 SA(Xem: 333)
Trước khi nói về phương pháplợi ích của thiền Minh Sát Tuệ, chúng ta cần điểm qua một số vấn đề liên quan đến "pháp môn thiền định" Phật giáo. Gần đây, dường như pháp môn thiền của Phật giáo bị lãng quên và không còn đóng vai trò quan trọng
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 696)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2287)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3681)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
30 Tháng Ba 20209:02 CH(Xem: 160)
With so many books available on Buddhism, one may ask if there is need for yet another text. Although books on Buddhism are available on the market, many of them are written for those who have already acquired a basic understanding of the Buddha Dhamma.
29 Tháng Ba 20209:50 SA(Xem: 180)
Với số sách Phật quá nhiều hiện nay, câu hỏi đặt ra là có cần thêm một cuốn nữa hay không. Mặc dù có rất nhiều sách Phật Giáo, nhưng đa số đều được viết nhằm cho những người đã có căn bản Phật Pháp. Một số được viết theo văn chương lối cổ, dịch nghĩa
28 Tháng Ba 202010:51 SA(Xem: 158)
Quan niệm khổ của mỗi người tùy thuộc vào hoàn cảnh trong cuộc sống hiện tạitrình độ nhận thức của mỗi người. Cho nên con đường giải thoát khổ của mỗi người cũng phải thích ứng theo nguyện vọng của mỗi người. Con đường giải thoát khổ này hướng dẫn
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 347)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 517)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 506)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 709)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 882)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
24 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 6010)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻhạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;