Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01, Phẩm Song Yếu - The Dhammapada, Chapter 01, The Twin Verses

01 Tháng Mười Một 201812:43 CH(Xem: 627)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01, Phẩm Song Yếu - The Dhammapada, Chapter 01, The Twin Verses

Chapter01-1A


Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01, Phẩm Song Yếu
The Dhammapada, Chapter 01, Yamakavagga: The Twin Verses

(Kệ 01-20 - Verses 01-20)

Translated by Nārada Mahāthera - Người dịch: Phạm Kim Khánh, 1971
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: home.nethere.net/dsparks/Narada, budsas.net  

__________________

dhp001_B
Verse-Kệ 01

1. SONG YẾU - YAMAKA(1) VAGGA


Làm ác gặp dữ

1. Manopubbaṅgamā dhammā 2 - manoseṭṭhā manomayā

Manasā ce paduṭṭhena - bhāsati vā karoti vā

Tato naṁ dukkhamanveti -cakkam'vā vahato padaṁ.


1. Tâm dẫn đầu các tâm sở (bất thiện) 3. Tâm là chủ. Tâm tạo tất cả (các tâm sở bất thiện). Nếu nói hay làm với tâm ác, do đó, đau khổ sẽ theo liền với ta như bánh xe lăn theo dấu chơn con bò (kéo xe) 1.


Tích chuyện


Một người đứng tuổi có tâm đạo nhiệt thành, tên Cakkhupāla, xuất gia theo Đức Phật và tận lực chuyên cần tu niệm. Nếp sống kiên trì cố gắng sớm đưa vị Tỳ-khưu chơn chánh ấy đến đạo quả A-La-Hán 4, từng thánh cùng tột. Nhưng không may, Ngài bị mù hai mắt.

Ngày kia, khi đi kinh hành, Ngài vô tình làm chết nhiều côn trùng. Vài vị Tỳ-khưu ở nơi khác đến viếng, thấy có dấu máu trên đường kinh hành, mách với Đức Phật rằng Ngài đã phạm giới sát sanh. Đức Phật giải thích rằng Đại đức Cakkhupāla đã đắc quả A-La-Hán, không cố ý mà chỉ vô tình làm chết những côn trùng ấy.

Lúc bấy giờ các vị Tỳ-khưu muốn biết tại sao Đại đức Cakkhupāla lại phải bị mù.

Đức Phật thuật rằng trong một kiếp sống trước kia, làm lương y, chính Đại đức Cakkhupāla có chữa bệnh đau mắt cho một thiếu phụ nghèo. Bà hứa đến lúc khỏi bệnh, bà và con gái bà sẽ về làm công trong nhà ông lương y. Thuốc quả thật công hiệu, nhưng bà không giữ lời hứa, viện lẽ rằng mắt bà còn tệ hơn trước. Vị lương y ác độc liền nảy sanh một ý tưởng tội lỗi. Để trả thù, ông cho thiếu phụ nghèo một thứ thuốc làm mù luôn cả hai mắt. Do nghiệp ác trong quá khứ, tuy vị Tỳ-khưu đã đắc quả A-La-Hán, vẫn phải mang tật mù.

Đây là phương diện nhân quả tương xứng (gieo giống nào thì gặt giống nấy) của định luật Nghiệp báo. Còn một phương diện nữa là quả trổ liên tục (như một nhà bác học, thâu thập kiến thức trong đời sống, đến lúc chết và tái sanh, những kiến thức ấy là nhân sanh quả trong kiếp sống mới).

Một vị A-La-Hán, dầu đã thanh lọc mọi ô nhiễm, vẫn còn phải gặt hái những quả mà chính Ngài đã gieo trong quá khứ xa xôi.

Chư Phật và chư vị A-La-Hán không còn tạo nghiệp mới vì các Ngài đã tận diệt mọi căn cội - vô minh và ái dục - nhưng, cũng như tất cả chúng sanh khác, các Ngài không thể tránh khỏi hậu quả dĩ nhiên của những hành động, tốt và xấu, của chính các Ngài trong quá khứ.


Chú thích

1. Yamaka - có nghĩa là một cặp, một đôi. Chương, hay phẩm (Vagga), này gọi là Yamaka vì gồm mười cặp những câu song song.

2. Dhamma - là một danh từ có rất nhiều ý nghĩa, thường được dịch là Pháp. Trong hai câu Pháp cú đầu tiên này, dhamma có nghĩa là nghiệp (kamma hay karma), tức là tác ý (cetanā) và những tâm sở khác cùng nằm chung trong một loại tâm nào đó, thiện hay bất thiện. Như trường hợp câu đầu thì dhamma là những tâm sở (cetasika) xấu, bất thiện. Nếu không có tâm hay thức tức nhiên các tâm sở ấy không thể phát sanh. Do đó tâm là cái đến trước, tâm dẫn đầu tất cả những tâm sở thiện và bất thiện. Trong các tâm sở, (cetanā) hay tác ý là quan trọng hơn hết. Chính tác ý (cetanā) tạo nghiệp bởi vì, như Đức Phật dạy: "Như Lai tuyên bố, chính tác ý là Nghiệp".

Tâm dẫn đầu mọi hành động và tác dụng như thành phần chánh yếu trong khi tác hành, cũng như trong khi quyết định hoạt động. Chính tâm điều khiển và tạo tác hành động, bằng Thân, Khẩu, hay Ý.

Trong cặp song yếu này Đức Phật nhấn mạnh vào vai trò rất quan trọng của tâm trong đời sống con người, và từ đó, Đức Phật giải thích bằng cách nào hành động có thể trở nên tốt hay xấu, thiện hay bất thiện, tùy theo trạng thái tâm. Cuối cùng Ngài nhắc đến những hậu quả dĩ nhiên phải có của những hành động tương tợ và nêu lên hai thí dụ điển hình.

3. "Sự vật đi theo tâm" - Bà Rhys Davids.

"Bản chất (tinh thần) là kết quả của những gì ta tư tưởng" - Radhakrishnan.

"Chúng ta như thế nào, tất cả đều là hậu quả của những gì chúng ta tư tưởng". - Irving Babbit.

4. A-La-Hán - Arahat, đúng theo nghĩa uyên nguyên của danh từ, là Ứng Cúng, xứng đáng cho chúng sanh lễ bái cúng dường, hay bậc hoàn toàn Trong Sạch, vì đã tận diệt mọi khát vọng. Bậc A-La-Hán không còn tích trữ nghiệp mới vì đã diệt trừ trọn vẹn Tham, Sân, Si. Ngài đã chấm dứt cả sanh lẫn tử. Ngài còn có thể gặt hái quả lành hay dữ của nghiệp đã tạo trong quá khứ cho đến hết kiếp sống cuối cùng.

Yamaka1 Vagga - The Twin Verses

EVIL BEGETS EVIL 

1. Manopubbangama dhamma 2 
            manosettha manomaya
Manasa ce padutthena 
            bhasati va karoti va
Tato nam dukkhamanveti 
            cakkam'va vahato padam. 1.

1. Mind is the forerunner of (all evil) states. 3 Mind is chief; mind-made are they. If one speaks or acts with wicked mind, because of that, suffering follows one, even as the wheel follows the hoof of the draught-ox. 1.

Story

    A middle-aged devout person, named Cakkhupala, became a monk and was energetically leading a contemplative life. As a result of his strenuous endeavour he realized Arahantship, 4 the final stage of Sainthood, but unfortunately went blind.

One day as he was pacing up and down the ambulatory he unintentionally killed many insects. Some visiting monks, noticing the blood-stained ambulatory, complained to the Buddha that he had committed the offence of killing. The Buddha explained that the monk had killed them unintentionally and that he was an Arahant.

The monks then wished to know the cause of his blindness.

The Buddha related that in a past birth, as a physician, that particular monk had given an ointment to a poor woman to restore her eyesight. She promised that, with her children, she would become his servants if her eyesight was restored. The physician's remedy proved effective, but the woman, not willing to keep her promise, pretended that her eyes were getting worse. The cruel physician, yielding to a wicked thought, retaliated by giving her another ointment which blinded her eyes. In consequence of his past evil action the Arahant became blind.

This is the retributive aspect of the law of Kamma, the other being the continuative aspect, that is - the transmission of individual characteristics, impressions, tendencies, etc. throughout one's wanderings in Samsara.

