Biết Và Thấy - Knowing And Seeing

26 Tháng Chín 20173:54 CH(Xem: 9114)
Biết Và Thấy - Knowing And Seeing

KnowingAndSeeing_1A

BietVaThay_1


Biết Và Thấy - Knowing And Seeing

Pa-Auk Tawya Sayadaw

Dịch giả: Pháp Thông

Nhà xuất bản Tôn Giáo 2012

Nguồn: dhammatalks.net, vienkhong.org, thuvienhoasen.org

 

__________________

MỤC LỤC  CONTENTS

Lời Giới Thiệu: Giáo Pháp Của Đức Phật

 

Bài Pháp Thoại 1: Làm Thế Nào Để Tu Tập Niệm Hơi Thở Đạt Đến An Chỉ Định - Hỏi & Đáp 1

 

Bài Pháp Thoại 2: Hành Giả Tu Tập An Chỉ Định Trên Các Đề Mục Thiền Khác Như Thế Nào - Hỏi & Đáp 2

 

Bài Pháp Thoại 3: Tu Tập Bốn Phạm TrúBốn Thiền Bảo Hộ - Hỏi & Đáp 3

 

Bài Pháp Thoại 4 - Làm Thế Nào Để Phân Biệt Sắc - Hỏi & Đáp 4

 

Bài Pháp Thoại 5: Phân Biệt Danh - Hỏi & Đáp 5

 

Bài Pháp Thoại 6: Làm Thế Nào Để Thấy Những Mắc Xích Của Duyên Khởi - Hỏi & Đáp 6

 

Bài Pháp Thoại 7: Tu Tập Các Tuệ Minh Sát Như Thế Nào Để Thấy Niết-Bàn - Hỏi & Đáp 7

 

Bài Pháp Thoại 8: Những Ước Nguyện Của Đức Phật Cho Các Hàng Đệ TửGiáo Pháp Của Ngài

 

Bài Pháp Thoại 9: Loại Cúng Dường Cao Thượng Nhất

 

"Bhikkhus, I say that the destruction of the
taints is for one who knows and sees, not
for one who does not know and see."
(Này các Tỳ khưu, Ta nói có sự đoạn trừ
các lậu hoặc cho người biết và thấy, chứ
không cho người không biết, không thấy.)

 

Tables

Contents in Detail

Foreword (First Edition)

Introduction (Revised Edition)

 

1: How You Develop Mindfulness-of-Breathing to Absorption

Questions and Answers 1

 

2: How You Develop Absorption on Other Subjects

Questions and Answers 2

 

3: How You Develop the Sublime Abidings and Protective Meditations

Questions and Answers 3

 

4: How You Discern Materiality

Questions and Answers 4

 

5: How You Discern Mentality

Questions and Answers 5

 

6: How You See the Links of Dependent Origination

Questions and Answers 6

 

7: How You Develop the Vipassanā Knowledges to See Nibbāna

Questions and Answers 7

 

8: The Buddha’s Wishes for His Disciples and His Teachings

 

9: The Most Superior Type of Offering

 

The Forty Meditation-Subjects

Editorial Notes

Bibliographical Abbreviations

Appendix 1: Glossary of Untranslated Pali Terms

Appendix 2: Contact Addresses

Index of Questions from Yogis

Main Index

__________________

BÀI PHÁP THOẠI 8

 

Những Ước Nguyện Của Đức Phật Cho Các Hàng Đệ Tử Và Giáo Pháp Của Ngài

(Bài giảng nhân ngày lễ Vesākha)

 

ĐỨC PHẬT TỪ BỎ THỌ HÀNH `

 

(Thọ hành (āusankhārā) theo Chú Giải biểu thị cho chính tuổi thọ (āyu), một từ được xác nhậnđồng nghĩa với mạng căn (jīvitindriya), có chức năng duy trì sự sống. Xem N.444/MN.)

 

Mùa hạ (Vassa) cuối cùng, đức Phật trải qua trong ngôi làng Veḷuna. Thời gian ấy, một cơn đau kịch liệt khởi lên nơi Ngài. Vào ngày trăng tròn tháng Asāḷha(tháng 6), một cơn đau lưng buốt nhức cực độ bất ngờ tấn công Ngài, do nghiệp đời trước.

 

Một trong những tiến kiếp của Ngài, đức Phật đã từng là võ sĩ. Có lần Ngài đã đánh ngã một đối thủ và làm gãy lưng người này. Bất thiện nghiệp ấy khi chín muồi đã cho quả của nó, đó là mười tháng trước ngày nhập Vô Dư Niết-bàn của Ngài. Nghiệp quả ấy mạnh đến độ kéo dài cho đến lúc chết. Một thọ khổ như vậy được gọi là "thọ (khổ) chấm dứt vào lúc chết" (maranatikavedanā), tức là nó chỉ dừng lại khi cái chết xảy ra.

 

Đức Phật đã ngăn không cho thọ khổ đó khởi lên nhờ nhập A-la-hán Thánh quả định (Arahattaphala samāpatti) và thực hiện một quyết định (adhiṭṭhāna). Trước tiên, đức Phật nhập A-la-hán Thánh quả định dựa trên bảy cách quán sắc (rūpa sattaka vipassanā). Sau khi hành những pháp quán ấy xong và ngay trước khi nhập vào A-la-hán Thánh quả định, đức Phật quyết định: "Kể từ hôm nay cho đến ngày Niết-bàn, mong cho những thọ khổ này không khởi lên", sau đó Ngài mới nhập Thánh quả định. A-la-hán Thánh quả định là tâm quả A-la-hán với Niết-bàn làm đối tượng, khởi lên liên tục trong một thời gian dài. Do việc hành vipassanātrước đó kiên trì và mãnh liệt mà A-la-hán Thánh quả định cũng mãnh liệt và kiên trì như vậy. Chính nhờ nỗ lực của minh sátđịnh lực của Thánh quả mà thọ khổ đã không khởi lên trong mười tháng còn lại cho đến ngày Đại Niết-bàn của đức Phật. Nhưng trong thời gian đó, mỗi ngày đức Phật đều phải nhập Thánh quả đều đặn.

 

Sau mùa an cư (Vassa), đức Phật vân du từ nơi này đến nơi khác, và cuối cùng đến tại Tỳ - xá - ly (Vesālī). Ba tháng trước ngày trăng tròn tháng Vesāka(rằm tháng Tư), tức là vào ngày rằm tháng Giêng tại ngôi tháp Cāpāla(Cāpāla cetiya), đức Phật quyết định xả bỏ thọ hành (āyusankhāra ossajana), nghĩa là, vào ngày đó Ngài quyết định:

 

"Temāsamattameva pana samāpattiṃsamāpajjitvā tato paraṃna samāpajjissāmīti cittaṃsamāpajjitva cittaṃuppādasi"

(Từ hôm nay cho đến trăng tròn tháng Vesākhata sẽ thực hành Thánh quả định này. Rồi sau đó ta sẽ không hành pháp ấy nữa.)

 

ĐỨC PHẬT TUYÊN BỐ NHỮNG ƯỚC NGUYỆN CỦA NGÀI 

 

Vào ngày đó, trước chúng Tăng tỳ khưu tại đại giảng đường của chùa mahàvana, đức Phật thông báo Ngài xả bỏ thọ hành. Ngài nói với chúng tỳ khưu:

 

"Tasmātiha bhikkhave ye te mayā dhammā abhiññā desitā, te vo sādhukaṃuggahetva āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā.

(Này chư tỳ khưu, ta đã giải thích rõ những Chân lý (dhamma) mà ta đã tự mình thắng tri cho các người. Các người cần phải khéo học tập, trau dồi, tu tậpthực hành thường xuyên những pháp ấy).