An Arahant, though free from all impurities, has to reap the fruit of the seed he himself had sown in the remote past.

The Buddhas and Arahants do not accumulate fresh Kamma as they have eradicated the roots - ignorance and craving- but, as every other being, they are not exempt from the inevitable consequences of both good and bad past actions.

NOTES:

1  Yamaka means a pair. This chapter is so named because it consists of ten pairs of parallel verses.

2  Dhamma is a term of many meanings. Here it is used in the sense of Kamma or Karma which denotes volition (cetana) and the other accompanying mental states found in any particular moral or immoral type of consciousness. In this verse the term Dhamma refers to evil mental states (cetasikas). Without a mind or consciousness no such mental states arise. Hence mind is the forerunner of all good and bad mental states. Cetana or volition is the most important of all mental states. It is this volition that constitutes Kamma, for the Buddha says - "I declare that cetana (volition) is Kamma".

Mind precedes all actions and serves as the principal element both in performing and in assessing deeds. It is mind that rules and shapes action. Words and deeds are also produced by mind.

In this pair of parallel verses the Buddha emphasizes the great part the mind plays in man's life, and then explains how deeds become good or evil according to the pure and impure state of the mind. Lastly He speaks of the inevitable consequences of such deeds, giving two homely illustrations.

3  "Things are forerun by mind" - Mrs. Rhys Davids. "(The mental) natures are the result of what we have thought" - Radhakrishnan. "All that we are is the result of what we have thought" -Irving Babbit.

4  Arahant, literally, means a Worthy One or a Pure One who has destroyed all passions. He accumulates no more fresh Kamma to condition a future rebirth as he has eradicated ignorance and craving. He has put an end to both birth and death. He may reap the effects of his past good and bad Kamma till the expiration of the life-term of his last existence.


dhp002_B
Verse-Kệ 
02

Hành thiện gặp lành

2. Manopubbaṅgamā dhammā 1manoseṭṭhā manomyā

Manasā ce pasannena bhāsati vā karoti vā

Tato naṁ sukhamanveti - chāyā'va anapāyinī.


2. Tâm dẫn đầu các tâm sở (thiện). Tâm là chủ. Tâm tạo tất cả (các tâm sở thiện). Nếu nói hay làm với tâm trong sạch, do đó, hạnh phúc sẽ theo liền với ta như bóng không bao giờ rời (hình)2 2.

Tích chuyện

Maṭṭakuṇḍali là con trai duy nhứt của một nhà triệu phú keo kiết. Hôm nọ chàng lâm trọng bệnh và sắp chết đến nơi vì ông cha triệu phú của chàng không nỡ tiêu xài món tiền để rước lương y điều trị. Với thiên nhãn, Đức Phật nhận thấy cảnh trạng đau thương của chàng trai đang hấp hối và xuất hiện trước chàng. Người thanh niên lấy làm hoan hỉ được chính mắt chiêm ngưỡng dung nhan Đức Phật và trút hơi trở cuối cùng với tâm trong sạch, đầy niềm tin tưởng nơi Ngài. Chàng tái sanh vào cảnh Trời.

Chú thích

1. Riêng trong câu này danh từ dhamma hàm ý nghĩa nghiệp tốt (hành động thiện).

2. Đức Phật truyền dạy hai câu song yếu này trong hai trường hợp khác nhau để chỉ rõ hậu quả dĩ nhiên phải có của những hành động, tốt cũng như xấu.

Con người gặt hái những gì đã gieo trong quá khứ hay đang gieo trong hiện tại. Cái mà con người đang gieo bây giờ, con người phải gặt hái, hoặc ngay trong hiện tại hoặc một lúc nào trong vị lai, vào một cơ hội thích ứng. Chính con người lãnh lấy trách nhiệm tạo cho mình hạnh phúc hay khốn cùng. Con người tạo cho mình thiên đàng hay địa ngục. Con người xây dựng số phận cho chính mình. Cái mà con người làm ra, hợp lại, con người có thể phá tan, tháo mở ra được.

Phật giáo giảng dạy trách nhiệm của mỗi người đối với chính mình, và tánh cách dĩ nhiên phải có, không thể lẩn tránh, của định luật nhân quả.

Ta gặt hái tương xứng với cái gì mà ta đã gieo. Nhưng không bắt buộc phải gặt hết tất cả hậu quả của những gì đã gieo. Nếu phải gặt hái tất cả ắt không thể có giải thoát.

GOOD BEGETS GOOD

2. Manopubbangama dhamma 
5 
            manosettha manomaya
Manasa ce pasannena 
            bhasati va karoti va
Tato nam sukhamanveti 
            chaya'va anapayini. 2.

2. Mind is the forerunner of (all good) states. Mind is chief; mind-made are they. If one speaks or acts with pure mind, because of that, happiness follows one, even as one's shadow that never leaves.6 2.

Story

    Mattakuudali, the only son of a stingy millionaire, was suffering from jaundice and was on the verge of death because his father would not consult a physician lest some part of his money should have to be spent. The Buddha perceiving with His Divine Eye the sad plight of the dying boy, appeared before him. Seeing the Buddha, he was pleased and dying with a pure heart, full of faith in the Buddha, was born in a heavenly state.

NOTES:

5  In this particular verse dhamma refers to good Kamma (action).

6  These two parallel verses were uttered by the Buddha on two different occasions to show the inevitable effects of evil and good Kamma respectively.

Man reaps what he has sown in the past or in the present. What he sows now he reaps in the present or in the future at the opportune moment. Man himself is mainly responsible for his own happiness and misery. He creates his own hell and heaven. He is the architect of his own fate. What he makes he can unmake.

Buddhism teaches self-responsibility and the inevitability of the law of cause and effect. What one reaps accords with what one has sown but one is not bound to reap the effects of all that one has sown. If one were, emancipation would become an impossibility.



dhp003_B
dhp004_B
Verse-Kệ 03-04

Trả thù báo oán, không dẫn đến an tịnh

3. Akkocchi mam avadhi maṁ-ajini maṁ ahāsi me

Ye taṁ upanayhanti - veraṁ tesaṁ na sammati

4. Akkocchi maṁ avadhi maṁ ajini maṁ ahāsi me

Ye taṁ na upanayhanti veraṁ tesūpasammati


3."Nó lăng mạ tôi, đánh đập tôi, chiến thắng tôi, cướp giựt của tôi", lòng sân hận không nguôi trong tâm của người còn ôm ấp những ý tưởng tương tợ. 3.

4."Nó lăng mạ tôi, đánh đập tôi, chiến thắng tôi, cướp giựt của tôi", lòng sân sẽ nguôi ngoai trong tâm của người không ôm ấp những ý tưởng tương tợ. 4.


Tích chuyện

Đại đức Tissa ỷ mình là em họ Đức Phật nên không tôn trọng các vị sư cao hạ khác. Khi các vị này chỉ dạy để sửa sai hạnh kiểm lầm lạc ấy thì Đại đức Tissa cảm thấy tự ái bị tổn thương, đến than phiền với Đức Phật. Đức Phật biết rõ mọi chuyện, khuyên nhủ Đại đức Tissa nên sám hối, nhưng Đại đức Tissa không nghe. Lúc bấy giờ Đức Phật thuật một câu chuyện nhắc lại rằng trong tiền kiếp có lần Đại đức Tissa đã hành động tương tợ. Về sau Đại đức Tissa chịu nghe lời dạy của Đức Phật, đến xin sám hối với các vị sư cao hạ.

Chú thích

Đức Phật hằng khuyên dạy hàng tín đồ không nên trả thù báo oán mà phải hành pháp nhẫn nại, luôn luôn, trong mọi trường hợp, ở mọi nơi, trước mọi khiêu khích. Đức Phật tán dương những ai sẵn sàng chịu đựng lỗi lầm của kẻ khác, mặc dầu trong tay có đủ quyền lực để trả thù. Trong quyển Pháp Cú này có nhiều trường hợp cho thấy rằng Đức Phật luôn luôn hành pháp nhẫn nại, dầu lắm khi Ngài cũng bị chỉ trích thậm tệ, bị chưởi mắng và bị tấn công. Nhẫn nại không bao giờ là dấu hiệu của sự ương hèn yếu kém, hay chủ bại, đầu hàng, mà trái lại là sức mạnh bất khuất của con người tự chủ.