 

Như vậy, đức Phật chỉ dạy pháp mà Ngài đã tự chứng. Ở đây đức Phật tuyên bố những ước nguyện của Ngài cho Giáo Pháp và chỉ dạy Tăng chúng:

 

1. Tăng chúng cần phải nắm vững những lời dạy của Ngài, nhưng nắm vững thôi thì chưa đủ. Đây là ước nguyện thứ nhất của đức Phật.

 

2. Ngài chỉ dạy Tăng chúng nên trau dồi pháp. Trong Pāḷithường gọi là sevitabbā, có nghĩa rằng chúng ta phải cố gắng hiểu pháp này bằng sự thực hành thường xuyên, nên chúng tôi dịch là trau dồi. Đây là ước nguyện thứ hai của đức Phật.

 

3. Cuối cùng Ngài chỉ dạy Tăng chúng phải tu tập (bhāvetabbā) các pháp. Khi chúng ta trau dồi, nhất thiết phải có sự tăng trưởngtiến bộ.

 

Điều đó có nghĩa là gì? Khi chúng ta hành pháp, chỉ có những thiện pháp (kusala dhamma) khởi lên trong tiến trình tâm của chúng ta. Các thiện pháp đó là, giới thiện pháp (sīla kusaladhamma), định thiện pháp (samādhi kusaladhamma) và tuệ thiện pháp (paññā kusaladhamma). Những thiện pháp này phải khởi lên không gián đoạn cho đến quả vị A-la-hán. Nếu một vị Thanh Văn đệ tử (Sāvaka) của đức Phật đắc A-la-hán Thánh quả thì việc thực hành (bhāvanā) của họ kể như hoàn tất. Vì thế, một đệ tử của đức Phật phải thực hành những lời dạy của đức Phật cho đến khi đạt đến cứu cánh, tức là sự trau dồi phải được phát triển cho đến Thánh quả A-la-hán. Để đạt đến A-la-hán Thánh quả chúng ta phải thực hành thường xuyên. Vì lý do đó, đức Phật đã đưa ra lời chỉ dẫn "bahulīkātabba", có nghĩa là chúng ta phải thực hành một cách thường xuyên. Đây là ước nguyện thứ ba của đức Phật.

 

Những ước nguyện này vì sao lại khởi lên trong tiến trình tâm của đức Phật?

 

"Yathayidaṃbrahmacariyaṃaddhaniyaṃassa ciraṭṭhikikaṃ."

(Để cho lời dạy thuần tịnh này có thể được an lậpbền lâu).

 

Đó là, duy trì lời dạy thuần tịnh này sao cho nó có thể bền vững trong một thời gian lâu dài.

 

PHẬN SỰ CỦA CHÚNG TA VỚI TƯ CÁCH LÀ NHỮNG PHẬT TỬ

 

Duy trì lời dạy này không để cho thất tán là bổn phận hết sức quan trọng của mỗi người Phật tử. Do đó, chúng ta phải cố gắng:

 

- Nắm vững (hiểu rõ) tất cả những lời dạy của đức Phật.

- Thực hành những lời dạy của đức Phật như thế nào để hiểu được pháp ấy qua kinh nghiệm tự thân.

- Thực hành những lời dạy đó cho đến quả vị A-la-hán.

 

Đây là những bổn phận của mọi Phật tử. Là một Phât tử, chúng ta phải theo những chỉ dẫn này. Nếu không theo những điều này, chúng ta chỉ là Phật tử trên danh nghĩa chứ không phải người Phật tử chân chánh. Tóm lại, người nào hành theo ba phận sự này một cách triệt để, người ấy là một Phật tử chân chánh. Vì thế, hôm nay quý vị có thể quyết định:

 

- Ta sẽ cố gắng nắm vững tất cả những lời dạy của đức Phật.

- Ta sẽ cố gắng thực hành những lời dạy ấy để hiểu được chúng qua kinh nghiệm tự thân.