RETALIATION DOES NOT LEAD TO PEACE

3. Akkocchi mam avadhi mam 
            ajini mam ahasi me
Ye tam upanayhanti 
            veram tesam na sammati. 3.
4. Akkocchi mam avadhi mam 
            ajini mam ahasi me
Ye tam na upanayhanti 
            veram tesupasammati. 4.

3. "He abused me, he beat me, he defeated me, he robbed me", in those who harbour such thoughts hatred is not appeased. 3.

4. "He abused me, he beat me, he defeated me, he robbed me", in those who do not harbour such thoughts hatred is appeased. 7 4.

Story

    The Venerable Tissa, proud of being a cousin of the Buddha, did not pay due respect to the senior monks. When they resented his improper conduct, he took offence and, threatening them, went up to the Buddha and made a complaint. The Buddha, who understood the position, advised him to apologize, but the Venerable Tissa was obstinate. The Buddha then related a story to show that Tissa had done likewise in a previous birth. Later, the Venerable Tissa was compelled to seek pardon from the senior monks.

NOTES:

7  The Buddha's constant advice to His followers is not to retaliate but to practise patience at all times, at all places, even under provocation. The Buddha extols those who bear and forbear the wrongs of others though they have the power to retaliate. In the Dhammapada itself there are many instances to show how the Buddha practised patience even when He was severely criticised, abused, and attacked. Patience is not a sign of weakness or defeatism but the unfailing strength of great men and women.


dhp005_B
Verse-Kệ 05

Tình thương chinh phục được lòng sân hận

5. Na hi verena verāni - sammantī'dha kudācanaṁ

Averena ca sammanti - esa dhammo sanantano.


5. Trên thế gian này, sân hận không bao giờ dập tắt sân hận. Duy có tình thương 1mới diệt tâm sân. Đó là định luật trường cửu 2. 5.

Tích chuyện

Người kia có hai vợ. Một có con và một không. Bà không con đem lòng ganh tỵ, trộn thuốc độc vào thức ăn của bà kia, hại bà này hai lần hư thai. Đến lần thứ ba, thuốc độc làm cho bà đang có mang cùng chết với đứa bé trong lòng và với tâm cương quyết báo oán cho cả hai mẹ con. Rồi bà thực hành ý định. Bà nọ, bị trả thù, cũng quyết tâm trả lại thù. Và như thế ấy thù oán trả qua trả lại, hết bà này đến bà kia, qua lại trong hai kiếp sống liên tục. Tuy nhiên, đến kiếp tái sanh thứ ba, cơ hội đưa đẩy hai bà cùng đến gặp Đức Phật và sau đó nhờ Ngài khuyên giải, chấm dứt hận thù.

Chú thích

1. Tình thương - avera, đúng nghĩa của danh từ, là không sân hận. Ở đây, danh từ avera chỉ đức tánh trái nghịch với tâm sân, tức tâm Từ (Mettā).

2. Định luật trường cửu - sanantana, một nguyên tắc thời xưa mà Đức Phật và hàng môn đệ của Ngài cùng theo. (Chú giải).

ANGER IS CONQUERED BY LOVE

5. Na hi verena verani 
            sammanti'dha kudacanam
Averena ca sammanti 
            esa dhammo sanantano. 5.

5. Hatreds never cease through hatred in this world; through love 8 alone they cease. This is an eternal law. 9 5.

Story

    A husband had two wives, one barren, the other fruitful. The former, actuated by jealousy, mixed a drug in her rival's food and caused two successive abortions. On the third occasion the potion caused the death both of the mother and of the child. The dying woman willed vengeance on her rival and her offspring, and she carried out her resolve. The other too did likewise. Thus both women avenged themselves in the course of two successive births. In their third birth circumstances, however, compelled both to meet the Buddha, who pacified them by advising them not to retaliate.

NOTES:

8  Avera, literally, means non-anger. Here it means the virtue opposed to the vice of anger, that is, loving-kindness (Metta).

9  Sanantana an ancient principle followed by the Buddha and His disciples. (Commentary).


dhp006_B
Verse-Kệ 06

Tư tưởng chơn chánh chấm dứt những mối bất hòa

6. Pare ca na vijānanti -
mayamettha yamāmase

Ye ca tattha vijānanti -
tato sammanti medhagā.


6. Người khác 1 nào biết rằng trong cuộc tranh luận này ta sẽ chết 2 . Những ai nhận định được điều ấy sẽ, nhờ đó, làm êm dịu cuộc tranh luận của mình. 3 6.

Tích chuyện

Một câu chuyện xích mích thường tình giữa các thầy Tỳ-khưu đưa đến cuộc tranh chấp bất hạnh. Những nhà sư có tánh gây gổ không chịu nghe lời khuyên giải. Cho đến những lời phân xử của Đức Phật cũng không giảng hòa được các thầy. Sau cùng, Đức Phật bỏ vào rừng, nhập hạ luôn trong ấy. Do áp lực của các thiện tín cư sĩ các thầy phải đi tìm Đức Phật, xin sám hối, và thỉnh Ngài về. Lúc bấy giờ Đức Phật tuyên ngôn lời dạy trên.

Chú thích

1. Người khác - những người có tánh ưa tranh chấp, gây gổ.

2. Yamāmase - do căn yam, có nghĩa chết, hay tự chế.

3. Có thể phiên dịch phần đầu câu như sau:

- Những người khác không biết rằng ở đây ta phải tự chế.
- "Thế gian không biết rằng tất cả chúng ta đều phải chấm dứt nơi đây". -- Max Muller.
- "Người ta không phân biệt được rằng ở đây chúng ta bị thâu hẹp (giới hạn) trong kiếp sống, trong thời gian". -- Bà Rhys Davids

QUARRELS CEASE THROUGH RIGHT THINKING

6. Pare ca na vijananti 
            mayamettha yamamase
Ye ca tattha vijananti 
            tato sammanti medhaga. 6.

6. The others 10 know not that in this quarrel we perish; 11 those of them who realize it, have their quarrels calmed thereby. 12 6.

Story

    A trivial incident led to an unfortunate dispute amongst the monks in the city of Kosambi. The quarrelsome monks did not listen even to the Buddha. In the end the Buddha retired to a forest and spent the rainy season there. Owing to pressure brought on them by the laity, the monks approached the Buddha and, imploring His pardon, invited Him to the city. The Buddha then admonished them.

NOTES:

10  The quarrelsome persons.

11  Yamamase; derived from yam, to perish, or to restrain.

12  The first line may also be rendered thus: Others do not know that here we must restrain ourselves. "The world does not know that we must all come to an end here" - Max Muller, "People do not discern that here we straitened are in life, in time" - Mrs. Rhys Davids.

 


dhp007_B
dhp008_B

Verse-Kệ 07-08

Người yếu bị sa ngã trước sự cám dỗ người mạnh thì không

7. Subhānupassim viharantam - indriyesu asamvutam

Bhojanamhi amattaññum - kusītaṁ hīnavīriyaṁ

Taṁ ve pasahati māro - vāto rukkham'va dubbalaṁ.

8. Asubhānupassiṁ viharantaṁ indriyesu susaṁvutaṁ

Bhojanamhi ca mattaññuṁ -saddhaṁ āraddhavīriyaṁ

Taṁ ve nappasahati māro -vāto se lamva pabbattaṁ


7. Người hằng suy tưởng đến lạc thú 1, lục căn không thu thúc, ẩm thực vô độ, dã dượi, dễ duôi, người ấy chắc chắn sẽ bị Ma Vương 2 lôi cuốn, không khác nào gió (cuốn) cội cây mềm. 7.

8. Người hằng suy niệm về những "uế trược 3", thu thúc lục căn, ẩm thực độ lượng, niềm tin vững chắc 4, kiên trì tinh tấn, người ấy, Ma Vương không hề lôi cuốn, như gió (không thể cuốn) thạch sơn 5. 8.


Tích chuyện

Hai anh em xuất gia theo Đức Phật. Anh nhiệt tâm tu hành, em không tin tưởng. Nhà sư trẻ, kém niềm tin, luôn luôn tưởng nhớ đến dục lạc và sa ngã trước sự khuyến dụ của những bà trước kia là vợ thầy. Trái lại, vị Tỳ-khưu lớn tuổi thì kiên trì cố gắng và đắc quả A-La-Hán. Các bà trước kia là vợ Ngài hết lòng đưa đẩy Ngài vào trong trụy lạc nhưng đều thất bại.

Chú thích

1. - Suy tưởng đến lạc thú - ham muốn những lạc thú.

2. - Ma Vương - Theo Phật giáo, có năm loại Ma Vương là: Uẩn (Khandha), Hành Động thiện và bất thiện (abhisankhāra), Chết (Maccu), Dục Vọng (Kilesa) và Trời Ma Vương (Devaputta). Ở đây danh từ Ma Vương được dùng theo nghĩa dục vọng.

3. - Uế trược - ba mươi hai ô trược của thể xác, như tóc, lông, móng tay, móng chơn, răng, da v.v... Suy niệm về các ô trược của thể xác là đề mục hành thiền thích ứng để chế ngự lòng tham ái.

4. - Niềm tin - saddhā, là niềm tin tưởng nơi Phật (Đạo Sư), Pháp (Giáo huấn) và Tăng (Giáo hội), một niềm tin căn cứ trên sự hiểu biết. Không có đức tin mù quáng trong Phật giáo. Không có sự chấp nhận suông điều gì do đức tin không suy luận.

5. - Hai câu này chỉ để dạy chư vị Tỳ-khưu, những người đã chú nguyện sống đời Phạm hạnh thiêng liêng. Câu đầu, chỉ con đường vật chất, thỏa mãn nhục dục; câu nhì, con đường tinh thần, tự chế, tự kiểm và phạm hạnh. Nên nhận định rằng Phật giáo cung ứng một lối sống cho hàng xuất gia và một lối khác cho người tại gia cư sĩ. 

THE WEAK SUCCUMB TO TEMPTATION BUT NOT THE STRONG

7. Subhanupassim viharantam 
            indriyesu asamvutam
Bhojanamhi amattannum 
            kusitam hinaviriyam
Tam ve pasahati maro 
            vato rukkham'va dubbalam. 7.
8. Asubhanupassim viharantam 
            indriyesu susamvutam
Bhojanamhi ca mattannum 
            saddham araddhaviriyam
Tam ve nappasahati maro 
            vato selam'va pabbatam. 8.

7. Whoever lives contemplating pleasant things, 13 with senses unrestrained, in food immoderate, indolent, inactive, him verily Mara 14 overthrows, as the wind (overthrows) a weak tree. 7.

8. Whoever lives contemplating "the Impurities", 15 with senses restrained, in food moderate, full of faith, 16 full of sustained energy, him Mara overthrows not, as the wind (does not overthrow) a rocky mountain. 17 8.

Story

    Two brothers became monks, the elder by conviction and the younger without any faith. The faithless younger monk, constantly thinking of material pleasures, succumbed to the temptations of his former wives and left the Order. The devout elder monk strove hard and attained Arahantship. His former wives tried to entrap him but failed.

NOTES:

13  Desiring pleasurable sensual objects.

14  According to Buddhism there are five kinds of Maras - namely: i. the five Aggregates (khandha), ii. moral and immoral activities (abhisankhara), iii. death (maccu), iv. passions (kilesa), and v. Mara the deity (devaputta). Here the term Mara is used in the sense of passions.

15  The thirty-two impurities of the body such as hair, hair of the skin, nails, teeth, skin, etc. To overcome lust, meditation on the impurities of the body is recommended.

16  Saddha is faith in the Buddha (the Teacher), the Dhamma (the Teaching) and the Sangha (the Order), based on knowledge. There is no blind faith in Buddhism. One is not expected to accept anything on mere unreasoning faith.

17  These two verses are meant exclusively for Bhikkhus who lead the Holy Life. The first verse indicates the worldly path of sense-gratification; the second, the spiritual path of sense-control and asceticism. It should be noted that Buddhism offers one way of life to the monks and another to the laity.


dhp009_B
dhp010_B
Verse-Kệ 09-10

Người trong sạch đáng mặc y vàng (áo cà sa), người ô nhiễm thì không xứng

9. Anikkasāvo kāsāvaṁ - yo vatthaṁ paridahessati

Apeto damasaccena - na so kāsāvam arahati.

10. Yo ca vantakasāv' assa - sīlesu susamāhito

Upeto damasaccena - sa ve kāsāvam arahati.


9. Người đắp y vàng 1 mà không hoàn toàn trong sạch, không tự chế, và không chơn thật, thì không xứng mặc y. 9.

10. Đã thanh lọc mọi nhiễm ô, giới đức kiên trì, tự chế chặt chẽ và chơn thật, người ấy quả xứng đắp y vàng. 10.


Tích chuyện

Phần đông thiện tín ưng thuận dâng một bộ y quý giá đến Đại đức Đề-Bà-Đạt-Đa (Devadatta) thay vì dâng đến Đại đức Xá-Lợi-Phất (Sāriputta) vị đại đệ tử của Đức Phật. Một vài thiện tín có tâm đạo, thấy Đề-Bà-Đạt-Đa (Devadatta) đắp y, lưu ý rằng thầy không xứng đáng được danh dự ấy. Nhơn cơ hội, Đức Phật dạy rằng trong một tiền kiếp thầy đã hành động tương tợ và giải thích ai là người xứng đáng khoác lên mình bộ y vàng, tượng trưng cho bậc Thinh văn đệ tử.

Chú thích

1. Y vàng, hay áo cà sa - Kasāva, là những bợn nhơ của dục vọng. Kasāva cũng có nghĩa là bộ y nhuộm vàng, hay áo càsa, một sắc tướng tượng trưng hạnh từ khước, dứt bỏ, xuất gia. Nhuộm y màu vàng để cho bộ y hết đẹp, không còn giá trị vật chất. Ở đây là một lối chơi chữ. Sắc tướng bên ngoài của đời sống Thiêng Liêng Đạo Hạnh không có nghĩa lý gì nếu không có sự trong sạch bên trong. Trong một trường hợp khác Đức Phật ghi nhận rằng con người trong sạch chính thật là người ẩn dật lý tưởng hay Tỳ-khưu (bhikkhu), dầu bên ngoài, sắc tướng như thế nào đi nữa. (xem câu 142).

THE PURE ARE WORTHY OF THE YELLOW ROBE BUT NOT THE IMPURE

9. Anikkasavo kasavam 
            yo vattham paridahessati
Apeto damasaccena 
            na so kasavam arahati. 9.
10. Yo ca vantakasav'assa 
            silesu susamahito
Upeto damasaccena 
            sa ve kasavam arahati. 10.

9. Whoever, unstainless, without self control and truthfulness, should don the yellow robe, 18 is not worthy of it. 9.

10. He who is purged of all stain, is well-established in morals and endowed with self-control and truthfulness, is indeed worthy of the yellow robe. 10.

Story

    On a majority vote people presented a costly robe to the Venerable Devadatta, in Preference to the Venerable Sariputta, the first chief disciple of the Buddha. Some devout followers, seeing him wearing it, remarked that he was not worthy of it. Buddha pointed out that in a previous birth too he had done likewise and explained who was worthy of wearing the emblem of the saintly disciples.

NOTES:

18  Kasava means stains of passion. Kasava means a dyed robe, the outward symbol of renunciation. Robes of monks are dyed to make them valueless. Here is a play on words. External mark of the Holy Life is of no consequence without internal purity. On another occasion the Buddha remarked that a pure person is indeed an ideal recluse or Bhikkhu, irrespective of his external apparel. See v. 142.


dhp011_B
dhp012_B
Verse-Kệ 11-12

Tri kiến chơn chánh dẫn đến chứng ngộ chơn lý

11. Asāre sāramatino - 
Sāre cāsāradassino

Te sāraṁ nādhigacchanti -

Micchāsaṅkappagocarā.

12. Sāran ca sārato ñatvā -asārañ ca asārato

Te sāraṁ adhigacchanti - sammā saṅkappagoccarā.


11. Không chánh yếu, tưởng là chánh yếu 1. Chánh yếu, lại thấy không chánh yếu. Ai duy trì những ý tưởng sai lạc 2(tương tợ) không bao giờ nhận thức tinh hoa. 11.

12. Điều chánh yếu, xem là chánh yếu. Không chánh yếu, xem là không chánh yếu. Ai bảo tồn ý tưởng chơn chánh 3(tương tợ) sẽ nhận thức tinh hoa. 12.

Tích chuyện

Hai vị Đại đức Xá-Lợi-Phất (Sāriputta) và Mục-Kiền-Liên (Moggallāna) bạch với Đức Phật rằng hai Ngài không thể thuyết phục được ông thầy của mình trước kia đến gặp Đức Phật và nghe giáo Pháp vì vị này còn quá luyến ái tín đồ. Nhơn cơ hội, Đức Phật giải thích sự khác biệt giữa những người suy luận chơn chánh và những người suy luận sai lầm và hậu quả dĩ nhiên của mỗi lối suy luận.

Chú thích

1. Chánh yếu sāra là cái lõi cây, hay tinh hoa. Asāra là những gì không chánh yếu như nhu cầu của đời sống, tà kiếm v.v... Sāra là những gì chánh yếu như chánh kiến (sammā diṭṭhi), giới (sīla), định (samādhi), tuệ (pannā) v.v... Không thể thành tựu được tinh hoa của đời sống thiêng liêng đạo hạnh bằng cách sai lầm xem cái không chánh yếu là chánh yếu. Cái chánh yếu lại coi không chánh yếu.

Trong kinh Mahā Sāropama Sutta (Majjhima Nikāya, số 29) Đức Phật so sánh lá và cành của cây với lợi lộc và danh vọng, vỏ cây như giới, thân cây bọc ngoài cái lõi như định, trái cây như năm phép thần thông (abhiññā) và lõi cây như đạo quả A-La-Hán.

2. Ý tưởng sai lạc - như tham dục (kāma), sân hận hay ác ý (vyāpāda), và hung bạo (vihiṁsā).

3. Ý tưởng chơn chánh - như xuất gia, từ khước, tức không luyến ái (nekkhamma), thiện ý hay tâm Từ (avyāpāda), và dịu hiền, tức không hung bạo (avihiṁsā).

Những tư tưởng trong sạch này gồm thành chi thứ nhì của Bát Chánh Đạo, chánh tư duy.

RIGHT PERCEPTION LEADS TO THE REALIZATION OF THE TRUTH

11. Asare sâramatino 
            sare casaradassino
Te saram nadhigacchanti 
            micchasamkappagocara. 11.
12. Saran ca sarato natva 
            asaran ca asarato
Te saram nadhigacchanti 
            samma samkappagocara. 12.

11. In the unessential they imagine the essential 19, in the essential they see the unessential - they who entertain (such) wrong thoughts 20 never realize the essence. 11.

12. What is essential they regard as essential, what is unessential they regard as unessential - they who entertain (such) right thoughts 21 realize the essence. 12.


Story

    The Venerable Sariputta and Moggallana mentioned to the Buddha that they could not persuade their former teacher to see the Buddha and hear His Dhamma as he was attached to his followers. The Buddha then explained the difference between those who think rightly and those who think wrongly and the inevitable results of such thinking.

NOTES:

19  Sara means the core or essence. Asara are the unessentials like the necessaries of life, false beliefs, etc. Saraare the essentials like right beliefs, (samma ditthi) morality (sila), concentration (samadhi), wisdom (panna), etc. The essence of the Holy Life cannot be achieved by caring for unessentials.

In the Maha Saropama Sutta (Majjhima Nikaya, No. 29) the Buddha has compared the leaves and branches of a tree to gain and fame, the bark to morality, the greenwood to concentration, the fruits to the five kinds of super-intellect (abhinna) and the core to Arahantship.

20  Such as lust (kama), illwill (vyapada), and harmfulness (vihimsa)

21  Such as renunciation or non-attachment (nekkhamma), loving-kindness (avyapada), and harmlessness (avihimsa). These pure thoughts constitute the second factor of the Noble Eightfold Path.




dhp013_B
dhp014_B
Verse-Kệ 13-14

Tham dục đâm thủng tâm người không trau giồi, nhưng không thể gây tổn hại đến tâm người thuần thục

13. Yathā'gāraṁ ducchannaṁ - vuṭṭhi samativijjhati

Evaṁ abhāvitaṁ cittaṁ - rāgo samativijjhati.

14. Yathā'gāraṁ succhannaṁ - vuṭṭhi na samativijjhati

Evaṁ subhāvitaṁ cittaṁ - rāgo na samativijjhati.


13. Như nước mưa thấm dột vào căn nhà lợp vụng, dường thế ấy, tham ái thấm nhuần tâm kém thuần thục. 13.

14. Như nước mưa không thấm dột vào căn nhà khéo lợp, dường thế ấy, tham ái không thấm nhuần tâm phát triển đầy đủ 1. 14.


Tích chuyện

Hoàng tử Nanda, em cùng cha khác mẹ với Đức Phật, xuất gia theo Đức Phật ngay trong ngày lễ cưới của ông. Thay vì cố gắng hành thiền, Tỳ-khưu Nanda luôn luôn tưởng nhớ đến bà vợ chưa cưới. Đức Phật dùng một phương pháp hữu hiệu giúp thầy lìa bỏ những tư tưởng tham dục trước kia và đắc quả A-La-Hán. Đức Phật ví tâm trạng tham dục như mái nhà lá lợp không kỹ và trạng thái trong sạch sau này của Ngài Nanda như mái nhà khéo lợp.

Chú thích

1. Tâm phát triển đầy đủ - Bhāvitam, đúng nghĩa uyên nguyên của danh từ, là làm cho trở thành, tức là đào luyện bằng thiền định, phương pháp gom tâm an trụ vào một điểm và trở nên an tịnh. Tâm cũng được rèn luyện bằng phương pháp suy niệm, đưa đến tri kiến, thông suốt bản chất thật sự của sự vật, hiểu sự vật như thực, chứng ngộ chơn tướng của sự vật. Mục tiêu cứu cánh của Phật giáo là thành tựu hai từng tâm phát triển ấy. Thể dục đối với thể xác như thế nào thì công trình hành thiền đối với tâm cũng như thế ấy. Một cái tâm đã thuần thục không còn dễ gì bị dục vọng chế ngự.

LUST PIERCES THE HEARTS OF THE UNDEVELOPED BUT NOT THOSE OF THE DEVELOPED

13. Yatha'garam ducchannam 
            vutthi samativijjhati
Evam abhavitam cittam 
            rago samativijjhati. 13.
14. Yatha'garam succhannam 
            vutthi na samativijjhati
Evam subhavitam cittam 
            rago na samativijjhati. 14.


13. Even as rain penetrates as ill-thatched house, so does lust penetrate an undeveloped mind. 13.

14. Even as rain does not penetrate a well-thatched house, so does lust not penetrate a well-developed 22 mind. 14.

Story

    Prince Nanda, the step-brother of the Buddha, was admitted by the Buddha into the Order on his wedding day. As he was constantly thinking of his bride-elect instead of meditating the Buddha employed an effective means whereby the Venerable Nanda renounced his former lustful thoughts and attained Arahantship. The Buddha compared his former state of mind to an ill-thatched house and his changed pure mental state to a well-thatched house.

NOTES:

22  Bhavitam, lit., made to become, i.e., trained, cultivated, developed. Mind is trained by concentration, which leads to one-pointedness of the mind and mental purification, and by contemplation, which leads to the understanding of things as they truly are. The ultimate goal of a Buddhist is achieved by these two stages of mental development. As physical exercise is to the body, so is meditation to the mind. A well-developed mind is not easily dominated by passions.


dhp015_B
Verse-Kệ 15

Người làm ác chịu đau khổ ở đây và sau đây

15. Idha socati pecca socati

Pāpakārī ubhayattha socati

So socati so vihaññati disvā kammakiliṭṭham attano.


15. Ở đây sầu muộn 1. Sau đây sầu muộn 2. Trong cả hai trạng thái người hành ác đều sầu muộn. Sầu muộn, phiền khổ, vì nhận thức tánh cách nhiễm ô của chính hành động mình. 15.

Tích chuyện

Một người đồ tể, suốt đời sanh sống bằng cách giết heo, phải chịu đau khổ cùng cực trong những ngày cuối cùng của anh. Trước khi lìa trần anh phải lăn lộn trên sàn nhà, kêu la rên siết vô cùng thảm hại, giống như một con heo bị đem ra làm thịt. Chết, anh tái sanh vào khổ hạnh.

Chú thích

1. Trong hiện tại người làm ác đau khổ, về tinh thần, vì ăn năn hối hận những điềm xấu xa đã làm.

2. Trong tương lai người làm ác phải gặt hái quả dữ của những hành động xấu.

EVIL-DOERS SUFFER HERE AND HEREAFTER

15. Idha socati pecca socati 
            papakari ubhayattha socati
So socati so vihannati 
            disva kammakilittham attano. 15.

15. Here he grieves, 23 hereafter he grieves. 24 In both states the evil-doer grieves. He grieves, he is afflicted, perceiving the impurity of his own deeds. 15.

Story

    A pork-butcher named Cunda, who lived by killing pigs throughout his lifetime, was subject to much suffering in his last days. Before dying, he rolled on the floor actually squealing like a pig. After death he was born in a woeful state.

NOTES:

23  Repenting over his evil deeds, he suffers mentally.

24  Experiencing the effects of his evil deeds.

dhp016_B
Verse-Kệ 16

Người hành thiện có hạnh phúc, ở đây và sau đây

16. Idha modati pecca modati - katapuñño ubhayattha modati

So modati so pamodati - disvā kammavisuddhamattano.


16. Ở đây hoan hỉ 1 . Sau đây hoan hỉ 2 . Trong cả hai trạng thái người hành thiện đều hoan hỉ. Hoan hỉ, vô cùng hoan hỉ, vì nhận thức tính cách trong sạch của chính hành động mình. 16.

Tích chuyện

Một người có tâm đạo nhiệt thành và có đời sống đạo hạnh đang hấp hối trên giường chết, thỏa thích nhìn thấy những cảnh trạng hạnh phúc 3. Sau khi trút hơi thở cuối cùng một cách an vui người ấy tái sanh vào nhàn cảnh 4.

Chú thích

1. Ở đây hoan hỉ - khi suy niệm về những hành động tốt của mình.

2. Sau đây hoan hỉ - khi gặt hái những quả lành, đáng được ưa thích, của hành động mình trong quá khứ.

3. Theo Phật giáo, kiếp tái sanh sắp tới được quyết định do tiến trình tư tưởng cuối cùng của người sắp lâm chung.

4. Nhàn cảnh - người Phật tử không tin rằng quả địa cầu này là cảnh giới duy nhứt và loài người là chúng sanh duy nhứt. Có nhiều cảnh giới, còn chúng sanh thì vô số kể. Sau khi chết ta có thể tái sanh làm người hoặc vào một trạng thái cao hơn, cảnh Trời, tùy theo hành động của chính ta. Cái được gọi là chúng sanh, trong kiếp sống kế, không phải hoàn toàn giống như chúng sanh trước (vì đã đổi thay) nhưng cũng không tuyệt đối là khác (vì cả hai đều nằm trong một luồng sống). Phật giáo phủ nhận một chúng sanh trước sau như nhứt, nhưng xác nhận có một tiến trình trước cũng như sau.

HAPPY ARE THE WELL-DOERS HERE AND HEREAFTER

16. Idha modati pecca modati 
            katapunno ubhayattha modati
So modati so pamodati 
            disva kammavisuddham attano. 16.


16. Here he rejoices, 
25 hereafter he rejoices. 26 In both states the well-doer rejoices. He rejoices, exceedingly rejoices, perceiving the purity of his own deeds. 27 16.

 

Story

    A devout person, named Dhammika, who led a religious life, lying on his death-bed, 28 saw happy visions, and after a peaceful death, was born in a celestial plane. 29

NOTES:

25  Reflecting on his good action.

26  Reaping the desirable results of his good deeds.

27  According to Buddhism the subsequent birth is determined by the thought process at the moment of death. Buddhists do not believe that the earth is the only habitable plane and that human beings are the only beings. Planes are numerous and beings are innumerable. After death one may be born as a human being or in a subhuman state or in a celestial plane according to one's actions. The so-called being in the subsequent life is neither the same as its predecessor (as it has changed) nor absolutely different (as it is the identical stream of life). Buddhism denies an identical being but affirms an identity in process.

28  According to Buddhism the subsequent birth is determined by the thought process at the moment of death.

29  Buddhists do not believe that the earth is the only habitable plane and that human being are the only beings. Planes are numerous and beings are innumerable.

After death one may be born as a human being or in a subhuman state or in a celestial plane according to one's actions. The so-called being in the subsequent life is neither the same as its predecessor (as it has changed) nor absolutely different (as it is the identical stream of life). Buddhism denies an identical being but affirms an identity in process.


dhp017_B
Verse-Kệ 17

Người làm ác than van ở đây và sau đây

17. Idha tappati pecca tappati - pāpakārī ubhayattha tappati

Pāpaṁ me katan ti tappati - bhiyyo tappati duggatiṁ gato.


17. Ở đây đau khổ. Sau đây đau khổ. Trong cả hai trạng thái, người hành ác đều chịu khổ, "Ta đã làm điều ác", (nghĩ như thế) người ấy khổ. Về sau, người ấy còn đau khổ vì phải lâm vào khổ cảnh 117.

Tích chuyện

Đại đức Đề-Bà-Đạt-Đa (Devadatta) âm mưu sát hại Đức Phật, nhưng thất bại. Đến khi già yếu, thầy ăn năn hối hận và mong muốn được yết kiến Đức Phật. Trong khi người ta khiêng thầy đi thì thầy chết một cách vô cùng thảm hại đau thương.

Chú thích

1. Khổ cảnh - Duggati, là một trạng thái đau khổ. Sugati là trạng thái hạnh phúc, nhàn cảnh. Kiếp sống trong những trạng thái này chỉ tạm bợ, nhứt thời. Sống trong một thời gian rồi lại chết và tái sanh nữa.

THE EVIL-DOER LAMENTS HERE AND HEREAFTER

17. Idha tappati pecca tappati 
            papakari ubhayattha tappati
Papam me katan ti tappati
            bhiyyo tappati duggatim gato. 17.


17. Here he suffers, hereafter he suffers. In both states the evil-doer suffers. "Evil have I done" (thinking thus), he suffers. Furthermore, he suffers, having gone to a woeful state. 
30 17.

Story

    The Venerable Devadatta made an unsuccessful attempt to kill the Buddha. In his old age he repented and desired to see the Buddha. While he was being carried on a litter to see the Buddha, he died on the way under tragic circumstances.

NOTES: 

30  Duggati is a woeful state and Sugati is a blissful state. Rebirths in all such states are temporary.


dhp018_B
Verse-Kệ 18

Người sống chơn chánh được hạnh phúc

18. Idha nandati pecca nandati - katapuñño ubhayattha nandati

Puññaṁ me katan ti nandati - bhiyyo nandati suggatiṁ gato.


18. Ở đây hạnh phúc. Sau đây hạnh phúc. Trong cả hai trạng thái người hành thiện đều được hạnh phúc. "Ta đã làm điều thiện" (nghĩ như thế) người ấy có hạnh phúc. Về sau, vào nhàn cảnh, người ấy còn hưởng hạnh phúc. 18.

Tích chuyện

Sumanā là con gái út của ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika), vị đại thí chủ thời Đức Phật. Trong giờ lâm chung, cô gọi cha là "em" và chết một cách an lành. Ông cha lấy làm buồn nghe con mình - vốn có tâm đạo nhiệt thành - nói những lời không có ý nghĩa trong giờ phút quan trọng như vậy. Khi ông bạch lại với Đức Phật thì Ngài giải thích rằng sở dĩ cô gái út của ông gọi ông bằng (em) là vì cô đã đắc quả Tư-Đà-Hàm (Sakadāgāmi, Nhứt Lai) còn ông thì chỉ đắc quả Tu-Đà-Huờn (Sotāpatti, Nhập Lưu).

HAPPY ARE THE RIGHTEOUS

18. Idha nandati pecca nandati 
            katapunno ubhayattha nandati
Punnam me katan ti nandati 
            bhiyyo nandati suggatim gato. 18.

18. Here he is happy, hereafter he is happy. In both states the well-doer is happy. "Good have I done" (thinking thus), he is happy. Furthermore, he is happy, having gone to a blissful state. 18.

Story

    Sumana the youngest daughter of Anathapiudika, the chief supporter of the Buddha, lying on her death-bed, addressed her father as "young brother" and passed away peacefully. The father was grieved to hear his devout daughter utter such incoherent words at the moment of death. When he mentioned this matter to the Buddha He explained that she addressed him thus because she had attained the second stage of Sainthood - Sakadagami(Once-Returner) while the father had attained only the first stage Sotapatti (Stream Winner).


dhp019_B
dhp020_B
Verse-Kệ 19-20

Học mà không hành thì vô bổ

19. Bahum pi ce sahitaṁ bhāsamāno - na takkaro hoti naro pamatto

Gopo'va gāvo gaṇayaṁ paresaṁ na bhāgavā sāmaññassa hoti.

20. Appam pi ce sahitaṁ bhāsamāno dhammassa hoti anudhamma cāri

Rāgañ ca dosañ ca pahāya mohaṁ sammappajāno suvimuttacitto

Anupādiyāno idha vā huraṁ vā sa bhāgavā sāmaññassa hoti.


19. Dầu thông suốt Kinh Luật 1 mà không hành đúng (lời dạy), con người dể duôi ấy tựa như mục đồng, đếm bò của kẻ khác. Người ấy không hưởng được quả vị 2của đời sống Thiêng Liêng Đạo Hạnh 319.

20. - Dầu ít thuộc Kinh Luật nhưng hành đúng lời giáo huấn, từ bỏ tham, sân, si, hiểu biết chơn chánh, tâm siêu thoát, không bám vào điều chi ở đây và sau đây. Con người ấy hưởng quả vị của đời sống Thiêng Liêng Đạo Hạnh. 20.


Tích chuyện

Có hai vị Tỳ-khưu. Một, thông suốt giáo Pháp nhưng còn là phàm tăng. Vị kia, tuy không học nhiều nhưng thực hành đầy đủ và đắc quả A-La-Hán. Vị phàm tăng không thực hành những điều đã học. Vị kia trái lại, tuy biết ít nhưng thực hành trọn vẹn giáo Pháp nên đã chứng ngộ Niết-bàn, thọ hưởng quả vị của đời sống thiêng liêng đạo hạnh. Một hôm vị Tỳ-khưu học rộng muốn gây rối cho vị Thánh Tăng trước mặt Đức Phật, đặt ra nhiều câu hỏi gút mắc. Biết rõ ý định thấp hèn ấy, Đức Phật nêu ra vài câu hỏi có liên quan đến sự chứng ngộ giáo Pháp. Theo kinh nghiệm bản thân, vị A-La-Hán trả lời được tất cả nhưng vị phàm tăng thì không, vì không thành tựu được Thánh Đạo nào. Nhơn dịp này, Đức Phật ca ngợi vị A-La-Hán đã thực hành giáo huấn của Ngài, mặc dầu không thông suốt Giáo Pháp bằng vị phàm tăng.

Chú thích

1. Kinh Luật - Sahitam : Saha + Hitaṁ, là cái gì liên quan đến, dính liền, hay kết hợp với điều có lợi ích. Bản chú giải ghi nhận rằng Sahitaṁ đồng nghĩa với Tam Tạng Kinh (Tipiṭaka, ba cái giỏ) mà Đức Phật đã dạy. Ba Tạng là Tạng Luật (Vinaya Piṭaka, giỏ đựng giới Luật), Tạng Kinh (Sutta Piṭaka, giỏ đựng Kinh) và Tạng Luận (Abhidhamma Piṭaka, giỏ đựng giáo lý cao siêu).

2. Quả vị của đời sống Thiêng Liêng Đạo Hạnh - là bốn từng thánh: Tu-Đà-Huờn (Sotāpatti, Nhập Lưu), Tư-Đà-Hàm (Sakadāgāmi, Nhứt Lai), A-Na-Hàm (Anāgāmi, Bất Lai) và A-La-Hán (Arahanta, Ứng Cúng).

3. Sāmaññassa, đúng nghĩa uyên nguyên, là trạng thái của một vị Tỳ-khưu, hay Sa-môn, tức là đời sống thiêng liêng.

Theo Phật giáo, pháp học sẽ không bổ ích nếu không thật sự thực hành điều đã học. Như vậy, Phật giáo không phải là một triết học suông mà là con đường Giác ngộ (Giác Đạo) duy nhứt.

LEARNING WITHOUT PRACTICE IS OF NO WORTH

19. Bahum pi ce sahitam bhasamano 
            na takkaro hoti naro pamatto
Gopo'va gavo gauayam paresam 
            na bhagava samannassa hoti. 19.
20. Appam pi ce sahitam bhasamano 
            dhammassa hoti anudhammacari
Ragan ca dosan ca pahaya moham 
            sammappajano suvimuttacitto
Anupadiyano idha va huram va 
            sa bhagava samannassa hoti. 20.


19. Though much he recites the Sacred Texts, 
31 but acts not accordingly, that heedless man is like a cowherd who counts others' kine. He has no share in the fruits 32 of the Holy Life. 33 19.

20. Though little he recites the Sacred Texts, but acts in accordance with the teaching, forsaking lust, hatred and ignorance, truly knowing, with mind well freed, clinging to naught here and hereafter, he shares the fruits of the Holy Life. 20.

Story

    There were two monks - one a worldling but well-versed in the Dhamma, the other an Arahant though not so erudite. The worldling did not practise what he knew; the one who knew little practised the Dhamma and, realizing Nibbana, enjoyed the fruits of the Holy Life. The scholarly monk desired to embarrass the other by putting some intricate questions in the presence of the Buddha. Knowing well his base motive, the Buddha raised some questions connected with the realization of the Dhamma. The Arahant answered them all from personal experience, but the other could not as he had not attained to any Paths of Sainthood. Thereupon the Buddha praised the Arahant who had practised His teaching, though possessing less knowledge of the Dhamma.

NOTES:

31  Sahitam = saha + hitam, is that which is associated with what is beneficial. Commentary states that sahitamis a synonym for the Tipitaka, the three Baskets, taught by the Buddha, namely: Vinaya Pitaka, the Basket of Discipline, Sutta Pitaka, the Basket of Discourses, and Abhidhamma Pitaka, the Basket of Ultimate Doctrine.

32  The blessings of a monk are the four stages of Sainthood - namely: Sotapatti, Stream Winner, Sakadagami,Once-Returner, Anagami, Never-Returner, and Arahanta, the Worthy.

33  Samannassa = lit. the state of a monk or ascetic, i.e., the Holy life. According to Buddhism learning is of no avail without actual practice.

As such Buddhism is not a mere philosophy, but a unique Path of Enlightenment.

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17 Tháng Bảy 20198:41 CH(Xem: 26)
Kyle Huỳnh, 15 tuổi, học lớp 10 tại trung học Bolsa Grande, treo cổ tự tử tại nhà ngày 29 Tháng Mười Một gây xúc động mạnh nơi bạn học, đau buồn nơi gia đình, hoang mang nơi cộng đồng; và trên hết, để lại quá nhiều câu hỏi cho bất cứ bậc phụ huynh nào có con đang bước vào tuổi trưởng thành. Nguyên nhân cái chết thương tâm của Kyle
30 Tháng Sáu 20194:12 CH(Xem: 196)
Rừng Thu (Autumn Forest) - 50 bài thơ chuyển ngữ Anh Việt. Xuất bản June 2019 - Tác phẩm mới của nhà thơ: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
11 Tháng Sáu 20199:53 CH(Xem: 178)
Trời mang sức mạnh núi này, Mang hùng vĩ của thân cây trên đồi, Hè mang hơi ấm mặt trời, Và bình lặng của biển khơi khắp miền, Mang hồn quảng đại thiên nhiên, Vòng tay an lạc của đêm lặng lờ, Mang thông thái của tuổi già, Tiềm năng chim phượng bay xa vô ngần,
04 Tháng Sáu 201911:04 SA(Xem: 216)
1. Quy tắc đầu tiên: "Bất cứ người nào bạn gặp cũng đúng là người mà bạn cần gặp cả." Điều này có nghĩa rằng không ai xuất hiện trong cuộc đời chúng ta một cách tình cờ cả. Mỗi người xung quanh chúng ta, bất cứ ai chúng ta giao lưu, đều đại diện cho một điều gì đó, có thể là để dạy chúng ta điều gì đó hoặc giúp chúng ta cải thiện tình hình hiện tại.
03 Tháng Sáu 201911:47 SA(Xem: 226)
Trong một lần bình luận của mình, Glenn Beck đã từng nói rằng: Một người bình thường muốn chứng minh bản thân bình thường là điều hết sức khó khăn. Có lẽ chỉ có người không muốn chứng minh điều gì hết, mới có thể được gọi là một người bình thường. Về sau, rất nhiều người đã để lại lời bình luận của riêng họ
02 Tháng Sáu 20199:08 CH(Xem: 260)
Phóng viên nổi tiếng Sydney Harries và một người bạn dừng chân mua báo ở một quầy bán báo, người bạn mua xong rất lịch sự nói lời "Cám ơn!" nhưng người chủ quầy báo thì ngược lại, mặt lạnh như tiền, một tiếng cũng không thèm mở miệng. Hai người rời quầy báo tiếp tục đi về phía trước, Sydney Harries hỏi:
23 Tháng Năm 20199:43 SA(Xem: 296)
Tiền kiếp – có hay không? Miêu tả 2500 trường hợp trẻ em thuộc dữ liệu của trường Đại học Virginia (Hoa Kỳ) được các nhà nghiên cứu tìm hiểu cẩn thận kể từ khi bác sĩ Ian Stevenson nghiên cứu trường hợp đầu tiên cách đây 40 năm. Những đứa trẻ này thường bắt đầu kể về kiếp trước ở độ tuổi hai hoặc ba và có thể nói về gia đình lúc trước
21 Tháng Năm 20196:01 CH(Xem: 309)
Đây là cuốn sách thứ ba, trong loạt sách kể về những câu chuyện của các bệnh nhân của tôi. Tuy nhiên câu chuyện trong sách này có tính hấp dẫn nhất từ trước đến nay mà tôi đã được chứng kiến. Họ là một đôi bạn tri kỷ, mãi mãi gắn chặt vào nhau bằng tình yêu qua hết kiếp này sang kiếp khác. Làm thế nào mà chúng ta có thể tìm gặp
20 Tháng Năm 20199:06 CH(Xem: 307)
Thời đại ngày nay là thời đại khoa học, nhưng có thể nói chính xác hơn là thời đại khoa học vật chất, còn khoa học tinh thần thì có lẽ mới chỉ là những bước đi chập chững. Từ thượng cổ người ta đã suy nghĩ và tìm hiểu xem có tiền kiếp và luân hồi không, nhưng cho tới nay hầu như chưa có câu trả lời "khoa học". Những ý niệm, khái niệm,
11 Tháng Năm 201910:49 CH(Xem: 316)
Một chàng trai đến tìm nhà sư, anh nói: - Thưa thầy con muốn buông vài thứ nhưng con do dự quá, con mệt mỏi vô cùng. Nhà sư đưa anh ta 1 cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng vừa mới pha xong. Chàng trai nóng quá nhưng anh vẫn không buông tay mà chuyển từ tay này sang tay kia cho đến khi nguội đi
19 Tháng Tư 201912:04 CH(Xem: 412)
Nói dối là một phần được chấp nhận trong cuộc sống, từ việc chúng ta tự động trả lời 'Tốt' khi có ai hỏi 'Hôm nay cậu thế nào?' cho đến lời khen khi một người bạn hỏi chúng ta có thích kiểu đầu mới trông phát gớm của cô ấy không. Ấy vậy mà bất chấp sự phổ biến của nói dối trong cuộc sống chúng ta, đa số chúng ta không thật sự giỏi
18 Tháng Tư 20199:52 CH(Xem: 297)
Wabi-sabi tạo nơi trú ẩn chống nỗi ám ảnh của thế giới hiện đại về sự hoàn hảo, và chấp nhận sự không hoàn hảo một cách có ý nghĩa hơn và đẹp hơn, theo cách riêng của họ. Rút tay một cách miễn cưỡng ra khỏi chiếc bát đang quay chầm chậm, tôi nhìn thành bát không được đồng đều từ từ dừng lại, mong có thể điều chỉnh nó thẳng lên chút nữa.
17 Tháng Tư 20199:51 CH(Xem: 375)
Mọi đứa trẻ ở Nhật Bản được dạy dỗ 'gaman', tức là kiên trì nhẫn nại ở các thời điểm khó khăn. Đó có phải một cách để tạo ra một xã hội trật tự, hay 'gaman' có một mặt tối của nó? Ngày làm việc ở Tokyo thường bắt đầu bằng một chuyến đi qua hệ thống tàu điện ngầm nhộn nhịp nhất thế giới. Khoảng 20 triệu người đi tàu ở thủ đô Nhật Bản mỗi ngày.
28 Tháng Giêng 201910:04 CH(Xem: 463)
Ăn uống: Sử dụng nhiều rau xanh hàng ngày để bổ sung chất xơ cho đường tiêu hóa giúp làm nhuận tràng, hạn chế thực phẩm giàu béo, hạn chế dầu mỡ, thực phẩm chiên rán, hạn chế dùng chất kích thích như chè, café, bia rượu, chất cay, đắng, nóng. Uống đủ nước hàng ngày. – Vận động: Tránh béo phì, thường xuyên vận động
26 Tháng Giêng 20199:51 CH(Xem: 652)
Có một cậu sinh viên và một người Thầy lớn tuổi đang trao đổi với nhau về sự hoàn hảo. Chàng thanh niên với sức khỏe và lòng nhiệt huyết luôn muốn đi tìm cho mình mọi sự hoàn hảo. Người Thầy đã chú ý lắng nghe và thấu hiểu cậu sinh viên. Với bao nhiêu năm sống và hiểu biết bao chuyện xảy ra, ông nhẹ nhàng nói với cậu sinh viên:
21 Tháng Giêng 201910:37 CH(Xem: 592)
Từ trước khi được làm mẹ, tôi đã gặp chẳng ít những người mẹ đau khổ, luôn tự hỏi một câu: Tại sao mình đã hy sinh cho con tất cả, mà vẫn chẳng thể có được đứa con như mình mong muốn? Đứa con ấy có thể đã hỗn hào với mẹ, có thể đã cưới người vợ không hợp ý mẹ, đã lựa chọn một nghề nghiệp mà người mẹ kịch liệt phản đối,
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 711)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 901)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 1362)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 3097)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 636)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 2128)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 1110)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
11 Tháng Bảy 201910:36 SA(Xem: 81)
Đây là quyển sách đầu tiên chúng tôi viết về Thiền. Nó đã thai nghén nhiều năm, nay mới ra mắt độc giả. Chúng tôi cho nó ra đời nhằm vào những điểm sau đây: - Để bổ cứu phần nào lối học Phật mất gốc của Phật giáo đồ Việt Nam. - Để giúp cho những người có thiện chí tu thiền biết được lối tu và phân biệt tà chánh.
09 Tháng Bảy 20194:14 CH(Xem: 98)
Chúng tôi viết những bài này với tư cách hành giả, chỉ muốn độc giả đọc hiểu để ứng dụng tu, chớ không phải học giả dẫn chứng liệu cụ thể cho người đọc dễ bề nghiên cứu. Bệnh của chúng tôi là, cái gì thấy hay, không thể ôm ấp trong lòng, mà phải phô bày cho mọi người cùng biết;
07 Tháng Bảy 20199:33 CH(Xem: 189)
Chúng tôi viết quyển sách này cho những người mới bắt đầu học Phật. Bước đầu tuy tầm thường song không kém phần quan trọng, nếu bước đầu đi sai, những bước sau khó mà đúng được. Người học Phật khi mới vào đạo không hiểu đúng tinh thần Phật giáo,
22 Tháng Sáu 20194:39 CH(Xem: 460)
"Ở gần tỉnh Benares, trong công viên nai ở Isipatana, Bậc Giác Ngộ, bậc hoàn hảo, bậc hoàn toàn tỉnh thức, tức là Đức Phật đã lăn Bánh-Xe-Pháp cao-quý nhất. Và bánh xe pháp nầy khộng thể nào quay ngược (trở lại) bởi bất cứ người nào trên thế giới, dù cho: đó là nhà sư tu khổ hạnh, hoặc là vị Bà La Môn, hoặc là vị trời, hoặc là Ma Vương,
20 Tháng Sáu 201910:54 CH(Xem: 464)
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau: "Con đường cao quý có tám phần là gì? Con đường nầy gồm có: cái-nhìn-đúng, suy-nghĩ-đúng,
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 913)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 1190)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 1541)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 4464)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;