- Ta sẽ thực hành những lời dạy của đức Phật cho đến quả vị A-la-hán.
...

TALK 8:


The Buddha’s Wishes For His Disciples And His Teachings

(Talk given on Vesākha Day)

 

THE BUDDHA RELINQUISHES THE WILL TO LIVE

 

The Buddha spent His last rains (vassa) in the village of Veḷuva. At that time there arose in Him a severe affliction. On the full-moon day of Asāḷha, a sharp and deadly back pain came upon Him, because of previous kamma.

 

In one of his past lives, the Bodhisatta, who was to become Sakyamuni Buddha, was a wrestler. Once he threw down an opponent and broke the opponent’s back. When mature, that unwholesome kamma (akusala•kamma) produced its result, which was ten months before Sakyamuni Buddha’s Parinibbāna. The effect of that kamma was so powerful that it would last until death. Such an affliction is called ‘feeling ending at death’ (mara •antika•vedāna). It ceases only when death occurs.

 

The Buddha prevented that affliction from arising through entering an Arahant Fruition and making a determination (adhi hāna). First The Buddha entered the Arahant-Fruition Attainment (Arahatta•Phala•Samāpatti) based on the Seven Ways for Materiality (rūpa•sattaka•vipassanā) and Seven Ways for Mentality (a•rūpa•sattaka•vipassanā). After those vipassanā practices and just before entering the Arahant Fruition-Attainment, The Buddha determined:

 

From today until the day of my Parinibbāna, may this affliction not occur.

 

And then He entered the Arahant Fruition-Attainment. Arahant Fruition-Attainment means that the Arahant Fruition-Consciousness, with Nibbāna as object, occurs continuously for a long time. Because the vipassanā practices were strong and powerful, the Arahant Fruition-Attainment too was strong and powerful. Because of the effort of the vi-passanā and the effort of the Fruition-Attainment the affliction did not occur in the ten months that were left until the day of The Buddha’s Parinibbāna. But He had to enter that Fruition-Attainment every day until then.

 

After the vassa, The Buddha wandered from place to place, and eventu-ally reached Vesālī. Three months before Vesākha full-moon day, on the full-moon day of February, at the Cāpāla Cetiya, The Buddha decided to relinquish the will to live (āyu•sa khāra ossajjana). What does that mean? On that day He decided:

 

Temāsamattameva pana samāpatti samāpajjitvā tato para na samāpaj-jissāmīti citta uppādesi.

 

From today until the full-moon day of Vesākha I shall practise this Fruition Attainment. Then I shall no longer practise it.

 

THE BUDDHA DECLARES HIS WISHES

 

So on that day, in front of the assembled Bhikkhu Saṅgha, in the assembly hall of the Mahāvana monastery, The Buddha announced that He had relinquished the will to live. He said to the Bhikkhu Saṅgha:

 

Tasmātiha bhikkhave ye te mayā dhammā abhiññā desitā, te vo sādhuka uggahetva āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā.

 

Bhikkhus, you, to whom I have made known  the Truths about which I have direct knowledge, having thoroughly learnt them, should cultivate them, develop them, and frequently practise them.

 

The Buddha taught only the Dhamma about which He had direct experience. Here The Buddha declared His wishes for His teachings, and instructed the Saṅgha as follows:

 

1) They should learn His Teachings (Dhamma) thoroughly by heart, but learning by heart alone is not enough. This was The Buddha’s first wish.

 

2) He instructed them to cultivate His Teachings (Dhamma). In Pali it is called āsevitabbā, and means that we must try to know this Dhamma in practice again and again. It is translated as cultivation. This was The Buddha’s second wish.

 

3) Finally, He instructed them to develop (bhāvetabbā) the Truths. When we cultivate, growth and progress are necessary.

 

What does that mean? When we practise the Dhamma, only wholesome dhammas (kusala•dhamma) must occur in our mental processes. That is, wholesome morality dhammas (sīla•kusala•dhamma), wholesome concentration dhammas (samādhi•kusala•dhamma) and wholesome wisdom dhammas (paññā•kusala•dhamma). These wholesome dhammas must occur without a break until Arahantship. If a disciple (sāvaka) of The Buddha attains Arahantship, his practice (bhāvanā) is over. So a disciple of The Buddha must practise The Buddha’s Teachings until he attains that goal: the cultivation must be developed until Arahantship. To reach Arahantship, we must practise again and again. For that reason The Buddha gave the instruction of bahulīkātabbā, which means we must practise frequently. This was The Buddha’s third wish.

 

These wishes occured in The Buddha’s mental processes. Why?

 

Yathayida brahmacariya addhaniya assa cira hitika.

 

So that the pure Teaching may be established and last long.

 

That is, to maintain the pure Teaching so that it can last for a long time.

 

OUR DUTY AS BUDDHISTS

 

It is very important that every Buddhist maintains the pure Teaching, so that it is not lost. We must try. What should we try to do? We repeat:

 

1) We should try to learn The Buddha’s Teachings (Dhamma) thoroughly by heart.

 

2) We should try to practise The Buddha’s Teachings so as to know them through personal experience.

 

3) We should try to practise The Buddha’s Teachings until Arahantship.

 

These are the duties of all Buddhists. If one is a Buddhist one must follow these three instructions. If one does not follow them then one is a Buddhist in name only: not a real Buddhist. If one follows these three instructions thoroughly, then one is a real Buddhist. So you can today determine:

 

1) We will try to learn The Buddha’s Teachings thoroughly by heart.

 

2) We will try to practise The Buddha’s Teachings so as to know them through personal experience.

 

3) We will try to practise The Buddha’s Teachings until Arahantship.

...


__________________


Biết Và Thấy 
1_PDFBietVaThay_B (Nguyên Tập)


__________________


Knowing And Seeing
1_PDF
KnowingAndSeeing (Whole Book)


__________________


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười 2020(Xem: 9730)
22 Tháng Bảy 2020(Xem: 4740)
19 Tháng Bảy 2020(Xem: 5647)
18 Tháng Bảy 2020(Xem: 4533)
09 Tháng Bảy 2020(Xem: 3861)
23 Tháng Mười Hai 20209:43 CH(Xem: 4203)
Thiền mà Thầy hướng dẫn có một điều đặc biệt, đó là lý thuyếtthực hành xảy ra cùng một lúc chứ không mất thời gian tập luyện gì cả. Khi nghe pháp thoại mà một người thấy ra được vấn đề một cách rõ ràng thì ngay đó người ấy đã "thiền" rồi, chứ không có gì để mang về áp dụng hay hành theo cả. Thiền mục đích chỉ để thấy ra
22 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 4164)
Các vị Đạt Lai Lạt Ma [trong quá khứ ] đã nhận lãnh trách nhiệm như là những vị lãnh đạo chính trị và tâm linh của Tây Tạng trong suốt 369 năm từ năm 1642 cho đến nay. Giờ đây, bản thân tôi [Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Tenzin Gyatso] đã tình nguyện chấm dứt [việc nhận lãnh trách nhiệm] như trên. Tôi hãnh diệnhài lòng là giờ đây
21 Tháng Mười Hai 202011:35 CH(Xem: 3375)
Con không thể bỏ nhậu được vì do bản thân con không thể bỏ được rượu bia và vì trong công việc, gặp đối tác, bạn bè, người thân thì thường nhậu vài chai bia (trung bình 4-5 lần tháng). Con cảm thấy việc gặp gỡ và uống bia như thế cũng không có gì là tội lỗi và cũng cần thiết cho công việc và duy trì mối quan hệ xã hội. Nhưng sau một thời gian
20 Tháng Mười Hai 202011:53 CH(Xem: 3671)
Những kẻ đang gieo nhân cướp của giết người và những người đang chịu quả khổ báo đều là "các chúng sanh nhân vì trước kia chứa nhóm các nhiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ" thì đã có Bồ-Tát Phổ Hiền đại từ, đại bi, đại nhẫn, đại xả... chịu thay hết rồi, con đừng có dại mà đem cái tình hữu hạn của con vào giải quyết giùm họ
15 Tháng Mười Hai 202010:03 CH(Xem: 3797)
Phật giáo giảng rằng mọi vật thể và mọi biến cố, tức mọi hiện tượng trong thế giới này là « ảo giác », « bản thể tối hậu » của chúng chỉ là « trống không ». Bản chất của tất cả những gì xảy ra chung quanh ta, trong đó kể cả bản thântâm thức của ta nữa, đều « không thật », tức « không hàm chứa bất cứ một sự hiện hữu tự tại
14 Tháng Mười Hai 202010:57 CH(Xem: 3409)
Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, và chỉ còn lại Đạo Pháp được lưu truyền cho đến ngày nay. Thế nhưng Đạo Pháp thì lại vô cùng sâu sắc, đa dạng và khúc triết, đấy là chưa kể đến các sự biến dạngthêm thắt trên mặt giáo lý cũng như các phép tu tập đã được "sáng chế" thêm để thích nghi với thời đại, bản tính
13 Tháng Mười Hai 202011:25 CH(Xem: 3885)
Vipassana có thể được dịch là “Tuệ”, một sự tỉnh giác sáng suốt về những gì xuất hiện đúng như chính chúng xuất hiện. Samatha có thể được dịch là “Định” (sự “tập trung”, quán; hay sự “tĩnh lặng”, tịnh, chỉ). Đây là một trạng thái mà tâm được đưa vào sự ngưng nghỉ, chỉ hội tụ duy nhất vào một chủ đề, không được phép lang thang.
12 Tháng Mười Hai 202010:58 CH(Xem: 3656)
Thầy đã từng nói "dù sự cố gì trên đời đến với mình đều có lợi, không có hại" và đều có nhân duyên hợp tình hợp lý của nó. Vì mình nghĩ theo hướng khác nên mới có cảm giác như những sự cố đó nghịch lại với mình thôi. Sở dĩ như vậy vì mọi sự đều do duyên nghiệp chính mình đã tạo ra trong quá khứ, nay đương nhiên phải gặt quả.
10 Tháng Mười Hai 202011:10 CH(Xem: 3956)
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn. Nếu không thì chúng ta sẽ luôn sống trong ảo tưởngniềm tin mơ hồ về những cái không thậtcoi thường việc phát triển các giá trị tinh thần cho đến khi quá trễ. Có một câu chuyện ngụ ngôn về tâm lý này của con người
08 Tháng Mười Hai 202011:04 CH(Xem: 3842)
Con nói đúng, nếu về quê con sẽ có một cuộc sống tương đối bình yên, ít phiền não, ít va chạm, nhưng chưa chắc thế đã là tốt cho sự tu tập của mình. Môi trường nào giúp mình rèn luyện được các đức tính, các phẩm chất Tín Tấn Niệm Định Tuệ, các ba la mật cần thiết cho sự giác ngộ, môi trường ấy là môi trường lý tưởng để tu tập.
06 Tháng Mười Hai 20208:18 CH(Xem: 3798)
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ? Câu trả lời: Chắc là không. Nếu bạn sẵn lòng suy nghĩ về đề tài này, có thể bạn thà chết ở nhà với người thân bên cạnh. Bạn muốn được ra đi mà không phải đau đớn. Muốn còn nói năng được
05 Tháng Mười Hai 202011:21 CH(Xem: 4396)
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 3716)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 3539)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 3254)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 3470)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 3442)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 3441)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 3702)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 3213)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 4312)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 5913)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 7848)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 4194)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 4129)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 3693)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 3965)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 9730)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 3263)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 3373)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 6277)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 5597)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng