Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01, Phẩm Song-yếu - The Dhammapada, Chapter 01, Pairs

29 Tháng Mười Một 20188:57 SA(Xem: 85)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01, Phẩm Song-yếu - The Dhammapada, Chapter 01, Pairs

Chapter01-1A


Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01, Phẩm Song-yếu
The Dhammapada, Chapter 01, Yamakavagga: Pairs

 (Kệ 01-20 - Verses 01-20)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp001_B
Verse-Kệ 001

(1).- Tích chuyện vị Tăng mù - Kệ số 001

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng pháp, có đề-cập đến chuyện một vị tăng mù tên là Cát-Khư.

 

Nguyên, lúc bấy giờ, vị Tăng mù Cát-Khư đến đảnh-lễ Đức Phật. Chiều hôm ấy, ông đi kinh-hành bên ngoài, vô-ý đạp chết nhiều côn-trùng. Sáng hôm sau, nhiều vị tăng trẻ tuổi thấy xác côn-trùng, sanh ra hiểu lầm, cho rằng vị Tăng Cát-Khư phạm giới sát-sanh. Họ liền vào thưa trình với Đức Phật. Phật hỏi: "Các ông có chính mắt trông thấy Cát-Khư giết hại côn-trùng không?" Các vị tăng đáp, không. Phật bảo: "Các ông chẳng thấy ông ta giết, cũng như ông ta đã chẳng thấy các côn-trùng dưới chơn, khi đi kinh-hành. Hơn nữa, Cát-Khư đã chứng được quả-vị A-la-hán rồi, chẳng hề có ý-định sát-sanh, nên chẳng có phạm tội." Các vị tăng lại hỏi, vì sao vị Tăng đã chứng được quả-vị A-la-hán mà hai mắt lại bị mù, Đức Phật mới kể lại câu chuyện xưa như sau:

 

Trong một đời về tiền-kiếp, Cát-Khư là một vị y-sĩ có danh-tiếng. Một người đàn-bà bị đau mắt, đến thưa cùng ông: "Nếu ông chữa lành đôi mắt tôi, tôi nguyện tôi và các con cái của tôi sẽ làm nô-lệ cho ông." Khi người đàn-bà ấy đã lành mắt, lại muốn nuốt lời, bảo rằng đôi mắt còn tệ hơn trước. Cát-Khư biết rõ người ấy nói dối mình, nên căm-thù và đưa cho một thứ thuốc xoa vào mắt. Người đàn-bà bất-hạnh đó bị mù luôn. Vì tội-ác nầy, Cát-Khư phải sanh ra mù-loà trong nhiều đời sống kế-tiếp, cho đến hiện nay.

 

Sau khi kể xong, Đức Phật liền đọc lên bài kệ:

 

Nơi muôn pháp, ý đi tiền-đạo;

Ý làm chủ, ý tạo cõi lòng.

Ai đem tâm-ý chẳng trong

Nói năng, hành-động, khổ đồng theo sau;

Như xe chuyển bánh theo trâu kéo hoài.

(Kệ số 001)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Phẩm Song-yếu: Bộ Kinh Pháp-Cú có 26 chương, mỗi chương gọi là một Phẩm. Phẩm đầu-tiên nầy tên là Song-yếu (Song = hai; yếu = quan-trọng), gồm có nhiều bài kệ sắp thành từng cặp hai bài. Bài số 1 nầy được học chung với bài kệ số 2, ở phiá sau; cả hai bài cùng có liên-quan đến một ý-nghĩa chung.

 

- Tăng: đàn-ông, con trai, vào chùa tu theo đạo Phật. Nếu là giới phụ-nữ thì gọi là Ni.

 

- Cát-Khư: Thiện Nhựt mạn phép đặt tên Việt cho vị tăng nầy, để dễ đọc; trọn tên vị A-la-hán nầy bằng tiếng Pali là Cakkhupàla.

 

- Kỳ-viên-tự: chùa Kỳ-viên, tên tiếng Pali là Jetavana. Nguyên Thái-tử Kỳ-đà có khu vườn đẹp; ông Cấp-cô-độc muốn mua để cất tịnh-xá cho Đức Phật và Tăng-đoàn ở tu. Thái-tử bảo, lót vàng lên khắp mặt đất, ông sẽ bán cho. Ông Cấp-cô-độc làm theo, còn các hàng cây cao chẳng thể lót vàng lên được. Thái-tử cười, tặng cả khu vườn để xây tịnh-xá. Vì thế, tịnh-xá có tên là Kỳ-viên-tự (Kỳ = tên của Thái-tử Kỳ-đà; viên = vườn; tự = chùa). Trong các kinh, thường gọi nơi nầy là Kỳ-thọ Cấp-cô-độc-viên, nghĩa là ngôi chùa của Ông Cấp-cô-độc xây trong vườn có hàng cây của Thái-tử Kỳ-đà.

 

- Xá-vệ: một nước ở miền Bắc Ấn-độ ngày xưa, quê-hương của Đức Phật Thích-ca. Tên Pali là Sàvathi.

 

- kinh-hành: kinh = kinh; hành = đi. Đi kinh-hành là bước đi chầm-chậm từng bước, trong tâm im-lặng, hoặc vừa đi vừa niệm Phật. Còn gọi là thiền-hành.

 

- giới sát-sanh: giới = điều răn cấm của người tu-hành; sát = giết; sanh = sanh-vật có mạng sống. Sát-sanh là giết hại mạng sống, là điều răn cấm thứ nhứt trong giới-luật của đạo Phật.

 

- quả-vị A-la-hán: quả = kết-quả, khi tu thành-công; vị = ngôi-vị; A-la-hán = tiếng Phạn là Arhat, tiếng Pali là Arahant, người đã chứng được quả-vị thứ tư, cao nhứt trong hàng Thanh-văn. Thanh-văn là những vị đệ-tử sống gần bên Đức Phật, nghe giảng Pháp mà tu-tập, để lần-lượt chứng các quả vị: (1) Tu-đà-huờn, (2) Tư-đà-hàm, (3) A-na-hàm, và (4) A-la-hán. Ba quả-vị trước thuộc bực Hiền; quả-vị A-la-hán là bực Thánh, chẳng còn phiền-não và hết phải sanh trở lại trong vòng Luân-hồi.

 

- tiền-kiếp: tiền = trước; kiếp = các đời sống: trước, sau và hiện-tại, kể chung lại. Tiền-kiếp là kiếp trước, đời sống trước khi sanh thành người vào đời thời nầy.

 

- nô-lệ = đày-tớ ở trọn đời với chủ, chẳng có tự-do cá-nhơn riêng.

 

- muôn pháp: muôn = mười ngàn, ở đây, chỉ số nhiều; pháp = tất cả sự sự, vật vật, có thể đặt tên để gọi. Ví-dụ: cái xe, con trâu, người ta, ý-nghĩ, lời nói, v.v. đều là pháp cả.

 

- tiền-đạo: tiền = trước; đạo = đường; Ý muốn nói, trong mọi việc, ý khởi lên trước nhứt, dẫn đầu mọi việc khác.

 

- kinh, kệ: kinh = lời giảng về pháp-tu của Phật hay Bồ-tát, được ghi chép lại; kệ = bài thơ ngắn tóm tắt lại lời kinh đã giảng.

 

- Pháp-Cú: dịch chữ Pali là Dhammapada. Dhamma = Pháp = ở đây, có nghĩa là pháp-tu, đường lối tu-hành đi tìm Chơn-Lý. Cú = câu văn. Kinh Pháp-Cú nằm trong Tiểu-Bộ-Kinh, thuộc Kinh-Tạng, trong Tam Tạng Kinh-Điển. Kinh nầy ghi chép lại các bài kệ của Phật nói, nhơn một tích chuyện có thật xãy ra. Việc ghi chép nầy được thực-hiện sau khi Đức Phật đã lià đời.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

1.- Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang hai ý-nghĩa:

 

- một, kể lại việc, vì mù chẳng thấy côn-trùng ở dưới chơn, nên vị tăng chẳng phạm tội sát-sanh khi đạp chết chúng, lúc đi kinh-hành. Đức Phật bảo, vì chẳng có ý-định sát-sanh, nên chẳng phạm tội đó. Vậy, điều quan-trọng trong tội-lỗi, chính là ý ác khởi lên trước trong tâm.

 

- hai, kể lại việc báo thù của vị y-sĩ. Tại sao ông bị mù nhiều kiếp? Theo câu chuyện, chính ông có ác-ý, muốn hại người đàn-bà phải mù, để báo thù việc bà đã nói dối với ông. Ác-ý đó là nguyên-nhơn khiến cho ông phải chịu khổ-sở vì mù-loà, qua nhiều đời kế-tiếp.

 

2.- Ý-nghĩa của bài Kệ:

 

- Ý-nghĩa quan-trọng nhứt của bài Kệ là: trước khi nói-năng hay hành-động, từ trong tâm, ý đã khởi lên trước, khiến cho ta phải nói hay làm theo. Nếu có ý xấu, thì lời nói cùng việc làm, vì đó mà xấu theo. Rồi vì có ác-ý, có lời xấu, có việc làm dữ, nên phải chịu hậu-quả cũng xấu theo, là phải khổ-sở. Hễ có ý chẳng trong-sạch, rồi hành-động, hay nói, sai-lầm, thì sẽ phải khổ, theo sau liền, đâu tránh được. Diễn lại nghĩa nầy, giáo-lý nhà Phật gọi đó là luật Nhơn-quả: gây nhơn ác, chịu quả xấu.

 

- Hình-ảnh quan-trọng do bài Kệ gợi lên: Câu chót của bài Kệ gợi lên hình-ảnh cái bánh xe lăn theo chơn con trâu kéo phiá trước. Bánh xe chẳng thể ngừng, nếu con trâu phiá trước đang bước tới. Đó cũng như, đã có ý ác sẵn rồi, thì lời nói, việc làm chẳng thể tốt đẹp được. Lại nữa, lời nói, việc làm đã xấu thì người nói hay làm sẽ phải chịu sự khổ sở về sau, chẳng có cách nào thoát khỏi. Hình-ảnh bánh xe đang quay tượng-trưng cho vòng Luân-hồi (Luân = bánh xe; hồi = trở lại; quay hết một vòng rồi trở lại quay tiếp, chẳng ngừng.) Còn ở trong vòng Luân-hồi, là còn phải chịu cảnh sanh, già, bịnh, chết để rồi lại sanh trở lại, nối-tiếp khổ mãi.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ: đặc-biệt ghi nhớ: ý làm chủ, ý gây nên mọi việc khiến ta phải trôi lăn trong cảnh khổ của Luân-hồi.

 

2.- Trong ba nghiệp: nghiệp thân, nghiệp miệng và nghiệp ý thì ý-nghiệp là quan-trọng nhứt. Vì có nghiệp, nên con người phải chịu khổ trong cảnh Luân-hồi. Vậy, phải làm sao cho nghiệp được trong-sạch, mới dứt hết khổ. Dứt nghiệp bằng cách thanh lọc ý-nghiệp trước.

 

3.- Tập thanh-lọc tâm-ý: thanh-lọc tâm-ý là làm cho lòng mình được trong-sạch. Bằng cách nào? Bằng cách dẹp bỏ những ý-nghĩ xấu; hễ khi biết mình đang nghĩ quấy, phải liền dứt bỏ. Thí-dụ như đang nhớ đến việc xấu của người, đó là tâm mình đang bị "dơ", dơ vì mình để chỗ xấu của người len lọt vào tâm mình. Ai làm xấu mặc ai, mình chỉ nghĩ tốt.

The Story of Thera Cakkhupala

While residing at the Jetavana monastery in Savatthi, the Buddha uttered Verse (1) of this book, with reference to Cakkhupala, a blind thera.

On one occasion, Thera Cakkhupala came to pay homage to the Buddha at the Jetavana monastery. One night, while pacing up and down in meditation, the thera accidentally stepped on some insects. In the morning, some bhikkhus visiting the thera found the dead insects. They thought ill of the thera and reported the matter to the Buddha. The Buddha asked them whether they had seen the thera killing the insects. When they answered in the negative, the Buddha said, "Just as you had not seen him killing, so also he had not seen those living insects. Besides, as the thera had already attained arahatship he could have no intention of killing and so was quite innocent." On being asked why Cakkhupala was blind although he was an arahat, the Buddha told the following story:

Cakkhupala was a physician in one of his past existences. Once, he had deliberately made a woman patient blind. That woman had promised him to become his slave, together with her children, if her eyes were completely cured. Fearing that she and her children would have to become slaves, she lied to the physician. She told him that her eyes were getting worse when, in fact, they were perfectly cured. The physician knew she was deceiving him, so in revenge, he gave her another ointment, which made her totally blind. As a result of this evil deed the physician lost his eyesight many times in his later existences.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 1: All mental phenomena have mind as their forerunner; they have mind as their chief; they are mind-made. If one speaks or acts with an evil mind, 'dukkha' follows him just as the wheel follows the hoofprint of the ox that draws the cart.


At the end of the discourse, thirty thousand bhikkhus attained arahatship together with Analytical Insight (Patisambhida).

Dhammapada Verse 1
Cakkhupalatthera Vatthu


Manopubbangama dhamma
1
manosettha manomaya
manasa ce padutthena
2
bhasati va karoti va
tato nam dukkhamanveti
cakkamva vahato padam.

Verse 1: All mental phenomena have mind as their forerunner; they have mind as their chief; they are mind-made. If one speaks or acts with an evil mind, 'dukkhafollows him just as the wheel follows the hoofprint of the ox that draws the cart.


1. manopubbangama dhamma: All mental phenomena have Mind as their forerunner in the sense that Mind is the most dominant, and it is the cause of the other three mental phenomena, namely, Feeling (vedana), Perception (sanna) and Mental Formations or Mental Concomitants (sankhara). These three have Mind or Consciousness (vinnana) as their forerunner, because although they arise simultaneously with Mind they cannot arise if Mind does not arise. (The Commentary)

2. manasa ce padutthena (Verse 1) and manasi ce pasannena (Verse 2): Manasa here means intention or volition (cetana); volition leads one to the performance of volitional actions, both good and evil. This volition and the resultant actions constitute kamma; and kamma always follows one to produce results. Cakkhupala's blindness (Verse 1) was the consequence of his having acted with an evil intention in a previous existence and Matthakundali's happy existence in Tavatimsa celestial world (Verse 2) was the result of his mental devotion (manopasada) to the Buddha.

3. dukkha: In this context, dukkha mens suffering, or physical or mental pain, misfortune, unsatisfactoriness, evil consequences, etc., and rebirth in the lower planes of existence or in the lower strata of human society if born in the human world.


dhp002_B
Verse-Kệ 002

(2).- Tích chuyện chàng thanh-niên được sanh lên cõi Trời - Kệ số 002

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng pháp, có đề-cập đến Mã-Thà, một chàng thanh-niên dòng Bà-la-môn, được sanh lên cõi Trời.

 

Vào thời ấy, có một người Bà-la-môn giàu-có, nhưng rất rít-róng, chẳng ưa bố-thí cho ai cả. Ông tên là A-Đinh, chỉ có một đứa con trai, tên là Mã-Thà. Ông hà-tiện đến nổi chẳng chịu mua sắm vật trang-sức cho con mà chính tay ông lại làm lấy, để khỏi phải tốn tiền công thợ. Khi Mã-Thà đau nặng, ông chẳng chịu rước thầy thuốc để trị. Mãi cho đến khi bịnh-tình quá trầm-trọng, hết phương cứu chửa, ông liền đem giường con nằm ra để ngoài hàng ba, hướng về bàn thờ thần mưa ngoài sân, vì bụng ông sợ các người đến thăm-viếng, nhìn thấy đến của-cải trong nhà.

 

Sáng sớm hôm ấy, trong cơn thiền-định thâm-sâu, Đức Phật quán thấy cảnh thương-tâm của thanh-niên Mã-Thà đang nằm trước hàng ba ở nhà. Khi cùng với các đệ-tử vào thành Xá-vệ để khất-thực, Đức Phật liền đi đến trước cửa nhà ông A-Đinh và đứng dừng lại đó. Ngài phóng hào-quang chiếu vào nhà, khiến cho Mã-Thà phải chú-ý, quay đầu ra ngoài và nhìn thấy Phật. Vì bịnh quá nặng, Mã-Thà chỉ có thể dùng tâm-tư của mình, hướng về Phật mà đảnh-lễ. Thế cũng đủ! Ngay khi thở hơi cuối cùng, với tấm lòng kính-mộ Đức Phật sẵn trong tâm, Mã-Thà liền được sanh lên cõi Trời Đao-Lợi.

 

Từ trên cung Trời nhìn xuống, Mã-Thà thấy cha mình đang đau buồn ở nghĩa-điạ, chàng liền hiện thân xuống bên cha, như hồi còn sống. Mã-Thà thưa với cha, kể lại vì sao mình đã được sanh lên cõi Trời sung-sướng và thúc-dục cha nên thỉnh Đức Phật về nhà để dâng cơm cúng-dường. Bấy giờ, trong nhà ông A-Đinh mọi người đang bàn-tán về việc, có thật hay chẳng có thật, chỉ cần dùng tâm-ý kính-mộ Đức Phật là đủ để sanh lên Trời. Đoán biết được tâm-trạng còn nghi-ngờ của mọi người, tâm Đức Phật liền triệu-thỉnh Mã-Thà từ cung Trời Đao-Lợi. Mã-Thà liền vâng lịnh, trong y-phục đẹp-đẽ của chư Thiên, hiện xuống nhà cũ, đứng giữa mọi người, kể lại nhờ tâm biết kính-lễ Đức Phật mà được sanh Thiên.

 

Bấy giờ, Đức Phật liền đọc lên bài Kệ:

 

Nơi muôn pháp, ý đi tiền-đạo,

Ý làm chủ, ý tạo cõi lòng.

Ai đem tâm-ý sáng trong

Nói năng, hành-động, vui đồng theo sau;

Khác nào bóng chẳng lià hình.

(Kệ số 002)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Mã-Thà: Thiện Nhựt mạn phép đặt tên Việt cho chàng thanh-niên nầy, tên thật bằng tiếng Pali là Matthakundali.

 

- A-Đinh: cha của Mã-Thà; tên thiệt của ông là Adinnapubbaka.

 

- Bà-la-môn: giai-cấp tu-sĩ trong xã-hội xưa ở Ấn-độ. Có bốn giai-cấp, từ trên xuống dưới: (1) Bà-la-môn, tu-sĩ; (2) Sát-đế-lợi, vua, quan; (3) Phệ-xá, buôn bán, (4) Thủ-đà-la, công-nhơn.

 

- Bàn thờ thần mưa: theo tục-lệ bên Ấn-độ, thờ thần mưa gió, đặt bàn thờ ngoài sân, cũng tựa như bình-dân Việt có bàn thờ ông Thiên.

 

- Thiền-định: ngồi Thiền và nhập định, nghĩa là lắng yên tâm-tư trong cảnh vắng-lặng, chẳng theo cảnh bên ngoài, chẳng bị ý bên trong trì-níu.

 

Quán: suy-nghĩ sâu-xa, nhìn thấy bằng tâm-tư.

 

Khất-thực: khất = đi xin; thực = ăn. Đây là giới-hạnh Đức Phật đặt ra, buộc mọi vị tỳ-kheo phải mang bình bát đi ăn xin từng nhà, chớ chẳng được làm nghề khác để sanh-sống. Hạnh khất-thực khiến cho người tu-hành dẹp bỏ được sự kiêu-căng, cúi mình đi ăn xin, và có dịp gặp người thế-tục để giảng-dạy về pháp Phật.

 

Hào-quang: ánh-sáng phát ra từ người tu-hành đã chứng Đạo.

 

Đảnh-lễ: cúi đầu làm lễ, kính lạy. Mã-Thà chỉ đảnh-lễ Phật bằng ý-nghĩ thôi, vì lúc ấy anh đang đau nặng.

 

Cõi Trời Đao-Lợi: cõi Trời nầy, tiếng Pali là Tavatimsa. Còn gọi là Cõi Tam-thập-tam thiên, nghĩa là cõi Trời có 33 cảnh: mỗi phương có 8 cảnh, do một vị Thiên-đế cầm đầu, và ở trung-ương có Vua Đế-Thích ngự-trị.

 

Cúng-dường: dưng phẩm-vật lên để tỏ lòng kính-trọng. Vốn do đọc trại ra chữ Hán-Việt Cung-dưỡng ( = cung-cấp và nuôi dưỡng).

 

Kính-mộ: kính = cung-kính; mộ = ái-mộ; kính-mến.

 

Triệu-thỉnh: triệu = gọi đến; thỉnh = mời đến; cho gọi tới.

 

Sanh Thiên: sanh lên cõi Trời.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

1.- Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang hai ý-nghĩa:

 

- một, vì tỏ lòng kính-lễ Đức Phật, vào lúc sắp lià đời, nên chàng thanh-niên Bà-la-môn được sanh lên cõi Trời hưởng sự sung-sướng. Theo kinh sách, được thác-sanh vào cõi Trời, cuộc đời sẽ kéo dài lâu hơn ở trần-gian, mọi nhu-cầu đều được thoả-mãn đầy-đủ, chẳng phải lo việc ăn-uống, sống trong cung-điện huy-hoàng và muốn đi đâu liền được đến đấy. Nhưng khi hưởng hết phước lành, chư Thiên bị suy-thoái và còn phải chịu cảnh Luân-hồi, trở lại cõi trần hay đoạ vào các nẻo dữ. Người Phật-tử biết chọn mục-tiêu giải-thoát hoàn-toàn, chẳng lấy việc sanh lên Trời làm mục-đích, mà chọn con đường đi đến Niết-Bàn, chấm dứt cuộc tử-sanh, sống tịch-tĩnh trong niềm thường-vui.

 

- hai, thái-độ đáng trách của ông A-Đinh quá keo-kiệt: con đau chẳng rước thầy thuốc; đến lúc con lâm-nguy, lại đem ra bỏ ở hàng ba. Đó chính là vì bụng dạ quá rít-róng hà-tiện. Theo kinh-sách, những người như thế, sẽ thác-sanh vào hàng ngạ-quỉ ( = quỉ đói), luôn luôn bị đói khát. Để trị bịnh xan-tham nầy, kinh-sách dạy phải năng bố-thí. Trong các hình-thức bố-thí, sự dâng cúng lễ-vật đến các bực chơn-tu là hình-thức cao quí, chỉ thua việc pháp-thí ( = giảng-dạy Chánh-pháp cho kẻ khác biết được đường tu giải-thoát) mà thôi. Thanh-niên Mã-Thà, vì thế, đã khuyên cha nên thỉnh Phật đến nhà mà cúng-dường. Đó là việc tạo phước-đức thật to-lớn, khiến cho thí-giả ( = người đem của ra bố-thí) được sanh lên cõi Trời vào đời sau.

 

2.- Ý-nghĩa của bài Kệ:

 

- Ý-nghĩa quan-trọng nhứt của bài Kệ là: cũng như bài Kệ số 001, ý làm chủ, ý gây ra mọi việc, từ lời nói đến việc làm. Nếu đem tâm-ý thanh-tịnh mà nói lên, hoặc hành-động, thì sẽ được vui hưởng điều lành.

 

- Hình-ảnh do bài Kệ gợi lên: Câu chót của bài Kệ:

 

"Khác nào bóng chẳng lià hình" đã diễn-tả LUÂT NHƠN-QUẢ rất rõ-ràng bằng hình-ảnh: NHƠN là hình, còn QUẢ là bóng, là ảnh. Khi có ánh-sáng, ta chẳng thấy hình của vật nào mà chẳng có bóng của nó cả. Ở đời cũng vậy, chẳng có một sự-việc nào làm nguyên-nhơn gây ra mà chẳng có hậu-quả của nó đi kèm theo. Chẳng có cách nào để tách rời bóng với hình ra, cũng chẳng có cách nào để khiến cho một nguyên-nhơn chẳng gây ra hậu-quả được.

 

Trong bài Kệ số 001, tâm-ý chẳng trong-sạch làm nguyên-nhơn gây ra hậu-quả xấu, còn gọi là ác-báo.

 

Trong bài Kệ số 002, tâm-ý sáng trong làm nguyên-nhơn tạo nên thành-quả tốt, còn gọi là phước-báo.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ: bài Kệ số 002 dễ nhớ, nhờ đã thuộc sẵn bài Kệ số 001; chỉ cần đổi: "tâm-ý chẳng trong" ra "tâm-ý sáng trong", và trước thì: "khổ đồng theo sau", còn sau thì đổi ra "vui đồng theo sau".

 

Và học thêm câu chót: "Khác nào bóng chẳng lià hình", vốn là một câu thường nghe nói ở đời.

 

2.- Một cách thanh-lọc tâm-ý: Mô Phật! Ta thường thấy các cụ già mô Phật, mỗi khi nghe một câu nói chẳng vừa ý mình: đó là cách làm cho mình chẳng nổi lên tức-giận. Tiếng Mô Phật nầy chẳng nên thốt lên ngoài đầu môi chót lưỡi, mà khi nói, phải quay vào bên trong tâm mình, xem coi cơn giận nổi lên có còn đó hay không, hay đã bớt tức chút nào chưa. Người nào biết Mô Phật như thế là biết làm cho lòng mình trở nên trong-sáng hơn.

 

Thường người ta cũng mô Phật khi nghe một câu nói thiện-lành. Đó là làm cho tâm mình đang trong-sáng, lại càng trong-sáng hơn.

The Story of Matthakundali

While residing at the Jetavana monastery in Savatthi, the Buddha uttered Verse (2) of this book, with reference to Matthakundali, a young Brahmin. Matthakundali was a young brahmin, whose father, Adinnapubbaka, was very stingy and never gave anything in charity. Even the gold ornaments for his only son were made by himself to save payment for workmanship. When his son fell ill, no physician was consulted, until it was too late. When he realized that his son was dying, he had the youth carried outside on to the verandah, so that people coming to his house would not see his possessions.

On that morning, the Buddha arising early from his deep meditation of compassion saw, in his Net of Knowledge, Matthakundali lying on the verandah. So when entering Savatthi for alms-food with his disciples, the Buddha stood near the door of the brahmin Adinnapubbaka. The Buddha sent forth a ray of light to attract the attention of the youth, who was facing the interior of the house. The youth saw the Buddha; and as he was very weak he could only profess his faith mentally. But that was enough. When he passed away with his heart in devotion to the Buddha he was reborn in the Tavatimsa celestial world.

From his celestial abode the young Matthakundali, seeing his father mourning over him at the cemetery, appeared to the old man in the likeness of his old self. He told his father about his rebirth in the Tavatimsa world and also urged him to approach and invite the Buddha to a meal. At the house of Adinnapubbaka the question of whether one could or could not be reborn in a celestial world simply by mentally professing profound faith in the Buddha, without giving in charity or observing the moral precepts, was brought up. So the Buddha willed that Matthakundali should appear in person; Matthakundali soon appeared fully decked with celestial ornaments and told them about his rebirth in the Tavatimsa world. Then only, the audience became convinced that the son of the brahmin Adinnapubbaka by simply devoting his mind to the Buddha had attained much glory.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 2: All mental phenomena have mind as their forerunner; they have mind as their chief; they are mind-made. If one speaks or acts with a pure mind, happiness (sukha) follows him like a shadow that never leaves him.


At the end of the discourse Matthakundali and his father Adinnapubbaka attained Sotapatti Magga and Sotapatti Phala. Adinnapubbaka also donated almost all his wealth to the cause of the Buddha's Teaching.

Dhammapada Verse 2
Matthakundali Vatthu


Manopubbangama dhamma
manosettha manomaya
manasa ce pasannena
bhasati va karoti va
tato nam sukha
manveti
chayava anapayini.

Verse 2: All mental phenomena have mind as their forerunner; they have mind as their chief; they are mind-made. If one speaks or acts with a pure mind, happiness (sukha) follows him like a shadow that never leaves him.


1. Sukham/sukha: in this context, happiness, satifactoriness, fortune, etc., and rebirth in the three upper planes of happy existence.


dhp003_B
dhp004_B
Verse-Kệ 003-004

(3) Tích chuyện Trưởng-lão Thi-sa - Kệ số 003 và 004

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, ở nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng pháp, có đề-cập đến vị Tăng ngoan-cố là Tôn-giả Thi-Sa.

 

Tôn-giả Thi-Sa vốn là con nguời dì của Đức Phật, từng sống chung với Đức Phật khi Ngài còn là Thái-tử. Đến khi trộng tuổi, tôn-giả mới xuất-gia, thường tự coi mình là một vị Tăng Trưởng-lão. Thế nhưng đối với những nghĩa-vụ của một tăng-nhơn mới nhập-đạo, Tôn-giả thường hay xao-lãng; lại luôn cãi-vã náo-loạn lên với các vị tăng trẻ tuổi. Nếu có ai khiển-trách, thì Tôn-giả khóc lên, chạy đi mét với Đức Phật.

 

Một ngày kia, Thế-tôn hỏi ông: "Nầy Thi-Sa, cớ làm sao mà ông ưu-phiền đến nổi nước mắt chảy quanh mi như thế?" Thi-Sa vừa cãi-vã với một nhóm tăng-nhơn xong, liền thưa với Phật rằng: "Nếu họ đến đây để gặp Thế-tôn, thì chắc con chẳng phải ưu-phiền như vầy!" Vừa lúc ấy, các tăng-nhơn ấy đến lễ-bái Phật. Thi-Sa liền thưa: "Bạch đức Đạo-sư, các vị tăng nầy mới vừa khiển-trách con đây."

 

Thế-tôn hỏi:

 

- Hiện-tại, ông đang ở chỗ nào?

 

- Con đang ở tại Đại-sảnh-đường, Thế-tôn.

 

- Ông có thấy chúng tăng đi đến đây không?

 

- Con có thấy, Thế-tôn.

 

- Ông có đứng dậy nghinh-tiếp họ không?

 

- Chẳng có, Thế-tôn.

 

- Ông có đưa tay ra mời, dắt họ vào trong hay không?

 

- Chẳng có, Thế-tôn.

 

- Nầy Thi-Sa, ông chẳng nên có thái-độ như thế, đối với những người đã vào Đạo trước ông. Ông nên hướng về họ mà ngỏ lời xin lỗi đi.

 

- Thế-tôn, con chẳng chịu xin lỗi họ đâu!

 

Chúng tăng liền thưa với Đức Phật:

 

- Thế-tôn, vị tăng nầy rất là ngoan-cố.

 

Thế-tôn đáp:

 

- Nầy chư tăng, ông ta ngoan-cố như thế chẳng phải là lần thứ nhứt. Tại tiền-kiếp, ông ta cũng đã tỏ ra rất ngoan-cố rồi.

 

Chư tăng thỉnh-cầu Phật cho biết về tiền-kiếp, tôn-giả Thi-Sa đã ngoan-cố như thế nào. Do đó, Đức Phật mới kể lại câu chuyện xưa như sau đây:

 

Thuở xưa, có một vị tăng tu khổ-hạnh tên là Đề-va-la ngụ trên dãy núi Hi-mã-lạp-sơn. Vào đầu mùa mưa, ông quay về thành Ba-la-nại để mua muối, dấm và định lưu lại đây hết bốn tháng mưa dầm. Tại cửa thành, ông gặp hai vị tăng-nhơn trẻ tuổi, liền hỏi: "Các du-tăng đến thành nầy, thường trú-ngụ tại đâu?" Họ đáp, tại lò gốm. Đề-va-la liền đi đến lò gốm, xin ngủ qua đêm tại đó, và được chủ lò gốm chấp-thuận. Độ một lúc sau, lại có một vị du-tăng khác, tên là Na-ra-đa, cũng đến xin tá-túc. Hai người thi lễ với nhau rồi cùng tạm trú trong lò gốm bỏ trống về đêm.

 

Đến giờ đi ngủ, Na-ra-đa cẩn-thận xem Đề-va-la nằm ở đâu và cửa ra vào ở phía nào, rồi mới đi nghỉ. Thế nhưng một chập sau, Đề-va-la lại đổi chỗ, đến nằm gần bên cửa cái. Về khuya, Na-ra-đa cần đi ra ngoài, chẳng để-ý, đạp nhằm đầu của Đề-va-la. Đề-va-la hét lên:

 

- Ai đạp lên đầu ta vậy?

 

- Chính con là Na-ra-đa, con xin Sư-phụ tha lỗi.

 

- Mi là một tên ác-tăng, sống ở rừng-rú, cứ nhè đầu ta mà đạp lên.

 

- Con chẳng biết Sư-phụ đã đổi chỗ nằm, xin Sư-phụ tha tội.

 

Na-ra-đa liền đi ra ngoài. Trong lúc đó, Đề-va-la sợ bị đạp lần nữa, quay sang nằm chỗ khác. Lúc vào, Na-ra-đa cẩn-thận tránh chỗ cũ, đi chầm-chậm từng bước sờ-soạng, nhưng lại rủi thay lần nầy lại đạp trúng ngay cổ của Đề-va-la.

 

- Ai vậy?

 

- Chính con! Thật con chẳng biết Sư-phụ lại dời qua bên nầy, xin Sư-phụ từ-bi tha tội cho con.

 

- Mi quả thật là tên ác-tăng. Lúc đi ra, đạp đầu ta, lúc trở vào lại đạp cổ ta. Ta phải niệm chú nguyền-rủa mi mới được.

 

- Muôn vàn xin Sư-phụ từ-bi hỉ-xả mà tha tội cho con, xin đừng niệm chú.

 

Nhưng Đề-va-la chẳng tha, cứ niệm chú:

 

- Nguyện đầu mi sẽ bể thành bảy mảnh vụn vào lúc mặt trời mọc.

 

Na-ra-đa trong cơn thiền-định, nhận thấy chú-ngữ lại có phãn-ứng quay ngược lại hại người đang trù-rủa. Na-ra-đa liền vận thần-thông khiến cho mặt trời chẳng mọc lên được. Lúc bấy giờ, Quốc-vương thành Ba-la-nại biết được chuyện tại sao mặt trời chẳng mọc, lền giận-dữ và buộc Đề-va-la phải xin lỗi, để cho mặt trời mọc. Nhưng Đề-va-la nhứt-định chẳng tuân lịnh, cứ tiếp-tục niệm chú. Bấy giờ, Na-ra-đa mới thưa:

 

- Bạch Sư-phụ, con sắp làm phép cho mặt trời mọc trở lại; nhưng đầu của Sư-phụ sẽ bị bể. Sư-phụ mau mau lấy đất sét trét lên đầu, rồi lặn xuống sông ngay, đến chỗ cạn mới trồi lên.

 

Đề-va-la biết cơn nguy-khốn sẽ xãy ra cho mình, liền vội lấy đất sét trét lên đầu và lặn xuống sông. Đến khi trồi lên, mặt trời chiếu rọi, lớp đất sét trên đầu liền bể tan thành bảy mảnh vụn, nhờ đó mà thoát chết.

 

Đức Phật kết-thúc câu chuyện: "Đề-va-la chính là Thi-Sa ngày nay, vị Quốc-vương là A-nan-đà, còn Na-ra-đa chính là Ta đây." Rồi Đức Phật mới đọc lên hai bài Kệ như sau:

 

"Nó mắng tôi, nó đánh đập tôi,

"Nó thắng tôi, nó cướp đoạt tôi."

Ai ôm-ấp mãi tâm-niệm ấy,

Oán-hận chẳng nguôi, nặng cõi lòng.

(Kệ số 003)

 

"Nó mắng tôi, nó đánh đập tôi,

"Nó thắng tôi, nó cướp đoạt tôi."

Ai sớm vứt đi tâm-niệm ấy,

Oán-hận liền nguôi, nhẹ cõi lòng.

(Kệ số 004)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Trưởng-lão: trưởng = lớn; lão = già. Trưởng-Lão =vị Tăng có nhiều tuổi Đạo ( = dự một kỳ an-cư kiết-hạ vào mùa hè là thêm một tuổi Đạo)

 

- Tôn-giả: tôn = tôn-trọng; giả = người; bực đáng tôn-kính.

 

- Thi-Sa: tên thật bằng tiếng Pali là Tissa.

 

- Đề-va-la: tên thật bằng tiếng Pali là Devala.

 

- Na-ra-đa: tên thật bằng tiếng Pali là Narada.

 

- A-nan-đà: tên thật bằng tiếng Pali là Ananda.

 

- Thái-tử: thái = lớn; tử = con; người con trai lớn của Vua, sau sẽ nối ngôi.

 

- Trộng tuổi: đã lớn tuổi; vào khoảng trên bốn, năm mươi trở lên.

 

- Xuất-gia: xuất = đi ra; gia = nhà; rời nhà đi tu; trái nghĩa với chữ tại-gia là còn ở nhà, tu tại-gia.

 

- Ưu-phiền: ưu = lo-lắng; phiền = buồn lòng; buồn rầu.

 

- Khiển-trách: quở trách, trách móc.

 

- Đại-sảnh-đường: đại = lớn; sảnh =phòng; đường = nhà; căn phòng lớn trong nhà, tức là phòng khách.

 

- Chúng tăng: chúng = số đông; tăng = tu-sĩ theo đạo Phật.

 

- Nghinh-tiếp: nghinh = chào đón; tiếp = tiếp đón.

 

- Thế-tôn: thế = thế-gian; tôn = tôn trọng; bực được cả thế-gian tôn-trọng, tức là Đức Phật. Các tỳ-kheo gọi Phật là Thế-tôn; Phật tự xưng là Như-Lai.

 

- Ngoan-cố: cứng đầu, chẳng chịu vâng lời.

 

- Thỉnh-cầu: cầu xin; tiếng để thưa với các vị đáng tôn-trọng.

 

- Khổ-hạnh: khổ = cực khổ; hạnh = hành-động, hạnh-kiễm; đây là lối tu-hành ép-xác chịu cực-khổ nhiều.

 

- Ba-la-nại: thành-thị lớn ở Ấn-độ, còn có tên gọi là Vanarasi, hay là Bénarès. Chính ở một ngôi vườn gần thành nầy (vườn Lộc-uyển) Đức Phật đã giảng bài pháp đầu-tiên (Kinh Chuyển Pháp-Luân) cho năm anh em ông Kiều-trần-như nghe.

 

- Du-tăng: du = đi đó đi đây; tăng = tu-sĩ Phật-giáo; các vị du-tăng đi khắp nơi để tìm thầy học đạo, chẳng ở một nơi nhứt-định nào. Còn gọi là vị tăng hành-cước.

 

- Tá-túc: tá = nhờ vào, ở nhờ; túc = đêm; ở nhờ qua đêm.

 

- Thi lễ: thi = thi-hành, làm; lễ = chào; làm lễ chào hỏi nhau.

 

-Sư-phụ: thầy; thầy dạy Đạo (sư = thầy; phụ = cha).

 

- Ác-tăng: ác = dữ; tăng = tu-sĩ; tiếng để mạt-sát nhà tu-hành.

 

- Từ-bi hỉ-xả: theo nghĩa thông-thường là hãy mở lòng thương mà tha tội cho. Theo nghĩa chuyên-môn trong Phật-học, Từ là đem sự vui đến cho kẻ khác; Bi là cứu giúp kẻ khác khỏi khổ-đau; Hỉ là vui mừng khi thấy kẻ khác thành-công; Xả là buông-bỏ chẳng cố-chấp. Trong Phật-học, từ, bi, hỉ, xả, được gọi là Tứ vô-lượng Tâm, nghĩa là bốn tấm lòng rộng-rãi thương người (từ), cứu giúp người (bi), vui mừng khi thấy người sung-sướng (hỉ ), chẳng cố-chấp lỗi của người (xả ). Đây là đường-lối tu-hành của bực Bồ-tát.

 

- Niệm chú: niệm = đọc ra tiếng hay đọc thầm; chú = còn gọi là chơn-ngôn, chú-ngữ, lời nói bí-mật được tin-tưởng là có hiệu-lực thần-bí.

 

- Nguyền-rủa: trù ẻo; mong cho kẻ khác bị hại.

 

- Thần-thông: phép-lực siêu-nhiên, trhí dụ như bay trên không.

 

- Quốc-vương: quốc = nước; vương = vua.

 

- Tâm-niệm: tâm = lòng; niệm = ở đây, là ý-nghĩ, tư-tưởng.

 

- Oán-hận: oán = oán-thù; hận = hờn-giận.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

1.- Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện có các ý-nghĩa sau đây:

 

(1).- Bổn-phận của người mới vào tu đối với người đã tu lâu: Để tỏ lòng kính-trọng đối với người đã đi trước mình, người mới vào đạo phải kính-nhường, đón chào, kính-lễ và vâng lời. Vị Tăng Thi-Sa đã thiếu sót trong bổn-phận nầy, mặc dầu đã được Phật nhắc nhở.

 

(2).- Sự ngoan-cố chỉ đem hại lại cho người ngoan-cố:

 

- Thi-Sa chẳng chịu xin lỗi với chúng tăng và chẳng đứng dậy chào đón, mời họ vào Đại-sảnh-đường, nên mới bị Phật quở-trách.

 

- Đề-va-la cứ niệm chú để nguyền rủa Na-ra-đa, mặc dầu đã được xin lỗi, phải chịu hậu-quả tai-hại của lời chú quay ngược lại hại mình

 

- Người ngoan-cố phải chịu đau buồn vì trong lòng bị ý-tưởng xấu trì-níu, khuấy rối, xúi-dục làm điều quấy.

 

(3).- Thái-độ từ bi của vị Tăng Na-ra-đa: Nhờ thiền-định quán thấy ảnh-hưởng tai-hại của chú-ngữ sẽ xảy đến cho Đề-va-la, Na-ra-đa đã vận-dụng thần-thông cho mặt trời chẳng mọc. Lại chỉ cách cho Đề-va-la trét đất sét lên đầu, lặn xuống sông, để khỏi bị bể đầu. Đây là Na-ra-đa đã biết đem ơn mà trả oán.

 

2.- Ý-nghĩa của hai bài Kệ:

 

Ý-nghĩa quan-trọng của cả hai bài Kệ nầy là chỉ cách cho ta dẹp được niềm oán-hận đang nung-nấu trong tâm.

 

(1).- Tại sao sanh ra oán-giận? Hai câu đầu của cả hai bài Kệ nêu rõ nguyên-nhơn sanh ra oán-giận:

 

- "Nó mắng tôi": tôi sanh ra oán-giận nó, vì lời nói của nó làm chạm tự-ái của tôi.

 

-’‘Nó đánh-đập tôi": tôi sanh ra oán-giận nó, vì hành-động của nó xâm-phạm đến thân của tôi.

 

- "Nó thắng tôi": tôi sanh ra oán-giận nó, vì nó hơn tôi.

 

- "Nó cướp đoạt tôi": tôi sanh ra oán-giận nó, vì nó đã giựt lấy tài-sản của tôi.

 

Tóm lại, chỉ vì nó đã xâm-phạm đến tôi và những gì của tôi, mà tôi sanh ra oán-giận. Tôi giận vì tôi thấy những gì tôi quí đang bị xâm-phạm.

 

(2).- Khi mình sanh ra giận-hờn, thì lòng mình như thế nào?

 

So-sánh hai câu thứ ba và thứ tư ở cả hai bài Kệ, ta thấy:

 

(a).- Thái-độ khác nhau giữa người giận và người chẳng giận:

 

- "Ai ôm-ấp mãi tâm-niệm ấy": người giận cứ ghim chặt trong bụng mình lời nói và hành-động của người đã xâm-phạm mình;

 

-’‘Ai sớm vứt đi tâm-niệm ấy": người chẳng giận biết gạt khỏi bụng mình lời nói và hành-động của người đã xâm-phạm mình.

 

(b).- Kết-quả về phía người bị chọc giận:

 

- "Oán-hận chẳng nguôi, nặng cõi lòng": cơn giận khởi lên, chẳng những làm cho người giận tức-tối lên, nó còn đè nặng cõi lòng nữa, nghĩa là, nó nung-nấu, sôi sùng-sục, kéo dài sự khó chịu cho đến chừng nào quên giận đi thì mới thôi.

 

- "Oán-hận liền nguôi, nhẹ cõi lòng": cơn giận chẳng kịp nổi lên, lòng người bị chọc giận cảm thấy nhẹ-nhàng và vui hơn, vì đã "thắng" được mình, khi biết người gây oán-hận dầu có nói hay làm gì cũng chẳng "thấm" vào trong mình mình được.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng hai bài Kệ nầy. Học xong bài Kệ số 003, là thuộc luôn cả bài Kệ số 004. Tại sao? - Vì chỉ cần đổi có mấy chữ rất quan-trong nầy: đổi chữ ôm-ấp ra thành chữ vứt đi; đổi chữ chẳng nguôi ra thành chữ liền nguôi; đổi chữ nặng cõi lòng ra thành chữ nhẹ cõi lòng.

 

2.- Làm sao mà "Vứt Đi" được để cho "Nhẹ Cõi Lòng"?

 

Học thuộc lòng hai bài Kệ thì chẳng quá khó; đổi mấy chữ ở bài Kệ số 003 ra mấy chữ ở bài Kệ số 004 cũng chẳng phải quá khó, nhưng từ "Nặng cõi lòng" mà trở nên "Nhẹ cõi lòng" thì chẳng phải dễ. Phải tu cả đời mới khiến cho lòng mình được thanh-tịnh, nhẹ-nhàng.

 

Tôi xin đề-nghị vài cách "Vứt Đi cái Giận-Hờn" như sau:

 

- Cách thứ nhứt: hãy tìm ngay một ly nước lạnh, chẫm rãi uống từng ngụm và tự nói với mình: "Đừng có giận làm gì cho mệt!"

 

- Cách thứ hai: nếu chẳng có sẵn ly với nước, thì xin ngẩng đầu lên, nhắm mắt lại và chẫm-rãi hít vào một hơi dài, nghe luồng không-khí đi sâu vào, rồi thở từ từ ra, cũng nghe hơi xuyên qua lỗ mũi; thở như thế đến năm, mười hơi thì có lẽ người đang nói nặng kia cũng phải ... nín.

 

- Cách thứ ba: đừng nhìn vào người đang nói nặng, hãy nhìn vào bên trong lòng mình và thành-tâm niệm nho-nhỏ: Mô Phật! Chớ nên niệm ở đầu môi chót lưỡi, mà phải niệm chơn-thành, nếu tưởng thấy được tượng Phật đang ngồi trên toà sen thì rất quí. Tôi chắc niệm chừng năm sáu tiếng như thế, người nói nặng kia cũng ... bực mà nói: "Tao nói mầy có nghe không?" Ấy, đó là hiệu-lực của câu niệm đấy! Cứ niệm tiếp-tục, đừng trả lời, rồi thì chỉ còn tiếng Mô Phật, mà tiếng chửi bới im!

 

Trong ba cách nầy, tôi thấy cách thứ ba hiệu-nghiệm nhứt. Không tin, xin mời bạn gặp dịp làm thử xem!

 

Nhưng mà, khi bạn đang giận, bạn đâu biết bạn giận để đi tìm nước uống, để thở dài hơi, để Mô Phật. Vậy chỗ khó là chính mình phải biết mình đang giận, để tìm cách khắc-phục cơn giận. Làm sao biết?

 

3.- Câu hỏi: "Mình đang giận, làm sao biết mình đang giận?", nghe có vẻ lẩm-cẩm, nhưng câu hỏi đó chứa một sự-thật rất quan-trọng, và câu trả lời chẳng phải dễ tìm thấy. Sự-thật quan-trọng đó là, khi giận người ta như điên lên, chỉ biết hướng về đối-tượng mà trả thù cho hả cơn giận, chớ đâu có thời-giờ quay vào bên trong lòng mình mà nhìn xem tâm mình đang sôi sùng-sục như nồi cơm đang nấu trên bếp. Câu trả lời cho xác-đáng chẳng dễ tìm là vì rất khó cho mình nhìn biết tâm mình một cách vô-tư.

 

4.- Tại sao rất khó cho mình nhìn biết tâm mình một cách vô-tư? -

 

- Vì mình hay hướng ra bên ngoài, ít khi chịu quay vào bên trong để tự quán-sát và tự phán-xét mình. Nếu biết quay vào bên trong tâm mình, kinh sách gọi đó là phản quang tự-kỷ, nghĩa là dùng ánh-sáng của tâm-trí mình quay về chiếu rọi lấy tâm-trí của chính mình.

 

- Vì mình hay binh-vực mình, ít khi chịu thẳng-thắn nhìn lấy lỗi của mình, lại hay tìm cớ để bào-chửa cho cái Ta của mình. Nếu biết quên được cái Ta đó, hay cao hơn nữa biết vứt bỏ luôn cái Ta đó, kinh-sách gọi là thông-đạt được lẽ Vô-ngã của nhà Phật (vô = chẳng có; ngã = cái Ta). Và nếu chẳng những tâm-trí biết được lẽ Vô-ngã mà cả ý-tưởng, lời nói và việc làm đều theo đúng lẽ Vô-ngã, thì đang chứng-đắc được điều quan-trọng nhứt trong công việc tu-hành: tu là tu tâm mình.

 

5.- Thế nào là "Tu là tu tâm mình"? - Tu chẳng phải là chỉ ăn chay, đi chùa, lạy Phật, tụng kinh, niệm Phật mà đủ. Các việc vừa kể rất cần-thiết, nhưng chỉ là những hình-thức giúp cho mình biết hướng về bên trong mình, tập sao cho tâm-trí mình trở nên nhẹ-nhàng, trong-sáng hơn. Đến được mức tâm thamh-tịnh là được GIÁC-NGÔ và GIẢI-THOÁT.

 

6.- Bốn bài Kệ đầu-tiên trong Kinh Pháp-Cú vạch ra rõ con đường TU TÂM cho ta. Hai bài Kệ số 1 và số 2 chỉ rõ Tâm-Ý là nơi ta phải làm sao cho trong-sáng lên. Hai bài số 3 và số 4 dạy cách vứt đi sự Sân-Hận, để cho Tâm được nhẹ-nhàng hơn. Có ba món độc làm cho Tâm nặng-nề chẳng giải-thoát được: Tham, Sân và Si. Con đường tu tâm là dẹp sạch ba món độc-hại đó để được GIÁC-NGÔ và GIẢI-THOÁT. Chỉ có thế!

The Story of Thera Tissa

While residing at the Jetavana monastery in Savatthi, the Buddha uttered Verses (3) and (4) of this book, with reference to Thera Tissa.

Tissa, son of the Buddha's maternal aunt, was at one time staying with the Buddha. He had become a bhikkhu only in his old age, but he posed as a senior bhikkhu and was very pleased when visiting bhikkhus asked his permission to do some service for him. On the other hand, he failed to perform the duties expected of junior bhikkhus; besides, he often quarrelled with the younger bhikkhus. Should anyone rebuke him on account of his behaviour he would go complaining to the Buddha, weeping, very much dissatisfied and very upset. The others also followed him to the presence of the Buddha. The Buddha told them not to harbour thoughts of enmity, for enmity could only be appeased by not harbouring enmity.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 3: "He abused me, he ill-treated me, he got the better of me, he stole my belongings;"... the enmity of those harbouring such thoughts cannot be appeased.

Verse 4: "He abused me, he ill-treated me, he got the better of me, he stole my belongings;"... the enmity of those not harbouring such thoughts can be appeased.


At the end of the discourse, one hundred thousand bhikkhus attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verses 3 and 4
Tissatthera Vatthu


Akkocchi mam avadhi mam

ajini mam ahasi me
ye ca tam upanayhanti
veram tesam na sammati.

Akkocchi mam avadhi mam
ajini mam ahasi me
ye ca tam nupanayhanti
veram tesupasammati.

Verse 3: "He abused me, he ill-treated me, he got the better of me, he stole my belongings;"... the enmity of those harbouring such thoughts cannot be appeased.

Verse 4: "He abused me, he ill-treated me, he got the better of me, he stole my belongings;"... the enmity of those not harbouring such thoughts can be appeased.


dhp005_B
Verse-Kệ 005

(4).- Tích chuyện về nữ-quái Kha-ly - Kệ số 005

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ. Trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến việc hai người phụ-nữ có mối thù truyền-kiếp.

 

Vào thời xa xưa, một gia-chủ kia có một người vợ hiếm-hoi, chẳng sanh con cái. Bà sợ bị chồng phụ-bạc, nên dàn-xếp để cưới thêm một người vợ thứ cho chồng. Khi người vợ thứ có thai, người vợ lớn lén để thức-ăn kỵ-thai cho người vợ thứ ăn, thành ra bị hư-thai. Đến khi thụ-thai lần sau, người vợ lớn cũng ghen-tức và dùng mưu-kế cũ, khiến cho người vợ thứ phải chết. Trước khi lâm-chung, người đàn-bà bất-hạnh đó phát lời thề là sẽ báo thù người vợ chánh và con cái của bà ta. Do đó, mối oan-cừu nhiều đời khởi lên từ đấy.

 

Trong hai kiếp sống Luân-hồi tiếp theo, cả hai người tái-sanh, một đời, làm gà mẹ và mèo cái; một đời, làm nai cái với beo gấm. Đến đời sau nữa, một người được sanh vào một nhà quí-tộc ở nước Xá-vệ; còn một người hiện thân làm nữ-quái tên là Kha-Ly.

 

Một ngày kia, nữ-quái Kha-Ly rượt đuổi theo người phụ-nữ quí-tộc đang bồng con trên tay. Bà mẹ sợ con bị hại, nghe nói có Đức Phật đang giảng pháp tại Kỳ-viên-tự, mới ôm con chạy vào, đặt đứa con dưới chơn Phật để xin bảo-hộ. Nữ-quái Kha-Ly đuổi theo đến cổng chuà, bị vị giữ cửa ngăn lại, chẳng cho vào. Đức Phật quán thấy thế, liền bảo người canh cổng cứ cho vào, để Ngài chỉ-dạy cho cả hai người phụ-nữ.

 

Sau khi hỏi đầu-đuôi câu chuyện, Đức Phật liền kể lại ngọn ngành mối thù truyền-kiếp từ các đời trước của họ: hai người vợ, cùng có chung một chồng, ghen-tức nhau; mèo cái giết hại gà con của mẹ gà; beo gấm ăn thịt nai tơ của nai cái, và cho đến nay, một người có con còn một người chạy theo bắt. Đức Phật liền giải-thích cho họ biết, tâm sân-hận làm cho oán-thù càng ngày càng tăng-gia; chỉ có thiện-ý hoà-giải và tình hữu-nghị mới có thể chấm dứt hận-thù. Cả hai cảm-động nghe lời Phật dạy và nhờ đó mà vui-vẻ với nhau, quên mối thù xưa.

 

Đức Phật liền bảo người mẹ bồng đứa con trao cho nữ-quái. Bà mẹ ngần-ngại một lát, rồi vâng lời. Nữ-quái ôm lấy đứa con, hôn-hít nó như con mình đẻ, rồi trả nó lại cho mẹ nó. Đến đây, mới thật chấm dứt hẳn mối thù giữa hai người.

 

Bấy giờ, Đức Phật mới đọc lên bài Kệ:

 

Chuyện thù-oán ở thế-gian

Nào ai đem oán dẹp tan được thù?

Cứ theo định-luật thiên-thu,

Bỏ lòng oán-giận, oan-cừu liền nguôi.

(Kệ số 005).

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Nữ-quái: nữ = đàn-bà, cô gái; quái = kỳ-dị . Theo trong kinh, đó là một hạng chúng-sanh, gọi là ngạ-quỉ, nghĩa là quỉ đói.

 

- Gia-chủ: gia = nhà; chủ = chủ; chủ nhà.

 

- Hiếm-hoi: nói về người đàn-bà chẳng sanh con được.

 

- Phụ-bạc: phụ = làm trái ngược; bạc = lạt-lẽo; phụ-ơn và bạc-tình, nghĩa là chẳng thương mến, ghét bỏ.

 

-Vợ chánh, vợ thứ: theo chế-độ đa-thê ( = có nhiều vợ), người chồng, ngoài người vợ chánh-thức, còn có thể cưới thêm nhiều người vợ thứ khác nữa. Vợ chánh có quyền làm bà chủ nhà; trong khi đó, vợ thứ đóng vai phụ-thuộc như người ở trong nhà.

 

- Thụ-thai: mang thai trong bụng.

 

- Kỵ-thai: chất gây nguy-hiểm đến tánh-mạng của cái thai.

 

- Hư-thai: cái thai chết trước khi được sanh ra khỏi bụng mẹ.

 

- Lâm chung: lâm = vào lúc; chung = hết; vào lúc sắp chết.

 

- Bất-hạnh: bất = chẳng có; hạnh = hạnh-phước; xấu số, vô-phước.; gặp chuyển rủi-ro, nguy-hiểm.

 

- oan-cừu = thù-oán.

 

- Tái-sanh: tái = một lần nữa; sanh = sanh đẻ; sanh lại lần nữa.

 

- Quí-tộc: quí = cao-sang; tộc = dòng họ; nhà giàu-sang.

 

- Kha-Ly: tên thật bằng tiếng Pali là Kàlayakkhini.

 

- Bảo-hộ: che chở cho.

 

- Truyền-kiếp: truyền = chuyển tới; kiếp = đời sống; nhiều đời.

 

- Thiện-ý: thiện = lành; ý = tư-tưởng; ý-tưởng lành, tốt.

 

- Hoà-giải: hoà = yên lành; giải = mở ra; vui hoà với nhau, chẳng tranh-chống nhau nữa.

 

- Hữu-nghị: hữu = bằng-hữu, bè-bạn thân; nghị = tình giao-kết; tình bạn thân-thiết với nhau.

 

- Thiên-thu: thiên = một ngàn; thu = mùa thu; ngàn thu, ngàn xưa

 

B.- Nghĩa Ý:

 

1.- Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại mối thù nhiều đời giữa hai người đàn-bà ghen-tức nhau: một đời làm vợ chung một chồng, một đời làm mẹ gà và mèo cái, một đời làm nai cái và beo gấm, đến thời Đức Phật, trở lại làm người. Nguyên-nhơn chỉ vì một người có con, một người chẳng có, nên ganh-tức hại mẹ con người kia. Nhờ Đức Phật hoà-giải, chỉ cho họ thấy, chẳng thể lấy oán mà báo oán, phải đem lòng thân-hữu mà đối xữ với nhau thì thù-hận mới tiêu-tan.

 

2.- Ý-nghĩa của bài Kệ:

 

Lấy oán mà báo oán, oán oán kéo dài mãi mãi. Bỏ lòng oán-giận thì mọi mối thù-hận sẽ tiêu-tan. Đó là định-luật từ ngàn xưa và vẫn còn đúng đến ngàn sau.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Hãy cắt đứt dây oan-trái: người hại mình, mình hại lại, người lại trả thù, như thế, cả hai bị ràng buộc trong mối dây oan-trái ( = nợ oán). Muốn thoát khỏi sự ràng-buộc nầy, chỉ có cách là chẳng nên thù-oán ai, nên nhẫn-nhục chịu đựng và có lòng tha-thứ rộng-rãi.

 

2.- Vài đề-nghị:

 

- bị người lấn, chớ xô lại; hãy tránh ra xa, cả hai đều vui cả.

 

- bị người nói xấu, chớ tìm cách vạch lỗi người để bêu-riếu vì người cũng sẽ làm như thế đối với mình. Kết-quả cả hai đều xấu và lại chẳng chịu nhìn mặt nhau trong niềm vui, hoá ra cả hai cùng khổ cả.

 

- đem lòng thù ai khiến mình nặng lòng như mang một hòn đá.

The Story of Kalayakkhini

While residing at the Jetavana monastery in Savatthi, the Buddha uttered Verse (5) of this book, with reference to a certain woman who was barren, and her rival.

Once there lived a householder, whose wife was barren; later he took another wife. The feud started when the elder wife caused abortion of the other one, who eventually died in child birth. In later existences the two were reborn as a hen and a cat; a doe and a leopardess; and finally as the daughter of a nobleman in Savatthi and an ogress named Kali. The ogress (Kalayakkhini) was in hot pursuit of the lady with the baby, when the latter learned that the Buddha was nearby, giving a religious discourse at the Jetavana monastery. She fled to him and placed her son at his feet for protection. The ogress was stopped at the door by the guardian spirit of the monastery and was refused admission. She was later called in and both the lady and the ogress were reprimanded by the Buddha. The Buddha told them about their past feuds as rival wives of a common husband, as a cat and a hen, and as a doe and a leopardess. They were made to see that hatred could only cause more hatred, and that it could only cease through friendship, understanding and goodwill.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 5: Hatred is, indeed, never appeased by hatred in this world. It is appeased only by loving-kindness. This is an ancient law.


At the end of the discourse, the ogress was established in Sotapatti Fruition and the long-standing feud came to an end.

Dhammapada Verse 5
Kalayakkhini Vatthu


Na hi verena verani

sammantidha kudacanam
averena ca sammanti
esa dhammo sanantano.
1

Verse 5: Hatred is, indeed, never appeased by hatred in this world. It is appeased only by loving-kindness. This is an ancient law.


1. esa dhammo sanantano: This is the same as "poranako dhammo," the doctrine followed by the Budhha and his disciples. The exhortation is not to return hatred for hatred but to conquer it by loving-kindness (absence of hatred).


dhp006_B
Verse-Kệ 006

(5).- Tích chuyện chư Tăng ở Cô-sâm-bi - Kệ số 006

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có nhắc việc chư Tăng ở Cô-sâm-bi tranh-cãi nhau.

 

Lúc bấy giờ, chư Tăng ở Cô-sâm-bi chia rẽ nhau ra thành hai nhóm: một nhóm theo vị Giáo-thọ chuyên-giảng về Luật-Tạng và một nhóm theo vị Giáo-thọ chuyên-giảng về Kinh-Tạng. Họ tranh-cãi với nhau luôn. Ngay cả Đức Phật cũng chẳng thể khiến cho họ thôi cãi-vã, do đó Đức Phật mới rời bỏ họ, đi đến rừng Pali-lai, ngụ trong khu vườn Ra-khi-ta, sống qua mùa An-cư kiết-hạ một mình, được voi Pali-lai theo hầu-cận.

 

Các thiện-nam, tín-nữ ở Cô-sâm-bi, nghe tin Đức Phật đã rời Kỳ-viên-tự và khi biết được lý-do tại sao Ngài lại ra đi, họ liền từ-chối chẳng tiếp-tục cúng dường, dưng thực-phẩm cho các vị tỳ-kheo còn ở lại nữa. Điều nầy khiến cho chư Tăng phải lâm vào cảnh khổ-sở, vì lúc bấy giờ là mùa An-cư kiết-hạ, chư Tăng chẳng được phép đi ra ngoài khất-thực. Bấy giờ, họ mới tỉnh-ngộ và ý-thức được lỗi-lầm đã tranh-cãi nhau. Họ bắt đầu hoà-giải với nhau và chấm dứt sự chia-rẽ. Nhưng các thiện-nam, tín-nữ vẫn chưa chịu kính-nễ, cúng-dường họ như xưa, cho đến khi nào họ đến sám-hối tội-lỗi trước Đức Phật. Nhưng vì Đức Phật ở xa và đang mùa an-cư, nên chư Tăng phải sống qua ba tháng hè trong sự thiếu-thốn.

 

Khi mùa an-cư chấm dứt, Đại-đức A-nan-đà mới hướng-dẫn chư Tăng đến lễ Phật và trình lời thỉnh-cầu của ông Cấp-cô-độc và tín-chúng, khẩn-khoản mời Phật quay về tịnh-xá Kỳ-viên. Bấy giờ, Đức Phật mới trở về, theo sau có cả các vị tỳ-kheo. Khi về đến chùa Kỳ-viên, chúng Tăng đồng quì dưới chơn Phật, sám-hối tội-lỗi. Đức Phật mới quở-trách họ đã cãi lời Ngài và dạy rằng, mọi người ai cũng sẽ chết, tranh-cãi nhau ích-lợi gì đâu. Rồi Đức Phật liền nói lên bài Kệ sau đây:

 

Đời lắm kẻ chẳng ngờ sự chết

Rình mọi người chẳng sót một ai.

Kẻ nào sớm biết điều nầy,

Hơn thua, tranh-cãi, thôi ngay tức thì.

(Kệ số 006)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Cô-sâm-bi: tên điạ-danh nầy theo tiếng Pali là Kosambi.

 

- Rừng Pali-lai: tên khu rừng nầy bằng tiếng Pali là Pàlileyyaka. Con voi theo hầu Phật ở rừng nầy có tên là Pàlileyya.

 

- Vườn Ra-khi-ta: tên khu vườn nầy bằng tiếng Pali là Rakkhita.

 

- Giáo-thọ: vị Tỳ-kheo thông-thạo Kinh-điển, chuyên giảng dạy giáo-lý cho các tỳ-kheo khác.

 

- Luật-Tạng: Luật = giới-luật của Phật đặt ra cho các tín-đồ tuân theo trong khi tu-hành; Tạng = cái giỏ hay cái đảy đựng các quyển kinh-sách. Luật-Tạng là Tạng thứ nhứt của Tam Tạng Kinh-điển trong Giáo-pháp của Đức Phật. Hai Tạng kia là: Kinh-Tạng, gồm các quyển Kinh và Luận-Tạng, gồm các bài luận giải-thích rõ thêm về Kinh-điển.

 

- An-cư kiết-hạ: An-cư = ở yên; kiết hạ = qua mùa hạ. Vào ba tháng mùa hè ở Ấn-độ mưa nhiều, côn-trùng sinh-sản, nên Đức Phật đặt ra khoá An-cư Kiết-hạ, để chư Tăng quay về chùa, ở yên trong ba tháng, chẳng đi ra ngoài, sợ đạp chết côn-trùng. Trong thời-kỳ nầy, chư Tăng lo tu-tập, trao đổi kinh-nghiệm. Cứ mỗi năm có dự một khoá an-cư như thế, tỳ-kheo được tăng thêm một tuổi-đạo.

 

- Thiện-nam, tín-nữ: thiện = lành, nam = đàn ông; tín = tin-tưởng; nữ = đàn-bà; chỉ đến những người tin theo đạo Phật, tu tại nhà và đến chùa giúp đỡ chư Tăng cùng cúng-dường thực-phẩm, thuốc, men, lễ-vật.

 

- Tỉnh-ngộ: tỉnh = thức-tỉnh, biết ra; ngộ = hiểu ra được.

 

- Ý-thức: ý = ý-nghĩ, tư-tưởng; thức = biết; bắt đầu thấy và hiểu rõ trong lòng. Biết mà chẳng để-ý, thì chẳng gọi là ý-thức được.

 

- hoà-giải: hoà = hoà-thuận với nhau; giải = cởi mở ra, bỏ đìều chống-đối; làm lành lại với nhau, hết thù-oán.

 

- Cấp-cô-độc: tên một vị trưởng-giả giàu lòng từ-thiện, thường cứu-giúp những người cô-đơn. Tên thật là Anàthapindika. Chính ông nầy đã mua đất và cất tịnh-xá Kỳ-viên để Phật và chư Tăng trú-ngụ.

 

- Khẩn-khoản: thành-tâm nài-nỉ.

 

- Sám-hối: nhìn nhận lỗi đã làm và hứa chẳng tái-phạm nữa.

 

B.-Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang hai ý-nghĩa sau đây:

 

1.- Vì cố-chấp, các vị Tỳ-kheo ở Cô-sam-bi đã phạm lỗi tranh-cãi nhau và chia rẽ: Vì cho rằng nhóm của mình theo Luật-Tạng, hay theo Kinh-Tạng, giỏi hơn nhóm kia, nên các vị Tỳ-kheo mới sanh ra cãi-vã để rồi khiến cho Tăng-đoàn bị chia rẽ. Theo giới-luật nhà Phật, kẻ gây sự chia rẽ trong Tăng-đoàn, sẽ bị trục-xuất; và khi mất đi, sẽ sa vào điạ-ngục.

 

2.- Phản-ứng của thiện-nam, tín-nữ đã thức-tỉnh các vị Tỳ-kheo ở Cô-sâm-bi: Khi các vị Tỳ-kheo chia rẽ và tranh-cãi nhau ồn-ào, Đức Phật đã khuyên-can, nhưng họ vẫn cố-chấp nên chẳng biết nghe theo. Đến khi các thiện-nam, tín-nữ thấy lỗi của họ, chẳng chịu tiếp-tục cung-dưỡng họ nữa, họ mới sáng mắt ra. Tỳ-kheo là gương-mẫu tu-hành để cho dân-chúng noi theo, nay lại bị dân-chúng "dạy cho bài học về nhẫn-nhục", nên các vị Tăng đành phải chịu khổ-cực, thiếu-thốn, trong suốt ba tháng mùa hè.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ:

 

Bài Kệ rất rõ-ràng, chẳng có chữ nào khó, chứa đựng một sự-thật vô-cùng quan-trọng: Cái chết đang rình sẵn, chờ đợi mọi người, chẳng sót một ai. Ai cũng biết là mình thế nào rồi cũng phải chết, thế mà lúc còn sống, cứ mãi lo tranh hơn thua nhau. Hơn nhau nơi lời nói nào có ích-lợi chi lớn. Có biết đâu, đùng một cái Thần Chết đến, mọi việc đều buông xuôi! Lúc bấy giờ, nghiệp còn chưa dứt, phải chịu tái-sanh trong vòng Luân-hồi mãi mãi khổ-sở triền-miên. Thế nên, phải ngưng tranh-cãi nhau ngay và lo đến việc tu-hành cho thân-tâm dứt nghiệp mà được giác-ngộ và giải-thoát.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ nầy, và ôn lại bài Kệ số 005.

 

2.- Mỗi khi sắp cãi nhau với ai, nên nhớ lại: đừng tranh hơn thua nhau từ lời nói, mà phải biết Thần Chết đang chực sẵn kia, mình và người đang cãi với mình, chưa biết ai bị mời đi trước, thế thì còn mất thời giờ cãi-vã nhau làm chi! Có ai cãi được với Thần Chết?

The Story of Kosambi Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery in Savatthi, the Buddha uttered Verse (6) of this book, with reference to the bhikkhus of Kosambi.

The bhikkhus of Kosambi had formed into two groups. One group followed the master of Vinaya and the other followed the teacher of the Dhamma and they were often quarrelling among themselves. Even the Buddha could not stop them from quarrelling; so he left them and spent the vassa, residence period of the rains, all alone in Rakkhita Grove near Palileyyaka forest. There, the elephant Palileyya waited upon the Buddha.

The lay disciples of Kosambi, on learning the reason for the departure of the Buddha, refused to make offerings to the remaining bhikkhus. This made them realize their mistake and reconciliation took place among themselves. Still, the lay disciples would not treat them as respectfully as before, until they owned up their fault to the Buddha. But the Buddha was away and it was in the middle of the vassa; so the bhikkhus of Kosambi spent the vassa in misery and hardship.

At the end of the vassa, the Venerable Ananda and five hundred bhikkhus approached the Buddha and gave the message from Annathapindika and other lay disciples imploring him to return. In due course the Buddha returned to the Jetavana monastery in Savatthi. The bhikkhus followed him there, fell down at his feet, and owned up their fault. The Buddha rebuked them for disobeying him. He told them to remember that they must all die some day and therefore, they must stop their quarrels and must not act as if they would never die.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 6: People, other than the wise, do not realize, "We in this world must all die," (and, not realizing it, continue their quarrels). The wise realize it and thereby their quarrels cease.


At the end of the discourse, all the assembled bhikkhus were established in Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 6
Kosambaka Vatthu


Pare ca na vijananti
1
mayamettha yamamase2
ye ca tattha vijananti3
tato sammanti medhaga.

Verse 6: People, other than the wise, do not realize, "We in this world must all die," (and, not realizing it, continue their quarrels). The wise realize it and thereby their quarrels cease.


1. Pare ca na vijananti: 'Pare' means 'others'; in this context, people other than the wise. These people do not realize that they must die, and behave as if they were never going to die and keep on quarrelling. Therefore, they are sometimes referred to as the ignorant or the foolish, or those who are not worthy of love and respect.

2. mayamettha yamamase: lit., "We here must die," meaning we, of this world, must die; or all men are mortal.

3. ye ca tattha vijananti: in the case of those who understand, meaning the wise. The wise understand (or realize) that all men are mortal.


dhp007_B
dhp008_B
Verse-Kệ 007-008

(6).- Tích chuyện Trưởng-lão Khả-la - Kệ số 007 và 008

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại thành-phố Sê-ta, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến chuyện hai anh em người buôn-bán tên là Đại-Khả-La và Tiểu-Khả-La.

 

Hai anh em Khả-La có dịp được nghe Đức Phật giảng-pháp ở thành-phố Sê-ta, nơi họ trú-ngụ. Đại-Khả-La hiểu được lời-lẽ thâm-sâu của Đức Phật, nên mới thỉnh-cầu Đức Phật cho gia-nhập Tăng-đoàn. Người em là Tiểu-Khả-La cũng bắt-chước anh, nhưng trong bụng lại nghĩ, hãy tạm tu trong một thời-gian, rồi sẽ rủ anh trở về nhà mà hoàn-tục.

 

Đại-Khả-La tu-hành rất tinh-tấn, thường đến nghĩa-trang để quán-tưởng về lẽ vô-thường. Không bao lâu, Đại-Khả-La chứng-đắc được đạo-quả A-la-hán. Bấy giờ, Đức Phật và chư Tăng đang trú-ngụ trong rừng Sim-sa-ba, gần thành-phố Sê-ta. Các người vợ của Tiểu-Khả-La hay tin, mới chuẩn-bị rước Phật và chư Tăng về nhà để dưng cơm cúng-dường. Tiểu-Khả-La xin phép được về nhà trước để giúp lo sắp đặt chỗ ngồi cho Đức Phật và chúng Tăng. Khi thấy chồng trở về, các bà vợ liền xin chồng cổi áo cà-sa và mặc thường-phục vào. Sau buổi lễ cúng-dường, Tiểu-Khả-La ở lại nhà luôn.

 

Qua ngày hôm sau, các bà vợ cũ của Đại-Khả-La cũng muốn bắt chước mưu-kế của các cô em bạn dâu là vợ của Tiểu-Khả-La, đến thỉnh Đức Phật và chư Tăng về nhà cúng-dường. Đại-Khả-La cũng theo chơn Đức Phật về nhà cũ. Sau buổi lễ, Đại-Khả-La cũng lưu lại nhà, khi Đức Phật và chư Tăng trở về tịnh-xá. Bấy giờ, có một số tăng-nhơn thắc-mắc, tại sao Đại-Khả-La lại được phép ở lại nhà, và họ lo-lắng rồi đây Đại-Khả-La cũng hoàn-tục như người em. Lúc ấy, Đức Phật mới bảo họ, hai anh em Khả-La chẳng giống tánh nhau. Người em thì lười-biếng, ham-mê dục-lạc, thường mong-muốn có cơ-hội để trở lại đời sống gia-đình, còn người anh tu-hành rất tinh-tấn, dứt khoát với mọi ràng-buộc ở thế-gian.

 

Khi ấy ở nhà các bà vợ cũ muốn thay thường-phục cho Đại-Khả-La, nhưng chẳng được, vì Đại-Khả-La, đã chứng-đắc đạo-quả, vận-dụng thần-thông, bay lên trên không và đáp xuống bên cạnh Phật khi Ngài vừa nói chuyện xong với các tăng-nhơn còn thắc-mắc về Đại-Khả-La.

 

Bấy giờ, Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ, như sau đây:

 

Ai chạy theo thú-vui vật-chất,

Chẳng giữ-gìn, kiểm-soát giác-quan,

Chẳng điều-độ việc uống ăn,

Lại thêm lười-biếng, chẳng năng-lực gì,

Bị Ma-quân tức thì quật ngã,

Như gió to nhổ cả cây mềm.

(Kệ số 007)

 

Ai khéo quán tấm thân bất-tịnh,

Khéo giữ-gìn, chấn-chỉnh các căn,

Biết điều-độ việc uống ăn,

Vững tin Tam-Bảo, siêng-năng tinh-cần,

Ma nào khuấy, nếm phần thất-bại,

Như núi đá sao ngại gió to?

(Kệ số 008)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Các tên được Việt-hoá cho dễ đọc:

 

Tiếng Việt: Tiếng Pali:

 

Đại-Khả-La = Mahakàla

 

Tiểu-Khả-La = Cùlakàla

 

Sê-ta = Setabya

 

Sim-sa-ba = Simsapa.

 

- Hoàn-tục: hoàn = trở lại; tục = thế-tục; đã đi tu rồi mà nay trở lại đời sống gia-đình như trước.

 

- Vô-thường: vô = chẳng có; thường = thường-hằng, luôn luôn như vậy hoài, chẳng bị hư-hoại. Theo Lẽ Vô-thường, thì chẳng có một sự-vật nào trên thế-gian nầy mà chẳng bị biến-đổi, rồi suy-hoại đi.

 

- Đạo-quả: Đạo = con đường tu-tập, đường lối tu-hành; quả = quả-vị, ngôi-vị, khi tu-hành đã thành-công. Hai chữ đạo-quả dịch từ chữ Pali là Magga (Đạo, con đường) và Phala (Quả, trái cây).

 

- Thường-phục: thường = thường ngày; phục = y-phục, quần-áo; thường-phục ở đây là quần-áo mặc lúc chưa đi tu.

 

- Chị em bạn dâu: các người đàn-bà làm vợ cho hai anh em ruột.

 

- Dục-lạc: dục = ham muốn; lạc = vui; thú vui. Dục-lạc ở đây chỉ vào thú vui vật-chất, do các giác-quan mang lại, như ăn ngon, nghe hát...

 

- Giác-quan: giác = biết; quan = cơ-quan, bộ-phận. Ta có năm giác-quan: mắt, tai, mũi, lưỡi và da trên thân.

 

- Điều-độ: giữ đúng chừng mực, không đi quá mức.

 

- Ma-quân: Ma = loài Ma; quân = quân lính, quyến-thuộc. Ở đây, chữ Ma-quân có nghĩa là sự cám-dỗ.

 

- Quán tấm thân bất-tịnh: quán = suy-tưởng sâu-xa về một vấn-đề gì; thân bất-tịnh = thân là tấm thân thể-xác nầy; bất = chẳng; tịnh = trong-sạch. Quán thân bất-tịnh là suy-tưởng về tấm thân vật-chất nầy bên ngoài xem đẹp-đẽ mà bên trong chứa nhiều chất dơ, như mủ, máu, đờm, dãi, nước tiểu, phẩn, v.v. Biết quán thân bất-tịnh sẽ sanh ra nhàm-chán, chẳng chạy theo thú-vui vật-chất của các giác-quan trên thân nữa.

 

- các căn: căn = nơi phát-sanh ra các cảm-thọ và tư-tưởng. Ta có năm giác-quan, nhưng trong Phật-học phân-biệt đến sáu căn: nhãn-căn (mắt), nhĩ-căn (tai), tị-căn (mũi), thiệt-căn (lưỡi), thân-căn (da trên thân) và ý-căn (bên trong tâm).

 

- Tam-Bảo: tam = ba; bảo = vật quí-báu. Tam-Bảo là ba ngôi quí-báu mà ta tìm về nương-tựa: (1) Phật-bảo tức là Đức Phật; (2) Pháp-bảo tức là Giáo-pháp của Đức Phật đã giảng-dạy và (3) Tăng-bảo tức là Tăng-đoàn gồm các vị tu-hành noi theo con đường của Đức Phật.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện liên quan đến người đã xuất-gia, nghĩa là những bực tu-hành đã dứt bỏ mọi liên-hệ với gia-đình và ngoài xã-hội. Tuy nhiên, đứng về phương-diện của người Phật-tử tại-gia, chúng ta có thể tìm thấy các ý-nghĩa sau đây:

 

1.- Đi tu là việc khó, phải có đủ phước-duyên mới xuất-gia được.: Hai anh em ông Khả-La, một người đi tu luôn được, còn một người thì không, đó là vì quyết-tâm của mỗi người khác nhau, một người đã dứt-khoát cắt đứt sợi dây thân-ái gia-đình, một người còn ham-mê các thú-vui vật-chất trong nhà. Người Phật-tử trước khi quyết-định xuất-gia, phải xét cho cẩn-thận xem lòng mình và hoàn-cảnh mình có thuận-tiện chưa.

 

2.- Thắng được sự quyến-rũ là do quyết-tâm: Trưởng Lão Khả-La đã thắng được sự quyến-rũ của các bà vợ cũ là do quyết-tâm của Ngài chọn con đường giác-ngộ và giải-thoát. Còn ông Tiểu-Khả-La hoàn-tục là vì ngã theo sự quyến-rũ của các bà vợ; vả lại, khi đi tu, ông ta chỉ tính tu tạm một thời-gian mà thôi, chưa dứt khoát hẳn với đời sống thế-tục. Vào chùa tu trong một thời-gian, rồi trở lại đời sống gia-đình, với mục-đích đền ơn cha-mẹ và tạo cơ-duyên tu-hành cho kiếp sau, là việc đáng tán-thưởng; ở các nước theo Phật-Giáo nguyên-thuỷ đều có tập-tục nầy.

 

3.- Đức Phật biết chắc là Trưởng-Lão Khả-La sẽ trở lại chùa tu: Ngài biết chắc như thế, vì Ngài đã thấy rõ tánh-tình và đạo-hạnh của Trưởng-Lão Khả-La, người đã chứng-đắc đạo-quả A-la-hán, mọi ham-muốn đều đã dứt sạch.

 

(2).- Ý-nghĩa của hai bài Kệ:

 

Bài Kệ số 007 ứng-dụng cho Tiểu-Khả-La, bài sau chiếu vào Trưởng-Lão Đại-Khả-La.

 

1.- Những tật xấu khiến cho ta bị Ma quật ngã: (1) ham thú-vui vật-chất ( = ham mê dục-lạc), (2)chẳng kềm-chế các giác-quan, nhứt là mắt và tai (ham sắc đẹp, ham nghe lời khen, dụ-dỗ), (3) chẳng ăn-uống điều-độ (ham ăn ngon), (4) lười-biếng (thiếu sự cố-gắng), (5)chẳng năng-lực gì ( = sống buông-lung, chẳng tinh-tấn tu-hành). Bị Ma cám-dỗ, có nghĩa là mình hèn-yếu, chẳng chống-cự nổi với sự ham-muốn.

 

2.- Những tánh tốt khiến cho ta khuất-phục được Ma: (1) quán thân bất-tịnh (rồi nhàm-chán thân dơ-dáy, hết ham thú vui xác-thịt), (2) khéo diều-phục các căn (chẳng chạy theo cảnh-vật bên ngoài để bị quyến-rũ), (3) ăn-uống điều-độ (giữ gìn sức khoẻ, đủ sức chống lại mọi cám-dỗ), (4) vững tin ngôi Tam-Bảo (tạo thêm sức mạnh tinh-thần) và (5) siêng-năng tinh-cần (khiến cho sự lười-biếng, ham vui bị khuất-phục). Ma-quân đến phá, bị thất-bại, có nghĩa là chiến-thắng được sự cám-dỗ bên trong lòng mình.

 

3.- Hình-ảnh do hai bài Kệ gợi lên:

 

- người ham dục-lạc như cây mềm, bị ngọn gió to (sự cám-dỗ như Ma đến phá) nhổ đứt cả gốc ngọn.

 

- người biết dứt bỏ dục-lạc như vách đá kiên-cố, gió to (của Ma-quân đến khuấy) cũng chẳng làm gì nổi.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng hai bài Kệ số 007 và số 008.

 

2.- Tập dứt bỏ từ-từ năm tật xấu nói trong bài Kệ số 007: bắt đầu bằng việc ăn uống có điều-độ, như sau bữa cơm chiều, trước khi đi ngủ, chẳng ăn quà bánh, nếu có đói thì uống ly sữa nóng cũng đủ. Kế đó, đến việc kiểm-soát các giác-quan, bắt đầu bằng hai con mắt, như nghe nói có cái gì lạ, đẹp, đừng cố chạy đi tìm xem. Còn các tật khác, xin hãy tự tìm thấy và tự mình bỏ lấy từ-từ.

 

3.- Tập-luyện thêm những đức tánh tốt nói trong bài Kệ số 008: nếu tập dứt bỏ được các thói xấu kể trong bài Kệ số 007, thì đương-nhiên được các tánh tốt nói trong bài Kệ số 008. Riêng về vững tin ở Ngôi Tam-Bảo, thì phải siêng đi chùa, đọc kinh và niệm Phật. Thông thường, người ta chờ xem lời cầu xin, khi lạy Phật, có linh-nghiệm không rồi mới tin ở Phật, ở Pháp và ở Tăng. Đó là niềm tin chưa trọn-vẹn, tin mà còn đòi cho có được phần thưởng! Một niềm tin trong-sạch chẳng trông đợi ơn-huệ nào của ai.Tin ở Phật, vì Phật là bực Đại-giác-ngộ. Tin ở Pháp, vì Pháp dạy ta đường hay nẻo phải. Tin ở Tăng, vì Tăng đang đi theo con đường chơn-chánh của Phật. Thế thôi! Đừng chờ mong được gì rồi mới tin!

 

4.- Có Ma hay chẳng có Ma? Theo kinh sách thì có Ma: (1)tử-ma, là thần-thức người chết vất-vưởng, lang-thang, (2) ngũ-ấm-ma là những khổ-não do năm ấm trong thân tạo nên; (3) phiền-não-ma là những phiền-não do tham, sân, si gây ra và (4) thiên-ma tức là Ma Ba-tuần ở trên cung Trời Tha-hoá Tự-tại thường hiện xuống cám-dỗ.

 

Nhưng nếu ta tin rằng mình đủ sức chống lại sự cám-dỗ của lòng mình, thì việc có Ma hay không, có hề gì đâu?

The Story of Thera Mahakala

While residing in the neighbourhood of the town of Setabya, the Buddha uttered Verses (7) and (8) of this book, with reference to Mahakala and his brother Culakala. Mahakala and Culakala were two merchant brothers from the town of Setabya. While travelling about with their merchandise on one occasion, they had a chance to listen to a religious discourse given by the Buddha. After hearing the discourse Mahakala asked the Buddha for admission to the Order of the bhikkhus. Culakala also joined the Order but with the intention of coming out of the Order and to bring out his brother along with him.

Mahakala was serious in his ascetic practice at the cemetery (Sosanika dhutinga) and diligently meditated on decay and impermanence. He finally gained Insight and attained arahatship.

Later, the Buddha and his disciples, including the brothers, happened to be staying in the forest of Simsapa, near Setabya. While staying there, the former wives of Culakala invited the Buddha and his disciples to their house. Culakala himself went ahead to prepare seating arrangements for the Buddha and his disciples. Once there, the former wives of Culakala made him change into lay clothes.

The next day, the wives of Mahakala invited the Buddha and his disciples to their house hoping to do the same with Mahakala as the wives of Culakala had done to Culakala. After the meal they requested the Buddha to let Mahakala remain to "express appreciation" (anumodana). So the Buddha and the other disciples left.

Arriving at the village gate the bhikkhus expressed their dissatisfaction and apprehension. They were dissatisfied because Mahakala was permitted to stay behind and they were afraid that, like Culakala, his brother, Mahakala, too, would be made to leave the Order by his former wives. To this, the Buddha replied that the two brothers were not alike. Culakala indulged in sensual pleasures and was lazy and weak; he was just like a weak tree. Mahakala, on the other hand, was diligent, steadfast and strong in his faith of the Buddha, the Dhamma and the Samgha; he was like a mountain of rock.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 7: He who keeps his mind on pleasant objects, who is uncontrolled in his senses, immoderate in his food, and is lazy and lacking in energy, will certainly be overwhelmed by Mara, just as stormy winds uproot a weak tree.

 

Verse 8: He who keeps his mind on the impurities (of the body), who is well-controlled in his senses and is full of faith and energy, will certainly be not overwhelmed by Mara, just as stormy winds cannot shake a mountain of rock.


Meanwhile, the former wives of Mahakala surrounded him and tried to remove his yellow robes. The thera, sensing their attitude, stood up and rising up into the air by his supernormal powers passed through the roof of the house into the sky. He landed at the feet of the Buddha at the very moment the Master was coming to the end of his utterance of the above two stanzas. At the same time, all the bhikkhus assembled there were established in Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verses 7 and 8
Mahakalatthera Vatthu


Subhanupassim viharantam

indriyesu asamvutam
bhojanamhi camattannum
kusitam hinaviriyam
tam ve pasahati Maro
1
vato rukkhamva dubbalam.

Asubhanupassim viharantam
indriyesu susamvutam
bhojanamhi ca mattannum
saddham2 araddhaviriyam
tam ve nappasahati Maro
vato selamva pabbatam.

Verse 7: He who keeps his mind on pleasant objects, who is uncontrolled in his senses, immoderate in his food, and is lazy and lacking in energy, will certainly be overwhelmed by Mara,3 just as stormy winds uproot a weak tree.

Verse 8: He who keeps his mind on the impurities (of the body), who is well-controlled in his senses and is full of faith and energy, will certainly be not overwhelmed by Mara, just as stormy winds cannot shake a mountain of rock.


1. Maro/Mara: in this context kilesamara, the defilements hindering the realization of Nibbana.

2. saddham/saddha: According to the Commentary,
(a) unwavering (unshakable) faith in the Buddha, the Dhamma (the Doctrine) and the Samgha (the Buddhist Religious Order) and
(b) faith or belief in kamma (action) and its results.

3. Refer to 1.


dhp009_B
dhp010_B
Verse-Kệ 009-010

(7).- Tích chuyện về Đề-bà-đạt-đa - Kệ số 009 và 010

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến chuyện Đề-bà-đạt-đa mặc áo cà-sa.

Vào độ ấy, hai vị đại-đệ-tử của Đức Phật là các Tôn-giả Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên, từ Xá-vệ đến thành Vương-xá, để giảng đạo. Dân-chúng ở thành Vương-xá tổ-chức một lễ cúng-dường, dưng thực-phẩm lên hai vị Tôn-giả và chư Tăng tháp-tùng. Có một người tín-chủ, nhơn dịp nầy, đem một khúc vải quí, giá đáng ngàn vàng, trao cho ban tổ-chức, với lời dặn: đem bán đi để lấy tiền sung vào quỹ, nếu quỹ còn thiếu, bằng không thì đem vải dưng cho vị tỳ-kheo nào mà ban tổ-chức nhận thấy xứng đáng mặc vải ấy. Vì quỹ còn dư tiền, nên ban tổ-chức đem dưng cho một vị tỳ-kheo. Hai tôn-giả Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên sau đó rời Vương-xá trở về Xá-vệ, nên ban tổ-chức mới đem trao cho Tôn-giả Đề-ba-đạt-đa là người thường-trú ở thành Vương-xá. Tôn-giả Đề-bà-đạt-đa liền đem cắt may thành áo cà-sa, và khoác lên đi đó đây với niềm hãnh-diện.

Có một vị Tăng ở Vương-xá nhìn thấy Tôn-giả Đề-bà-đạt-đa có vẻ khoe-khoang về chiếc áo quí, khi đến đảnh-lễ Phật, mới bạch cùng Đức Phật. Đức Phật bảo, đấy chẳng phải là lần thứ nhứt Đề-bà-đạt-đa mặc chiếc áo cà-sa mà mình chẳng xứng đáng mặc. Rồi Đức Phật mới kể lại câu chuyện xưa về Đề-bà-đạt-đa như sau:

Vào một thời xa xưa, Đề-bà-đạt-đa là một người thợ săn voi trong rừng. Trong khu rừng ấy có một đàn voi đông-đảo, mỗi khi thấy một vị Bích-chi Phật đi ngang qua, chúng liền qùi xuống đảnh-lễ. Đề-bà-đạt-đa núp trong lùm cây, thấy thế, liền nghĩ ra một mưu-kế để săn voi. Nhơn lúc vị Bích-chi-Phật cổi áo ra tắm bên bờ suối, Đề-bà-đạt-đa liền lấy trộm chiếc áo cà-sa. Hôm sau, y lấy áo cà-sa khoác lên mình, dấu mũi chiã nhọn bên trong, đi vào rừng. Đàn voi ngỡ là vị Bích-chi-Phật đi đến, liền qùi xuống. Đề-bà-đạt-đa dễ-dàng phóng chĩa ra giết thú. Ngày qua ngày, đàn voi càng thưa lần vì số voi bị giết, khiến cho con voi đầu-đàn ngạc-nhiên, và theo trông chừng mỗi khi có người vào rừng. Khi thấy voi cùng đàn bị phóng chĩa, voi đầu-đàn vượt lên trước, dùng vòi quật ngã... người thợ săn gian-trá. Nhìn thấy chiếc áo cà-sa trên mình người thợ săn, voi đầu-đàn ngừng lại, tha chết cho y.

Kể đến đây, Đức Phật cho biết, vào thời ấy, con voi đầu-đàn đó chính là tiền-thân của Đức Phật, và ngày nay Đề-bà-đạt-đa khoe-khoang chiếc áo cà-sa, đó chẳng phải là lần thứ nhứt mà một người chưa xứng đáng lại lạm-dụng y-phục của nhà tu-hành chơn-chánh.

Rồi Đức Phật mới đọc lên hai bài Kệ sau đây:

Kẻ nào tâm vướng điều phiền-não,

Khoác lên thân chiếc áo cà-sa,

Thiếu kềm-chế, chẳng thật-thà,

Còn chưa đáng mặc cà-sa áo vàng.

(Kệ số 009).

Kẻ nào tâm sạch điều phiền-não,

Thân vững-vàng, đạo-hạnh cao-xa,

Biết kềm-chế, lại thật-thà,

Là người xứng đáng cà-sa mặc vào.

(Kệ số 010).

TÌM HIỂU:

A.- Nghĩa CHỮ:

- Các tên được Việt-hoá cho dễ đọc:

Tiếng Việt Tiếng Pali

- Vương-xá Ràjagaha

- Xá-lợi-phất Sariputta

- Đại Mục-kiền-liên Maha Moggallàna

- Đề-bà-đạt-đa Devadatta

- Đại-đệ-tử: đại = lớn; đệ = em; tử = con; ngưòi học-trò lớn, người đệ-tử lớn và giỏi. Đức Phật Thích Ca có mười người đại-đệ-tử, tôn-giả Xá-lợi-phất là người trí-huệ bực nhứt, tôn-giả Mục-kiền-liên, thần-thông đệ nhứt.

- Tôn-giả: tôn = tôn-trọng; giả = người; người đáng tôn-kính.

- Tháp-tùng: tháp = đi theo, gắn vào; tùng = theo; đi theo ai.

- Tín-chủ: tín = tin-tưởng; chủ = chủ; người tin Đạo, thường dưng cúng lễ vật vào chùa.

- Quỹ: tiền trong hội, để chi-phí chung cho hội.

- Thường-trú: thường = luôn luôn ở đấy; trú = ở, ngụ. Vị Tăng thường-trú tại môt chùa là vị Tăng ở luôn tại đó, chẳng đi chỗ khác.

- Bích-chi-Phật = tiếng Pali là Paccekabuddha, bực tu-hành đã giác-ngộ và giải-thoát như Phật, nhờ tu Tứ-Diệu-Đế, vào thời chẳng có Phật ra đời. Bích-chi-Phật chỉ tự mình giác-ngộ mà chẳng đi giác-tha, nghĩa là chẳng thuyết-pháp, giảng-dạy cho kẻ khác để họ cùng tu theo.

- Tiền-thân: tiền = trước kia; thân = thân-hình; thân trước kia vào một đời xa-xưa, trong cảnh Luân-hồi.

- Lạm-dụng: lạm = dùng quá mức, chẳng phải của mình mà lại lấy dùng; dụng = dùng; lấy dùng quá mức, chẳng xứng đáng.

- Chơn-chánh: chơn = đúng như sự-thật; chánh = ngay thẳng. Nhà tu-hành chơn-chánh là người tu-hành đàng-hoàng, giữ đúng giới-luật

- Phiền-não: phiền = buồn-phiền; não = áo-não, đau buồn. Trong bài Kệ, chữ phiền-não nói đến ba món độc tham, sân, si làm cho tâm chẳng trong-sạch mà sanh ra phiền-não.

- Cà-sa: tiếng Pali là Kàsàya, áo màu vàng của các tu-sĩ Phật-giáo

- Thật-thà: tánh ngay-thẳng, chẳng có gian-trá.

- Đạo-hạnh: Đạo = đường-lối tu-hành; hạnh = tánh-hạnh.

B.- Nghĩa Ý:

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

Tích chuyện mang các ý-nghĩa sau đây:

1.- Khi được biếu, chẳng nên nhận ngay nếu thấy mình còn chưa xứng-đáng: Khúc vải được đem dâng-cúng nhơn dịp hai vị đại-đệ-tử của Phật đến Vương-xá thuyết-pháp. Nếu tôn-giả Đề-bà-đạt-đa là người biết tự-trọng thì phải hỏi rõ lý-do và khước-từ tặng-phẩm. Đằng nầy, tôn-giả đã nhận lấy, lại đem may áo cà-sa quí để khoe-khoang với mọi người, đó là điều đáng trách. Vì thế, Đức Phật mới bảo là chẳng xứng đáng mặc.

2.- Khoác áo cà-sa, đội lốt nhà tu để gạt đàn voi, mắc hai tội: (1) lạm-dụng y-trang của nhà tu; (2)lập mưu gian để hại kẻ khác.

Xét theo giới-luật của người tu tại-gia, hai tội-trạng ấy tương-đương với tội trộm: mình chẳng phải nhà tu mà lạm-dụng mặc áo nhà tu; dùng áo nhà tu để gạt-gẫm kẻ khác nhẹ dạ tin mình là nhà tu. Người thợ săn Đề-bà-đạt-đa đã vướng hai tội ác đó.

Trong lịch-sử Phật-học, Đề-ba-đạt-đa còn phạm nhiều tội khác nữa. Vào lúc Đức Phật còn tại thế, Đề-bà-đạt-đa tái-sanh vào dòng quí-tộc, vốn là anh ruột của Tôn-giả A-nan, và là em chú-bác với Thái-tử Tất-đạt-ta. Khi đi tu, Đề-bà-đạt-đa gây chia rẽ trong Tăng-đoàn, đòi Đức Phật nhường quyền cho y cai-quản Tăng-đoàn và đã ba lần mưu-sát Đức Phật. Theo Kinh-sách, vì phạm các tội-ác đó, Đề-bà-đạt-đa phải sa vào điạ-ngục.

3.- Lòng nhơn-từ của con voi đầu-đàn: Khi sắp quật chết người thợ săn, để cho bầy voi khỏi bị sát-hại nữa, con voi đầu-đàn nhìn thấy chiếc áo cà-sa, nên tha mạng cho Đề-bà-đạt-đa. Điều nầy cho thấy tấm lòng từ-bi của Đức Phật đã có từ trước khi sanh ra làm người.

(2).- Ý-nghĩa của hai bài Kệ:

1.- Ba điều xấu chẳng xứng đáng mặc áo cà-sa: (1) tâm còn các phiền-não tham, sân, si; (2) thiếu kềm-chế, tức là chẳng tuân-hành giới-luật; (3) chẳng thật-thà, tức là gian-dối, thiếu sự ngay-thẳng.

2.- Năm điều tốt khiến cho xứng-đáng mặc áo cà-sa: (1) tâm sạch phiền-não, chẳng còn khoe-khoang; (2)thân vững-vàng đặt mình trong giới-luật; (3) đạo-hạnh cao-xa, tức là chơn-chánh tu-hành; (4) biết kềm-chế thân-tâm; (5) thật-thà, ngay thẳng chẳng hề gian-dối.

HỌC TẬP:

1.- Hai bài Kệ liên-quan đến người xuất-gia, Phật-tử tại-gia học thuộc lòng cũng tốt.

2.- Mỗi khi mặc áo tràng đi chùa, phải biết giữ-gìn tư-cách và lời nói, cho xứng-đáng với chiếc áo mình mặc. Điều cần nhứt là trong tâm lúc ấy phải dẹp bỏ những tư-tưởng khoe-khoang và ganh-ghét.

The Story of Devadatta

While residing at the Jetavana monastery in Savatthi, the Buddha uttered Verses (9) and (10) of this book, with reference to Devadatta.

Once the two Chief Disciples, the Venerable Sariputta and the Venerable Maha Moggallana, went from Savatthi to Rajagaha. There, the people of Rajagaha invited them, with their one thousand followers, to a morning meal. On that occasion someone handed over a piece of cloth, worth one hundred thousand, to the organizers of the alms-giving ceremony. He instructed them to dispose of it and use the proceeds for the ceremony should there be any shortage of funds, or if there were no such shortage, to offer it to anyone of the bhikkhus they thought fit. It so happened that there was no shortage of anything and the cloth was to be offered to one of the theras. Since the two Chief Disciples visited Rajagaha only occasionally, the cloth was offered to Devadatta, who was a permanent resident of Rajagaha.

Devadatta promptly made the cloth into robes and moved about pompously, wearing them. Then, a certain bhikkhu from Rajagaha came to Savatthi to pay homage to the Buddha, and told him about Devadatta and the robe, made out of cloth worth one hundred thousand. The Buddha then said that it was not the first time that Devadatta was wearing robes that he did not deserve. The Buddha then related the following story.

Devadatta was an elephant hunter in one of his previous existences. At that time, in a certain forest, there lived a large number of elephants. One day, the hunter noticed that these elephants knelt down to the paccekabuddhas* on seeing them. Having observed that, the hunter stole an upper part of a yellow robe and covered his body and hand with it. Then, holding a spear in his hand, he waited for the elephants on their usual route. The elephants came, and taking him for apaccekabuddha fell down on their knees to pay obeisance. They easily fell prey to the hunter. Thus, one by one, he killed the last elephant in the row each day for many days.

The Bodhisatta (the Buddha-to-be) was then the leader of the herd. Noticing the dwindling number of his followers he decided to investigate and followed his herd at the end of the line. He was alert, and was therefore able to evade the spear. He caught hold of the hunter in his trunk and was about to dash him against the ground, when he saw the yellow robe. Seeing the yellow robe, he desisted and spared the life of the hunter.

The hunter was rebuked for trying to kill under cover of the yellow robe and for commuting such an act of depravity. The hunter clearly did not deserve to put on the yellow robe.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 9: He who is not free from taints of moral defilements (kilesas) and yet dons the yellow robe, who lacks restraint in his senses and (speaks not the) truth is unworthy of the yellow robe.

 

Verse 10: He who has discarded all moral defilements (kilesas), who is established in moral precepts, is endowed with restraint and (speaks the) truth is, indeed, worthy of the yellow robe.


At the end of the discourse, many bhikkhus were established in Sotapatti Fruition.

PaccekabuddhaOne who, like the Buddha, is Self-Enlightened in the Four Noble Truths and has uprooted all the moral defilements (kilesas). However, he cannot teach others. Paccekabuddhas appear during the absence of the Buddha Sasana (Teaching).

Dhammapada Verses 9 and 10
Devadatta Vatthu


Anikkasavo kasavam
1
yo vattham paridahissati
apeto damasaccena
na so kasavamarahati.


Yo ca vantakasav'assa
2
silesu susamahito
upeto damasaccena
sa ve kasavamarahati.

Verse 9: He who is not free from taints of moral defilements (kilesas) and yet dons the yellow robe, who lacks restraint in his senses and (speaks not the) truth is unworthy of the yellow robe.

Verse 10: He who has discarded all moral defilements (kilesas), who is established in moral precepts, is endowed with restraint and (speaks the) truth is, indeed, worthy of the yellow robe.


1. kasavam or kasavam vattham: the yellow or reddish yellow robe donned by members of the Buddhist Religious Order. There is a play on words in the above stanzas; 'anikkasavo', meaning, not free from faults of moral defilements and therefore, stained; and kasavam, the yellow robe, dyed sombre in some astringent juice and is therefore stained.

2. vantakasav'assa: lit., has vomited all moral defilements; it means, has discarded all moral defilements through the four Path Knowledge (Magga nana).


dhp011_B
dhp012_B
Verse-Kệ 011-012

(8).- Tích chuyện hai Tôn-giả Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên - Kệ số 011 và 012

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-Lâm ở gần thành Vương-Xá, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị thầy ngoại-đạo của hai tôn-giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên.

 

Khi xưa, tôn-giả Xá-lợi-phất quê ở làng Ưu-ba-thích và tôn-giả Mục-kiền-liên ngụ tại làng Cô-ly-ta. Cả hai lúc bấy giờ còn là thanh niên, đi xem diễn trò ảo-thuật; họ nhận thấy được sự huyễn-hoá của mọi sự-vật, nên quyết-tâm đi tìm thầy để học đạo, hầu được giải-thoát. Họ tìm đến vị du-sĩ khổ-hạnh ngoại-đạo tên là San-dà-da ở Vương-xá, để thọ-giáo. Nhưng cả hai chẳng thoả-mãn về giáo-lý của vị tu-sĩ nầy, nên mới lên đường đi khắp nước để tầm sư học Đạo. Khi họ trở về quê cũ, vẫn chưa tìm được thầy, nên họ chia tay nhau, hẹn với nhau rằng, hễ ai gặp đúng được Thầy thì sẽ mách cho người kia cùng theo học.

 

Một hôm, tôn-giả Xá-lợi-phất gặp được Trưởng-lão Át-bệ và được Ngài đọc cho nghe bài Kệ, như sau:

 

(Bằng Hán-văn, dịch từ chữ Phạn)

Chư pháp nhơn-duyên sanh,

Diệc tùng nhơn-duyên diệt.

Ngã Phật Đại-Sa-môn

Thường tác như thị thuyết.

 

(Tạm dịch ra Việt-văn)

Muôn pháp do nhơn-duyên sanh

Cũng do nhơn-duyên mà diệt.

Thầy ta, Phật Đại-sa-môn

Thường nói rõ đúng như thế.

 

Nghe xong bài Kệ, tôn-giả Xá-lợi-phất thấu rõ nghĩa thâm-sâu, nên chứng-đắc ngay đạo-quả Tu-đà-huờn. Rồi đúng như lời ước-hẹn trước kia, tôn-giả Xá-lợi-phất đến gặp bạn mình là tôn-giả Mục-kiền-liên, báo cho bạn biết mình đã chứng đạo-quả Tu-đà-huờn và đọc lại bài Kệ trên cho bạn nghe, Nghe xong, tôn-giả Mục-lkiền-liên cũng chứng-đắc đạo-quả Tu-đà-huờn. Bấy giờ, cả hai nhớ đến vị thầy cũ là San-dà-da, mới tìm đến mời thầy cùng đi đến gặp Đức Phật. Nhưng San-dà-da từ-khước.

 

Hai tôn-giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên liền cùng với năm trăm đồ-đệ lên đường đến gặp Đức Phật và xin xuất-gia để gia-nhập Tăng-đoàn. Bảy ngày sau khi được làm lễ xuất-gia, tôn-giả Mục-kiền-liên chứng-đắc được đạo-quả A-la-hán, còn tôn-giả Xá-lợi-phất cũng chứng-đắc được đạo-quả ấy vào nửa tháng sau. Đức Phật liền chọn hai vị tôn-giả làm vị tỳ-kheo cầm đầu chúng Tăng.

 

Hai vị đại-đệ-tử liền bạch lại với Đức Phật việc thầy cũ của họ là San-dà-da, đã nói với họ, khi khước-từ lời mời của họ để đến qui-y với Đức Phật. Ông ta nói: "Ta đã từ lâu làm thầy dạy Đạo cho rất nhiều đệ-tử. Nay trở lại làm học-trò, thì cũng như cái lu to trở thành cái ly nhỏ vậy. Thế-gian rất hiếm người hiền-trí, mà số người còn khờ-dại lại rất đông-đảo. Hãy để những người hiền-trí đi đến với Đại-Sa-môn Gotama, và hãy để những kẻ khờ tiếp-tục đến với ta. Thôi, hai trò cứ đi theo con đường đã chọn!"

 

Nghe xong, Đức Phật liền vạch rõ sự tự-phụ rỡm của San-dà-da đã khiến cho ông ta chẳng nhìn thấy được Sự-thật, ông ta lấy chỗ sai làm chỗ đúng, nên chẳng bao giờ đi đến Sự-thật được.

 

Rồi đó Đức Phật đọc lên hai bài Kệ, như sau:

 

Họ lầm chỗ sai, làm chỗ đúng;

Điều đúng đây, bảo cũng là sai.

Họ xa Chơn-lý dài dài,

Bởi đem tà-kiến mà cài vào tâm.

(Kệ số 011).

 

Họ xem đúng, đấy là chỗ đúng,

Điều nầy sai, bảo cũng là sai.

Họ gần Chơn-Lý tuyệt-vời,

Bởi theo chánh-kiến sáng ngờì trong tâm.

(Kệ số 012).

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Các tên được Việt-hoá cho dễ đọc:

 

Tiếng Việt Tiếng Pali

 

- Vương-xá : Ràjagaha

 

- Trúc-Lâm : Veluvana

 

- Ưu-bà-thích : Upatissa

 

- Cô-ly-ta : Kolita

 

- San-dà-da : Sanjaya

 

- Át-bệ : Assaji

 

- Ảo-thuật: ảo = xem như thật mà chẳng phải thật; thuật = sự khéo-léo . Ảo-thuật là diễn trò lạ thường xem như thật mà là giả, như biến cái khăn thành con chim bồ-câu, v.v.

 

- Huyễn-hoá: Huyễn = ảo, xem như thật mà chẳng có thật, ví dụ như bóng trong tấm kiếng, hình trên mặt nước, v.v.; hoá = biến-hoá, thay đổi, vô-thường. Sự-vật đều huyễn-hoá có nghĩa là mọi sự-vật trên thế-gian nầy, tuy có đó, nhưng chẳng thường còn mãi, chẳng bền-chắc, có đó rồi mất đó.

 

- Du-sĩ: ở đây, có nghĩa là tu-sĩ chẳng có nơi trú-ngụ, nay đây mai đó, đi lang-thang, sống đời khổ-hạnh, cầu giải-thoát.

 

- Ngoại-đạo: ngoại = ngoài; đạo = đạo; ở đây nói ngoài Đạo Phật. Phật-học dùng chữ ngoại-đạo để chỉ đến các đạo khác hơn là đạo Phật.

 

- Át-bệ: vị Trưởng-Lão nầy là một trong năm người đầu-tiên được nghe Phật giảng Kinh Chuyển Pháp-Luân tại vườn Lộc-Uyển, gần thành Ba-la-nại, khi Ngài vừa mới thành đạo. Vốn cùng với ông Kiều-trần-như, là bạn đạo cũ của thái-tử Tất-đạt-ta.

 

- Nhơn-duyên: lý-do, nguyên-nhơn tạo nên; nhơn là chánh, còn duyên là phụ, cùng gây nên hậu-quả.

 

- Diệt: tiêu mất đi.

 

- Đại-Sa-môn: Đại = lớn; Sa-môn = phiên-âm chữ Phạn Samona, có nghĩa là tu-sĩ Phật-giáo. Theo nghĩa chuyên-môn, Sa-môn có ba nghĩa: (1) cần-giả ( = siêng làm điều thiện); (2) tức-giả ( =chăm dứt bỏ điều ác) và (3) bần-giả ( = cam chịu sự nghèo thiếu).

 

- Tu-đà-huờn: tiếng Pali là Sotàpatti, nghĩa là người đã bước vào dòng nước Thánh (chữ Hán-Việt là Nhập Lưu), chỉ còn phải tái-sanh bảy lần nữa mà thôi; nên còn gọi là Thất-Lai ( thất = bảy; lai = đến). Đây là quả-vị đầu-tiên trong hàng Thanh-văn ( = các đệ-tử sống gần bên Phật, nghe giảng kinh, tu theo Tứ-Diệu-đế mà được giác-ngộ và giải-thoát.)

 

- A-la-hán: tiếng Pali là Arahant, quả-vị thứ tư, cao nhứt trong hàng Thanh-văn. Theo nghĩa chuyên-môn, A-la-hán có nghĩa là (1) sát tặc ( = giết giặc, đây là giặc phiền-não, dứt phiền-não), (2) ứng-cúng ( = xứng đáng nhận sự cúng-dường của người và Trời), (3) vô-sanh (chẳng còn tái-sanh nữa, chứng-đắc Niết-bàn).

 

- Bạch: thưa với người trên. Các đệ-tử khi thưa với Phật, gọi là Bạch Thế-tôn.

 

- Qui-y: qui = quay về; y = nương-tựa. Qui-y là tìm về nương-tựa tinh-thần, dựa theo đó để tìm đường giải-thoát khỏi cảnh khổ của Luân-hồi sanh-tử. Tam Qui-Y là nương tựa vào Tam Bảo ( = ba ngôi báu: Phật, Pháp và Tăng).

 

- Gotama: chữ Hán-Việt dịch là Cồ-đàm, họ của Đức Phật Thích-Ca

 

- Tự-phụ rỡm: Tự = chính mình; phụ = xem hơn; rỡm = giả-dối. Tự-phụ rỡm có nghĩa là tự-cao, kiêu-căng, làm phách.

 

- Chơn-Lý: Sự-thật, còn gọi là Chơn-Như.

 

- Tà-kiến: tà = xiêng-xéo, chẳng đúng; kiến = ý-kiến; ý-kiến sai

 

- Chánh-kiến: chánh = chơn-chánh, đúng-đán. Chánh-kiến trái ngược với Tà-kiến.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang các ý-nghĩa sau đây:

 

1.- Hai tôn-giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, mặc dầu còn trẻ, đã sớm hiểu được lẽ huyễn-hoá của mọi sự-vật trên thế-gian: Khi đi xem trò ảo-thuật, thấy sự biến-đổi giả-dối và nghĩ đến sự-vật ở đời cũng thế, có đó rồi mất đó, nên họ mới đi tìm Sự-thật để giải-thoát ra khỏi cảnh đau khổ của thế-gian. Sự huyễn-hoá của sự-vật ở thế-gian, trong Phật-học gọi là Lẽ Vô-thường; sâu hơn nữa là Lý Vô-ngã của muôn pháp. Nói cách dễ hiểu, Vô-thường là chẳng bền-vững; Vô-ngã là tánh rỗng-rang.

 

2.- Bài Kệ do Trưởng-Lão Át-bệ đọc, chứa một Sự-Thật vô cùng quan-trọng: Muôn pháp đều do NHƠN-DUYÊN mà SANH và DIÊT. Nói cho dễ hiểu, Sự-Thật đó là LÝ DUYÊN-SANH, nghĩa là bất cứ sự-vật gì trên trời đất cũng do nhiều sự-vật khác kết-hợp lại với nhau mà thành: đó là do nhơn-duyên mà sanh ra; rồi khi các sự-vật khác hết kết-hợp vớí nhau nữa, thì sự-vật đó phải mất đi: đó là do nhơn-duyên mà diệt mất. Chớ chẳng phải do một đấng thần-linh nào, hay Thượng-đế nào, tạo ra và diệt đi cả.

 

Xin phân-tách từng câu Bài Kệ Nhơn-Duyên do Ngài Át-bệ đọc:

 

a) Muôn pháp do nhơn-duyên sanh: tất cả mọi sự-vật trên thế-gian đều do nhơn-duyên kết-hợp với các sự-vật khác mà thành. Phải hiểu ngầm là chẳng phải do một vị nào đứng tạo ra cả.

 

Thí-dụ: Mưa xuống là do sức nóng của mặt trời làm nước bốc hơi, bay lên cao, gặp khí lạnh, đông lại rớt xuống thành mưa. Chớ chẳng phải do Ông Trời hay Long-Vương nào phun nước. Vậy, nhơn-duyên tạo nên mưa là sức nóng của mặt trời và khí lạnh ở trên cao.

 

b) Cũng do nhơn-duyên mà diệt: chẳng có một vật nào trên thế-gian mà tự có một mình được, phải do nhiều vật khác kết-hợp lại mà thành; nay nếu các yếu-tố bên trong thôi kết lại với nhau thì vật ở bên ngoài phải tan-rã. Đó là do nhơn-duyên mà diệt. Phải hiểu ngầm là chẳng có một vị nào đứng ra làm cho tiêu-diệt cả.

 

Thí-dụ: Nấu-nướng bất-cẩn để lửa bắt cháy vào vách, gặp gió thổi, cháy thiêu căn nhà, chỉ còn gạch ngói, than củi ngổn-ngang. Đó là do nguyên-nhơn bất-cẩn, để lửa bén vào vách, khiến cháy mất ngôi nhà. Chớ chẳng phải có Bà Hoả nào đến đốt cháy nhà cả.

 

c) Thầy ta, Phật Đại Sa-môn: Đức Phật Thích-ca là thầy, giảng dạy Kinh Chuyển Pháp-Luân cho năm anh em ông Kiều-trần-như, trong đó có Ngài Át-bệ. Câu kệ nầy có nghĩa là lời nói ở hai câu Kệ trước là lời nói của Đức Phật, vị tu-hành đã hoàn-toàn giác-ngộ và giải-thoát.

 

d) Thường nói rõ đúng như thế: ý muốn nói, Sự-thật nói trong bài Kệ, là một Sự-thật đúng-đắn, được nói rõ-ràng, cần phải tin theo.

 

Hiệu-quả của bài Kệ là hai tôn-giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, khi nghe hiểu xong, liền chứng-đắc quả-vị Tu-đà-huờn. Nói cách khác, ai nghe hiểu được bài Kệ là đã bước đúng vào con đường của đạo Phật.

 

3.- Thái-độ tự-phụ của San-dà-da đáng trách: đã làm thầy nhiều người rồi, nay chẳng lẽ trở lại làm học trò. Chẳng biết rằng sự hiểu-biết minh-mông, cần phải học-hỏi thêm, sao lại để cái danh làm thầy giữ mình ở mãi trong sự ngu-tối? Thái-độ ngoan-cố nầy đáng trách, vì như lời của Đức Phật, ông ta lấy chỗ sai làm chỗ đúng, nên chẳng bao giờ đi đến Sư-thật được.

 

Nhưng lời-lẽ của Sàn-dà-da có vẻ thật-tình đôi chút:"Hãy để người hiền-trí đến với Đại Sa-môn Gotama, và hãy để những kẻ khờ tiếp-tục đến với ta," cũng còn "khá" hơn các vị thầy tu ở đây, khi đệ-tử bỏ đi chùa khác thì trách là "đi tu dạo", hoặc nguyền-rủa học-trò cũ bỏ đi là "sẽ bị đoạ vào điạ-ngục".

 

(2).- Ý-nghĩa hai bài Kệ số 011 và 012:

 

1.- Bài Kệ số 011 nói về "tà-kiến" .- Tà-kiến là: (1) lấy chỗ sai làm chỗ đúng; (2) điều đúng đây, bảo cũng là sai.

 

Tà-kiến có rất nhiều, nhưng quan-trọng nhứt về phương-diện giải-thoát, có hai tà-kiến khiến con người phải trôi lăn mãi trong Luân-hồi:

 

a.- Thường-kiến: cho rằng con người có một linh-hồn bất-diệt, khi chết đi, linh-hồn ấy sẽ tái-sanh lại làm một người khác. Ai theo tà-kiến nầy thì chẳng lo tu-tập, cứ thọ-hưởng các thú-vui vật-chất, vì nào có tội-phước gì đâu, rồi sẽ được sanh lại làm người kia mà.

 

b.-Đoạn-kiến: cho rằng con người hễ chết đi là hết, chẳng còn gì cả; vậy ngay khi còn sống, hãy mau mau thọ-hưởng, tu-tập làm chi cho khổ tấm thân.

 

2.- Bài Kệ số 012 nói về "chánh-kiến": Chánh-kiến còn gọi là chánh tri-kiến (tri = biết; kiến = thấy; ý-kiến ), trái ngược với tà-kiến. Sự thấy biết đúng-đắn nầy vốn có sẵn trong tâm thanh-tịnh của mọi người, nhưng vì con người thường ôm-ấp những ý-kiến sai-lầm, những tin-tưởng dị-đoan, những thành-kiến cố-chấp, cho nên chánh-kiến bị che-mờ.

 

Hai bài Kệ nói: "Bởi đem tà-kiến mà CÀI vào tâm", và "Bởi theo chánh-kiến SÁNG-NGžI trong tâm", ý muốn nói là tà-kiến ở bên ngoài, tại mình dại-dột đem nó mà "cài" dính vào tâm mình, khiến cho nó che-mờ Sự-thật mình chẳng thấy được. Còn chánh-kiến, vốn có sẵn trong tâm thanh-tịnh, luôn luôn rạng-chiếu "sáng ngời" trong tâm nhưng tại mình chẳng lưu-ý tới nó và nhứt là tại mình để cho tà-kiến che-mờ nó đi.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng hai bài Kệ: nếu khi học, để-ý đến chỗ nào nói đến tà-kiến, chỗ nào nói đến chánh-kiến, thì mau thuộc hơn. Đặc-biệt lưu-ý đến chữ "cài vào tâm" và "sáng ngời trong tâm", để biết chận-đứng tà-kiến và làm cho chánh-kiến rạng-chiếu lên. Con đường giải-thoát bằng Trí-Huệ của Đạo Phật bắt đầu bằng hai bài Kệ nầy: nên học cho kỹ.

 

2.- Làm sao biết chắc đó là điều đúng, đấy là điều sai? Thông-thường, ai cũng có sẵn lý-trí để phân-biệt được đúng với sai. Nhưng khi gặp những điều mà mình chẳng đủ sức phán-đoán, phải thưa hỏi các vị tu-hành chơn-chánh, các thiện-tri-thức, tra-cứu các Kinh-sách

 

3.- Làm sao biết phán-đoán cho chắc? Tiêu-chuẩn để xét xem đâu là điều tà, đâu là điều chánh: điều tà có hại cho mình, cũng có hại cho người; còn điều chánh phải vừa có lợi cho mình vừa có lợi cả cho người nữa. Về phương-diện giải-thoát, điều nào theo đúng Chánh-pháp của Đức Phật là chánh tri-kiến, còn điều nào trái ngược với Chánh-pháp, đó là tà tri-kiến. Vì thế, khi tụng-đọc Kinh-kệ, phải hiểu cho rõ nghĩa thâm-sâu cùng cách ứng-dụng lời Kinh vào đời sống hằng ngày.

 

4.- Chánh-kiến đứng đầu trong Bát-Chánh-Đạo. Bát Chánh-Đạo là con đường giải-thoát, đưa đến ngôi-vị Thánh, nên còn được gọi là Thánh-đạo: (1) Chánh-kiến, (2) Chánh tư-duy, (3)Chánh-ngữ, (4)Chánh-mạng, (5) Chánh-nghiệp, (6) Chánh tinh-tấn, (7)Chánh-niệm, (8) Chánh-định. Nếu nói theo Tam-học Giới, Định, Huệ, thì Chánh-kiến và Chánh Tư-Duy thuộc về Huệ-học, cái học giúp ta mở rộng TRÍ-HUÊ sáng-ngời. Và nhờ THÂN giữ Giới, mà TÂM được an-Định, nên TRÍ-Huệ mới sáng-ngời lên.

The Story of Thera Sariputta

While residing at Veluvana, the Bamboo Grove monastery in Rajagaha, the Buddha uttered Verses (11) and (12) of this book, with reference to Sanjaya, a former teacher of the Chief Disciples, the Venerable Sariputta and the Venerable Moggallana (formerly Upatissa and Kolita).

Upatissa and Kolita were two youths from Upatissa and Kolita, two villages near Rajagaha. While looking at a show they realized the insubstantiality of things and they decided to search for the way to liberation. First, they approached Sanjaya. the wandering ascetic at Rajagaha, but they were not satisfied with his teachings. So they went all over Jambudipa and came back to their native place, after searching for, but not finding the true dhamma. At this point they came to an understanding that one who found the true dhamma should inform the other.

One day, Upatissa came across Thera Assaji and learned from him the substance of the dhamma. The thera uttered the verse beginning with "Ye dhamma hetuppabhava", meaning, "those phenomena which proceed from a cause". Listening to the verse, Upatissa became established in the Sotapatti Magga and Phala. Then, as promised, he went to his friend Kolita, explained to him that he, Upatissa, had attained the state of Deathlessness and repeated the verse to his friend. Kolita also become established in Sotapatti Fruition at the end of the verse. They both remembered their former teacher and so went to Sanjaya and said to him, "We have found one who could point out the Path to Deathlesseness; the Buddha has appeared in the world; the Dhamma has appeared; the Sangha has appeared... Come, let us go to the Teacher." They had hoped that their former teacher would go along with them to the Buddha and by listening to the discourses he, too, would come to realize Magga and Phala. But Sanjaya refused.

So Upatissa and Kolita, with two hundred and fifty followers, went to the Buddha, at Veluvana. There, they were initiated and admitted into the Order as bhikkhus. Upatissa as son of Rupasari became known as Thera Sariputta; Kolita as son of Moggali became known as Thera Maha Moggallana. On the seventh day after the initiation Maha Moggallana attained Arahatship. Thera Sariputta achieved the same a fortnight after initiation. On that day, the Buddha made them his two Chief Disciples (Agga-Savaka).

The two Chief Disciples then related to the Buddha how they went to the Giragga festival, the meeting with Thera Assaji and their attainment of Sotapatti Fruition. They also told the Buddha about their former teacher Sanjaya, who refused to accompany them. Sanjaya had said, "Having been a teacher to so many pupils, for me to become his pupil would be like a jar turning into a drinking cup. Besides, only few people are wise and the majority are foolish; let the wise go to the wise Gotama, the foolish would still come to me. Go your way, my pupils."

Thus, as the Buddha pointed out, Sanjaya's false pride was preventing him from seeing truth as truth; he was seeing untruth as truth and would never arrive at the real truth.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 11: They take untruth for truth; they take truth for untruth; such persons can never arrive at the truth, for they hold wrong views.

 

Verse 12: They take truth for truth; they take untruth for untruth; such persons arrive at the truth, for they hold right views. At the end of the discourse, many people came to be established in Sotapatti Fruition.


At the end of the discourse, many people came to be established in Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verses 11 and 12
Sariputtatthera Vatthu


Asare
1saramatino
sare
2casaradassino
te saram
3 nadhigacchanti
micchasankappagocara.


Saranca sarato natva
asaranca adhigacchanti
te saram adhigacchanti
sammasankappagocara.

Verse 11: They take untruth for truth; they take truth for untruth; such persons can never arrive at the truth, for they hold wrong views.

Verse 12: They take truth for truth; they take untruth for untruth; such persons arrive at the truth, for they hold right views.

-----------------------------------

1. asare: lit., essenceless; according to the Commentary, wrong view, i.e., untruth.

2. sare: lit., essence; according to the Commentary, right view, i.e. , truth.

3. siram: Truth — According to the Commentary, essence of the Dhamma. The essence of the Dhamma comprises sila (moral precepts or morality), samadhi (concentration), panna (knowledge), vimutti (liberation), vimutti-nanadasasana (Knowledge of and Insight into liberation), haramattha (ultimate truth) and Nibbana.








dhp013_B
dhp014_B
Verse-Kệ 013-014

(9).- Tích chuyện về Tôn-giả Nan-đà - Kệ số 013 và 014

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến chuyện Tôn-giả Nan-đà, em họ của Đức Phật, người xuất-gia ngay trước khi làm lễ thành-hôn.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đến ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá. Vua cha là quốc-vương Tînh-phạn sai nhiều sứ-giả đến mời Đức Phật trở về thành Ca-tỳ-la-vệ là nơi Ngài đã sống qua trước khi thành Đạo. Đức Phật mới cùng các vị tỳ-kheo, phần đông đã chứng-đắc quả-vị A-la-hán, rời Trúc-lâm trở về thăm quê-hương. Khi đến ngoài thành Ca-tỳ-la-vệ, ngày đầu-tiên, Đức Phật giảng-pháp cho những thân-nhơn của Ngài tụ-tập nơi đây để chào đón Ngài. Qua ngày thứ hai, Đức Phật khi đi vào thành Ca-tỳ-la-vệ, nói lên hai câu đầu của bài Kệ (bài số 168):

"Hãy hăng-hái và đừng phóng-dật

Mà lãng-xao hạnh khất-sĩ nầy ..."

khiến cho Vua Tînh-phạn nghe xong, chứng được quả-vị Tu-đà-huờn.

Khi vừa đến hoàng-cung, Đức Phật nói tiếp hai câu đầu của bài Kệ (bài số 169):

"Đừng theo tà-hạnh mà phóng-dật

Hãy nghiêm-trì hạnh khất-sĩ nầy ..."

khiến cho Vua Cha nghe xong, liền chứng được quả-vị Tư-đà-hàm.

Sau bữa cơm trưa, Đức Phật kể lại một Tiền-kiếp của các Đức Phật, và có lời khen-ngợi đến các đức-tánh của công-chúa Da-du-đà-la là mẹ của Tôn-giả La-hầu-la.

Đến ngày thứ ba là lễ thành-hôn của hoàng-tử Nan-đà. Đức Phật đến trước cửa dinh để khất-thực, hoàng-tử Nan-đà ra tiếp-đón, Đức Phật lẵng-lặng trao bình bát ấy cho hoàng-tử, và quay đi. Hoàng-tử Nan-đà tay cầm bát, chẳng biết phải làm sao, mới bước đi theo chơn Đức Phật. Cô dâu là công-chúa Dà-na vội chạy theo chú rể, khóc gọi hoàng-tử Nan-đà trở lại. Nhưng khi đến Tịnh-xá, hoàng-tử Nan-đà lại được Phật thâu-nhận vào làm tỳ-kheo.

Khi Đức Phật và đoàn tùy-tùng trở về Kỳ-viên-tự, bấy giờ tỳ-kheo Nan-đà cảm thấy đời sống tu-hành thật là lạt-lẽo, nhớ đến các thú-vui ở Hoàng-cung khi trước, trong tai còn văng-vẳng tiếng kêu khóc, van-lơn của cô dâu là công-chúa Dà-na mong "chàng" sớm trở lại.

Biết rõ tâm-trạng của Nan-đà, Đức Phật liền dùng thấn-thông khiến cho tôn-giả Nan-đà thấy được cảnh Trời Đao-lợi, với các nàng Thiên-nữ còn đẹp hơn công-chúa Dà-na bội phần. Đức Phật lại còn hứa, nếu Nan-đà gắng công tu-tập theo Chánh-pháp, sẽ giúp Tôn-giả được kết bạn với các nàng tiên đó. Bấy giờ, các vị tỳ-kheo khác theo chế-nhạo Tôn-giả Nan-đà, là đi tu như người đi làm mướn mong được trả tiền công vậy. Tôn-giả Nan-Đà cảm thấy hổ-thẹn, nên mới tìm nơi thanh-vắng, nỗ lực tu-tập theo Chánh-pháp, gắng sức hành Thiền. Chẳng bao lâu, tôn-giả chứng-đắc quả-vị A-la-hán. Bao nhiêu các sự thèm-khát về thú-vui vật-chất đều được tiêu-tan, và cùng theo đó mà giải-kết lời hứa của Phật sẽ giúp Tôn-giả kết-duyên với các nàng Thiên-nữ.

Các vị tỳ-kheo khác vẫn tưởng tôn-giả Nan-đà còn chưa tìm thấy thích-thú trong đời sống tu-hành, nên lại hỏi Tôn-giả, độ rầy như thế nào. Tôn-giả bảo, bây giờ chẳng còn ham các thú-vui nhục-dục, chẳng còn thiết gì đến đời sống gia-đình nữa. Các vị Tỳ-kheo ngờ rằng Tôn-gia chưa nói lên sự-thật, nên vào trình với Đức Phật. Đức Phật liền bỏ họ rằng, Tôn-giả Nan-đà tánh-tình trước kia cũng tựa như một ngôi nhà vụng lợp khiến cho bị mưa dột, nhưng nay trở thành một căn nhà khéo lợp, các khát-vọng chẳng còn có cách nào mà len-lỏi vào được.

Rồi, Đức Phật liền nói lên hai bài Kệ, như sau:

Nhà vụng lợp, mưa xuyên qua mái;

Tâm vụng tu, tham-ái len vào.

(Kệ số 013).

Nhà khéo lợp, mưa rào chẳng dột;

Tâm khéo tu, chận được ái-tham.

(Kệ số 014).

TÌM HIỂU:

A.- Nghĩa CHỮ:

Các tên được Việt-hoá cho dễ đọc:

Tiếng Việt: Tiếng Pali:

- Nan-đà: Nanda

- Tịnh-phạn: Suddhodana

- Ca-tỳ-la-vệ: Kapilavatthu

 

- Da-du-đà-la: Yasodharà

- La-hầu-la: Ràhula

- Dà-na: Janapadakalyàni

-Sứ-giả: sứ = sứ-mạng, nhiệm-vụ giao cho ai; giả = người; kẻ mang tin của một người đến cho ai.

- Phóng-dật: phóng = buông-lung, chẳng kềm-chế; dật = nghỉ-ngơi. Kẻ phóng-dật là kẻ lười-biếng, sống buông-lung, chẳng biết tự kềm-chế, chẳng hăng-hái; cứ vật-vờ, vất-vưởng.

- Lãng-xao: xao-lãng, bỏ-bê, quên mất chẳng nghĩ gì đến.

- Hoàng-cung: hoàng = hoàng-đế, vua; cung = cung-điện, đền-đài. Lầu-đài của vua chúa.

- Tà-hạnh: tà =xiêng-xéo, xấu-ác; hạnh = tánh-hạnh. Việc làm xấu.

- Nghiêm-trì: nghiêm = nghiêm-trang, đúng-đắn; trì = giữ-gìn. Nghiêm-trì là giữ đúng theo gìới, chẳng thiếu-sót, chẳng vi-phạm.

- Thành-hôn: lễ cưới vợ.

- Tuỳ-tùng: tuỳ = theo, tùy-thuộc vào; tùng = đi theo. Đoàn tùy-tùng, ở đây, là những vị tỳ-kheo đi theo Phật.

- Giải-kết: giải = cởi ra, mở ra; kết = ràng-buộc, giao-kết. Giải-kết là được bãi bỏ lời hứa trước.

- Nhục-dục: nhục = thịt; thể-xác; dục = ham muốn. Các thú-vui về thể-xác.

- Khát-vọng: khát = ao-ước, mong mỏi nhiều; vọng = trông ngóng. Khát-vọng cùng một nghĩa với chữ tham-ái.

- Tham,-ái, ái-tham: tham = tham-lam; ái = thương, thích. Tham-ái là một tình-cảm rất sâu-đậm, ăn rễ trong tâm, nó thúc-đẩy con người nghiêng về các thú-vui vật-chất, bám víu vào đời sống, khiến các chúng-sanh phải trôi lăn mãi trong cảnh khổ của Luân-hồi. Công-việc tu-hành để giải-thoát, chính là chấm-dứt sự tham-ái nơi tâm.

B.- Nghĩa Ý:

1.- Ý-nghĩa của Tích chuyện:

Tích chuyện mang các ý-nghĩa sau đây:

1.- Hạnh Khất-sĩ là hạnh cao-quí từng được các Đức Phật từ các đời trước đã thi-hành: Khi Đức Phật Thích-ca thành Đạo, Ngài chẳng trở về ngay nơi thành Ca-tỳ-la-vệ để thăm Vua Cha, nên vua Tịnh-phạn buồn lòng, mới sai sứ-giả đi gọi. Khi Đức Phật về đến Ca-tỳ-la-vệ, Ngài vẫn ôm bình-bát đi khất-thực. Vua Tịnh-phạn cho rằng Phật làm như vậy là làm nhục đến danh-dự hoàng-cung, vì trước đây Thái-tử Tất-đạt-ta sống trên cung vàng điện ngọc, nay lại đi ăn xin như người nghèo-khổ. Vì lẽ ấy, Đức Phật mới nói đến hai bài Kệ, nhắc lại hạnh khất-sĩ của các bực tu-hành chơn-chánh. Hạnh khất-sĩ được đặt ra là để cho tỳ-kheo dẹp bỏ lòng kiêu-mạn, phải cúi mình xuống đi ăn xin và có dịp gặp được dân-chúng để giảng-dạy giáo-pháp cho họ.

Hiệu-lực rất lớn của hai bài Kệ Đức Phật đọc lên cho Vua Cha nghe, đã khiến Vua Tinh-phạn lần lượt chứng-đắc được hai quả-vị đầu-tiên của hàng Thanh-văn là quả-vị Tu-đà-huờn và Tư-đà-hàm.

2.- Món quà Đức Phật tặng cho hoàng-tử Nan-đà, nhơn ngày lễ thành-hôn rất là quí-báu: chiếc bình-bát để đi ăn-xin! Nếu xét theo ý-nghĩa thông-thường của thế-tục, việc Đức Phật đến gặp hoàng-tử Nan-đà vào ngày thành-hôn mới xem ra có vẻ là ... "ác" quá: Ai đời đám cưới người ta, lại đem tặng cái bát để đi ăn xin. Nhưng đứng về phương-diện tu-hành giải-thoát, đó là món quà thật quí-giá vô-cùng! Chiếc bình-bát của Phật, theo kinh-sách, là do Đức Đế-Thích trên Trời đem dưng cho Phật; mang bình-bát nầy đi khất-thực là đi theo con đường giải-thoát của Đức Phật, tìm đến hạnh-phước chơn-thật và bền-vững, thoát khỏi mọi ràng-buộc, hơn rất xa các thú vui vật-chất của đời sống gia-đình.

3.- Đi tu mà đòi trả công thưởng như người đi làm mướn: Đức Phật khi hứa sẽ giúp cho Tôn-giả Nan-đà kết bạn với các nàng thiên-nữ, nếu Tôn-giả chịu gắng sức tu-hánh theo Chánh-pháp, Ngài cũng biết trước rằng, khi chứng-đắc được quả-vị, Tôn-giả chẳng còn ham-mê thú vui thể-xác để đòi được kết-hôn với các Thiên-nữ. Nhưng các tỳ-kheo lại theo trêu-chọc Tôn-giả là đi tu như đi làm mướn đòi đền công bằng mấy cô tiên-nữ. Điều nầy tuy có làm cho Tôn-giả hổ-thẹn, nhưng lại có hiệu-quả tốt là khiến Tôn-giả biết nỗ-lực tu-tập: xem như một nghịch-duyên, mà thật ra là một trợ-duyên, giúp cho Tôn-giả nỗ-lực, chuyên-cần.

2.- Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 013 và 014:

1.- Bài Kệ số 013 gợi lên hình-ảnh một căn nhà vụng lợp sánh với tâm người vụng tu: Nhà vụng lợp thì mưa xuyên qua mái, làm ướt chỗ ta trú-ẩn ngày đêm. Tâm vụng tu, chẳng biết tự kềm-chế, để cho sự thèm-khát tức là tham-ái len vào tâm, xúi-dục ta chạy theo các thú-vui vật-chất tạm-thời, mà quên đi mất mục-tiêu tu-hành giải-thoát khỏi cảnh khổ.

2.- Bài Kệ số 014 gợi lên hình-ảnh căn nhà khéo lợp, tránh được mưa gió, sánh với tâm người khéo tu, biết phòng-vệ lấy mình: Chỗ khéo của người biết tu-hành là chẳng quên mục-tiêu giải-thoát, luôn luôn canh-phòng tâm, chẳng để cho sự tham-ái len vào, chận được nó khi nó mới nổi lên. Vậy, vụng hay khéo, chính là chỗ biết kềm-chế tâm, chẳng cho chạy theo dục-vọng.

HỌC TẬP:

1.- Học thuộc lòng bốn câu ở hai bài Kệ: để ý đến nghĩa của các chữ "vụng lợp", "khéo lợp" và "vụng tu", ‘ ‘khéo tu".

2.- Tuy tích chuyện và hai bài Kệ nói nhiều đến bực xuất-gia, nhưng người tu tại nhà vẫn có thể ứng-dụng để tu-hành:

- biết tự kềm-chế thân mình: bắt đầu giữ-gìn cẩn-thận các giác-quan, nhứt là mắt và tai; đừng chạy theo sắc đẹp, đừng giận khi nghe điều trái tai;

- biết tự kềm-chế tâm mình: mỗi khi bị cám-dỗ làm điều sái-quấy, hãy tự nhắc lấy mình, đó là nhà mình đang bị dột đấy!

The Story of Thera Nanda

While residing at the Jetavana monastery in Savatthi, the Buddha uttered Verses (13) and (14) of this book, with reference to Thera Nanda, a cousin of the Buddha.

Once the Buddha was residing at the Veluvana monastery in Rajagaha when his father King Suddhodana repeatedly sent messengers to the Buddha requesting him to visit the city of Kapilavatthu. Accordingly, the Buddha made the journey in the company of twenty thousand arahats. On arrival at Kapilavatthu he related the Vessantara Jataka to the assembly of his relatives. On the second day, he entered the city, where by reciting the verse beginning with "Uttitthe Nappamajjeyya..." (i.e., One should arise and should not be unmindful ...) he caused his father to be established in Sotapatti Fruition. On arrival at the palace, the Buddha recited another verse beginning with "Dhammam care sucaritam ..." (i.e., One should practise the Dhamma...) and established the king in Sakadagami Fruition*. After the meal he narrated the Candakinnari Jataka, with reference to the virtues of Rahula's mother.

On the third day, there was the marriage ceremony of Prince Nanda, a cousin of the Buddha. The Buddha went there for alms and handed over the alms bowl to Prince Nanda. The Buddha then departed without taking back the bowl. So the prince, holding the bowl, had to follow the Buddha. The bride, Princess Janapadakalyani, seeing the prince following the Buddha rushed forth and cried out to the prince to come back soon. At the monastery, the prince was admitted into the Order as a bhikkhu.

Later, the Buddha moved into the monastery built by Anathapindika, at Jeta Park in Savatthi. While residing there Nanda was discontented and half-hearted and found little pleasure in the life of a bhikkhu. He wanted to return to the life of a householder because he kept on remembering the words of Princess Janapadakalyani, imploring him to return soon.

Knowing this, the Buddha, by supernormal power, showed Nanda, the beautiful female devas of the Tavatimsa world who were far prettier than Princess Janapadakalyani. He promised to get them for Nanda, if the latter strove hard in the practice of the Dhamma. Other bhikkhus ridiculed Nanda by saying that he was like a hireling who practised the Dhamma for the sake of beautiful women, etc. Nanda felt very much tormented and ashamed. So, in seclusion, he tried very hard in the practice of the Dhamma and eventually attained arahatship. As an arahat his mind was totally released from all attachments, and the Buddha was also released from his promise to Nanda. All this had been foreseen by the Buddha right from the very beginning.

Other bhikkhus, having known that Nanda was not happy in the life of a bhikkhu, again asked him how he was faring. When he answered that he had no more attachments to the life of a householder, they thought Nanda was not speaking the truth. So they informed the Buddha about the matter, at the same time expressing their doubts. The Buddha then explained to them that, previously, the nature of Nanda was like that of an ill-roofed house, but now, it had grown to be like a well-roofed one.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 13: Just as rain penetrates a badly-roofed house, so also, passion (raga) penetrates a mind not cultivated in Tranquillity and Insight Development (Samatha and Vipassana).

 

Verse 14: Just as rain cannot penetrate a well-roofed house, so also, passion (raga) cannot penetrate a mind well-cultivated in Tranquillity and Insight Development (Samatha and Vipassana).


Sakadagami FruitionSakadagami Phala, 'fruit' or 'fruition'. This immediately follows Sakadagami Magga which is the second Magga or the second stage of Enlightenment attained by one who has practised Insight Meditation.

Dhammapada Verses 13 and 14
Nandatthera Vatthu


Yatha agaram ducchannam
vutthi samativijjhati
evam abhavitam cittam
rago samativijjhati.


Yatha agaram suchannam
vutthi na samativijjhati
evam subhavitam cittam
rago na samativijjhati.

Verse 13: Just as rain penetrates a badly-roofed house, so also, passion (raga) penetrates a mind not cultivated in Tranquillity and Insight Development (Samatha and Vipassana).

Verse 14: Just as rain cannot penetrate a well-roofed house, so also, passion (raga) cannot penetrate a mind well-cultivated in Tranquillity and Insight Development (Samatha and Vipassana).


dhp015_B
Verse-Kệ 015

(10).- Tích chuyện người đồ-tể Thuần-đà - Kệ số 015

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp, có nhắc đến việc người đồ-tể, giết thịt heo, tên là Thuần-đà.

 

Trong một ngôi làng chẳng xa thành Vương-xá có ông Thuần-đà chuyên nghề giết heo làm thịt bán. Tánh tình ông ta rất thô-bạo, lại rất ghét việc bố-thí làm phước. Suốt đời, ông ta chẳng làm được một việc gì có phước-đức cả. Đến khi gần chết, ông ấy đau-đớn, khổ-sở rất nhiều trong cơn hấp-hối. Ông rên la, tru-tréo, tay chơn co quắp lại, lưng cong lên, trông như con heo bị người ta đâm vào cổ vậy. Trong suốt bảy ngày trời trước khi thở hơi cuối cùng, ông Thuần-đà phải chịu đau-khổ như là đang ở trong cảnh điạ-ngục. Đến ngày thứ bảy, ông chết đi và bị tái-sanh vào cảnh điạ-ngục Vô-gián, chịu hình-phạt chẳng ngừng.

 

Khi kể lại tích chuyện về ông Thuần-đà, Đức Phật có nói lên bài Kệ sau đây:

 

Nay than-thở, mai còn than-thở,

Kẻ ác-tâm khổ-sở hai đời.

Hắn còn đau khổ lâu dài,

Mỗi khi nhớ lại điều sai mình làm.

(Kệ số 015)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Đồ-tể: đồ = giết chết; tể = làm thịt súc-vật. Ngưòi giết thịt thú-vật để đem bán.

 

- Thuần-đà: tên thật bằng tiếng Pali là Cundasùkarika.

 

- Thô-bạo: hung-ác, dữ-tợn.

 

- Hấp-hối: lúc sắp chết.

 

- Điạ-ngục: điạ = đất; ngục = nhà tù. Nơi mà các người đã có tội lúc còn sống, phải chịu hình-phạt, trong cảnh tối âm-u.

 

- Vô-gián: Vô = chẳng; gián = ngưng-nghỉ, gián-đoạn. Nơi cảnh điạ-ngục nầy, tội nhơn phải chịu hình-phạt không ngừng, bị chết đi sống lại, chịu khổ, chết nữa, rồi sống lại để chịu khổ tiếp, qua nhiều năm, cho đến khi mãn nghiệp ác.

 

- Ác-tâm: ác = dữ, xấu; tâm = lòng. Người có bụng dạ xấu, dữ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, kể chuyện người làm nghề giết heo, bán thịt, chẳng làm phước, khi gần chết phải chịu khổ-sở; khi chết đi phải sa vào điạ-ngục Vô-gián.

 

Bình-dân nước ta thường cho cảnh khổ của người đồ-tể phải chịu lúc gần chết là quả-báo nhãn-tiền ( = kết-quả của việc ác đã làm vì giết heo, nay xãy ra trước mắt; nhãn-tiền = trước mắt). Trong tích chuyện, ông Thuần-đà chẳng những chịu khổ ngay khi còn sống, mà chết đi phải chịu hình-phạt trong điạ-ngục nữa. Đấy chẳng phải là muốn doạ cho ta sợ mà đừng có làm ác, nhưng theo Luật Nhơn-Quả, hễ đã làm ác, sớm muốn gì cũng phải gánh lấy hậu-quả xấu; ngay trong hiện-tại, cũng đã khổ-tâm, mỗi khi nhớ lại điều ác mình đã làm.

 

(2).- Ý-nghĩa của bài Kệ số 015:

 

Bài Kệ rất rõ nghĩa: đã làm ác thì ngay đời nầy cũng đã chịu khổ; khổ vì nhớ lại điều mình làm quấy; và đến đời sau, còn phải chịu khổ dài dài. Vậy, phải cố giữ-gìn tâm-ý sao cho điều ác đừng len vào.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ: để-ý đến nghĩa của câu thứ hai:

 

"Kẻ ác-tâm khổ-sở hai đời".

 

2.- Phải biết chọn nghề cho đúng với CHÁNH-MANG: Trong Bát-Chánh-Đạo, Chánh-mạng là lối mưu-sanh chơn-chánh, đứng-đắn để nuôi mạng sống mình và gia-đình mình. Vì thế, cần tránh các nghề nầy: săn bắn, đồ-tể, chài-lưới, làm và bán võ-khí, buôn người, bán rượu.

The Story of Cundasukarika

While residing at the Veluvana monastery in Rajagaha, the Buddha uttered Verse (15) of this book, with reference to Cunda, the pork-butcher.

Once, in a village not far away from the Veluvana monastery, there lived a very cruel and hard-hearted pork-butcher, by the name of Cunda. Cunda was a pork-butcher for over fifty-five years; all this time he had not done a single meritorious deed. Before he died, he was in such great pain and agony that he was grunting and squealing and kept on moving about on his hands and knees like a pig for seven whole days. In fact, even before he died, he was suffering as if he were in Niraya*. On the seventh day, the pork-butcher died and was reborn in Avici Niraya. Thus, the evil-doer must always suffer for the evil deeds done by him; he suffers in this world as well as in the next.

In this connection, the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 15: Here he grieves, hereafter he grieves; the evil-doer grieves in both existences. He grieves and he suffers anguish when he sees the depravity of his own deeds.


Niraya or Naraka: a place of continuous torment sometimes compared with hell; but it is different from hell because suffering in Niraya is not everlasting like suffering in hell. Avici Niraya is the most fearful of all Nirayas.

Dhammapada Verse 15
Cundasukarika Vatthu


Idha socati pecca socati
papakari ubhayattha socati
so socati so vihannati
disva kammakilitthamattano.

Verse 15: Here he grieves, hereafter he grieves; the evil-doer grieves in both existences. He grieves and he suffers anguish when he sees the depravity of his own deeds.


 dhp016_B
Verse-Kệ 016

(11).- Tích chuyện ông Đàm-mi - Kệ số 016

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến chuyện ông Đàm-mi, một người thiện-nam được sanh lên cõi trời Đâu-suất.

 

Thuở xưa, ở nước Xá-vệ có một người thiện-nam rất có đức-hạnh và rất chăm làm việc bố-thí. Thường thường, ông dưng thực-phẩm cho các vị tỳ-kheo đi khất-thực và cúng-dường các vật-dụng cần-thiết cho chư Tăng, như thuốc men, quần-áo, giường chiếu, v.v. Ông lại lãnh-đạo một nhóm cư-sĩ đông-đảo thường đến đảnh-lễ và nghe Đức Phật thuyết-giảng giáo-lý. Ông được bảy người con trai và bảy người con gái, tất cả đều giống tánh Cha, biết giữ-gìn giới-đức và chăm làm bố-thí.

 

Đến khi về già, gần chết, ông Đàm-mi cho cung-thỉnh chư Tăng đến tụng kinh bên giường bịnh. Trong khi chư Tăng đang tụng Kinh TỨ-NIÊM-XỨ, thì có sáu chiếc thiên-xa từ trên các cõi Trời hiện xuống và mời ông tùy-ý bước lên một chiếc để được đưa lên một trong sáu cõi Trời. Ông Đàm-mi bảo chư Thiên hãy chờ một chút, sợ làm gián-đoạn việc tụng kinh.

 

Khi dứt thời kinh, ông Đàm-mi gọi các con lại, nói rằng các thiên-xa đang chờ ông, và yêu-cầu các con rắc hoa lên chiếc thiên-xa đi về cung Trời Đâu-suất mà ông chọn để tái-sanh. Rồi đó, ông thở hơi cuối cùng và được sanh lên cung trời Đâu-suất như ước-nguyện. Như thế, người làm lành được hưởng phước ngay trong đời nầy và còn tiếp-tục hưởng nữa về đời sau.

 

Khi Đức Phật kể tích chuyên nầy xong, Ngài đọc lên bài Kệ như sau

 

Nay vui-sướng, mai còn vui-sướng,

Kẻ làm lành vui hưởng hai đời.

Anh còn sung-sướng lâu dài,

Mỗi khi nhớ lại điều ngay mình làm.

(Kệ số 016).

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Đàm-mi: tên thật, đầy-đủ bằng tiếng Pali là Dhammika Upàsaka

 

- Cõi Trời Đâu-suất: tiếng Pali là Tusita; ở cõi Trời nầy, có Đức Di-lặc đang giảng Kinh. Trong tương-lai, Đức Di-Lặc sẽ xuống cõi Ta-bà làm vị Phật kế-tiếp Đức Phật Thích-ca.

 

- Cư-sĩ: cư = ở, cư-trú; sĩ = người học-trò, người có danh. Cư-sĩ, theo nghĩa chuyên-môn trong Phật-học, là những người tu tại-gia, có đức-hạnh cao.

 

- Kinh Tứ-Niệm-Xứ: đây là bản Kinh quan-trọng trong Trung-Bộ-Kinh. Kinh dạy ta phép quán: (1) quán thân bất-tịnh (tức là bên trong thân chức chất dơ-bẩn), (2)quán thọ là khổ (tức là tất cả các cảm-thọ đều mang tính-chất đau-khổ cả), (3) quán tâm là vô-thường (tức là tâm thay đổi luôn, chẳng thường-hằng), (4) quán pháp là vô-ngã (tức là mọi sự-vật trên thế-gian đều mang bản-tánh rỗng-rang, chẳng có tự-ngã).

 

- Thiên-xa: thiên = Trời; xa = xe; chiếc xe trên Trời.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất đơn-sơ kể chuyện người làm lành, khi gần chết, được chư Thiên đem thiên-xa đến rước sanh về cõi Trời. Ý-nghĩa là: làm lành thì được hưởng phước trong đời hiện-tại, chết đi sẽ sanh lên Trời

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 016:

 

Bài Kệ cũng rất giản-dị, ý nói ai làm lành thì đời nầy sung-sướng; chết đi sẽ tái-sanh vào cõi lành, tiếp-tục hưởng phước vào đời sau. Đó chẳng phải là dụ-dỗ ta phải làm lành, mà đó chính là Luật Nhơn-Quả.

 

HỌC-TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ: lưu-ý đến nghĩa của câu thứ nhì.

 

2.- Đường lên cõi Trời, chẳng phải đi bằng máy-bay, mà do làm lành và biết chăm làm bố-thí, tích chứa đức lành cho đời sau!

The Story of Dhammika Upasaka

While residing at the Jetavana monastery in Savatthi, the Buddha uttered Verse (16) of this book, with reference to Dhammika, a lay disciple.

Once there lived in Savatthi, a lay disciple by the name of Dhammika, who was virtuous and very fond of giving in charity. He generously offered food and other requisites to the bhikkhus regularly and also on special occasions. He was, in fact, the leader of five hundred virtuous lay disciples of the Buddha who lived in Savatthi. Dhammika had seven sons and seven daughters and all of them, like their father, were virtuous and devoted to charity. When Dhammika was very ill and was on his death-bed he made a request to the Samgha to come to him and recite the sacred texts by his bedside. While the bhikkhus were reciting the Maha satipatthana Sutta, six decorated chariots from six celestial worlds arrived to invite him to their respective worlds. Dhammika told them to wait for a while for fear of interrupting the recitation of the Sutta. The bhikkhus, thinking that they were being asked to stop, stopped and left the place.

A little while later, Dhammika told his children about the six decorated chariots waiting for him. Then and there he decided to choose the chariot from the Tusita world and asked one of his children to throw a garland on to it. Then he passed away and was reborn in the Tusita world. Thus, the virtuous man rejoices in this world as well as in the next.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 16: Here he rejoices, hereafter he rejoices; one who performed meritorious deeds rejoices in both existences. He rejoices and greatly rejoices when he sees the purity of his own deeds.

Dhammapada Verse 16
Dhammika-upasaka Vatthu


Idha modati pecca modati
katapunno ubhayattha modati
so modati so pamodati
disva kammavisuddhimattano.

Verse 16: Here he rejoices, hereafter he rejoices; one who performed meritorious deeds rejoices in both existences. He rejoices and greatly rejoices when he sees the purity of his own deeds.


dhp017_B
Verse-Kệ 017

(12).- Tích chuyện về tội-ác của Đề-bà-đạt-đa - Kệ số 017

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ-giảng-pháp có đề-cập đến tội-ác của Đề-bà-đạt-đa.

 

Thuở ấy, Đề-bà-đạt-đa ngụ tại xứ Cô-sâm-bi với Đức Phật. Trông thấy Đức Phật được sự kính-trọng cao-quí của mọi người và nhận được sự cúng-dường rất hậu-hĩ, Đề-bà-đạt-đa sanh tâm ganh-tị, và muốn được thay thế Đức Phật để cầm đầu Giáo-hội Tăng-già. Một hôm, trong khi Đức Phật đang giảng pháp, Đề-bà-đạt-đa liền đến bên Đức Phật, viện cớ Đức Phật nay đã già-cả rồi, nên giao quyền lại cho y cầm đầu Giáo-hội. Đức Phật bác-bỏ đề-nghị đó và khiển-trách Đề-ba-đạt-đa là đang nuốt phải đờm-dãi của kẻ khác. Rồi đó, Đức Phật bảo Giáo-hội Tăng-già ra giáo-chỉ cáo-tố Đề-bà-đạt-đa.

 

Đề-bà-đạt-đa phẫn-uất lên và nguyện sẽ báo-thù lại Đức Phật. Cả thảy ba lần, Đề-bà-đạt-đa mưu-sát Đức Phật. Lần thứ nhứt, Đề-bà-đạt-đa mướn các xạ-thủ bắn chết Phật. Nhưng bọn người giết mướn nầy được Đức Phật cải-hoá và cho thọ-giáo, họ chứng được quả-vị Tu-đà-huờn. Lần thứ hai, Đề-bà-đạt-đa trèo lên ngọn núi Linh-thứu, lăn một hòn đá to để đè chết Đức Phật, nhưng đá chỉ làm ngón chơn cái của Đức Phật bị thương mà thôi. Đến lần thứ ba, Đề-bà-đạt-đa thả con voi Nà-là-gi-ri để húc chết Đức Phật, nhưng khi thấy Đức Phật, con voi liền qùi xuống.

 

Sau ba lần mưu-sát thất-bại, Đề-bà-đạt-đa liền đổi chiến-thuật, phá sự hoà-hợp của Tăng-đoàn, bằng cách khuyến-dụ các tăng-nhơn vừa nhập Đạo, theo y đến núi Tượng-đầu lập thành một Giáo-hội mới. Nhưng hai vị đại-đệ-tử của Đức Phật là các Tôn-giả Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên đến thuyết-phục các tăng-nhơn kia trở về.

 

Về sau, Đề-bà-đạt-đa ngoạ-bịnh nặng trong chín tháng. Y liền bảo các đệ-tử của y khiêng y đến Kỳ-viên-tự là nơi Đức Phật ngụ lúc ấy. Nghe tin Đề-bà-đạt-đa sắp đến, Đức Phật bảo các đệ-tử rằng, Đề-bà-đạt-đa chẳng có cơ-duyên để gặp được Phật đâu. Khi bọn người khiêng Đề-bà-đạt-đa tới hồ nước trong khuôn-viên chùa Kỳ-viên, thì họ đặt cáng xuống và cổi áo ra tắm. Lúc bấy giờ, Đề-bà-đạt-đa nhổm dậy, đặt chơn xuống đất, định đi vào trong. Nhưng đất dưới chơn lún xuống, từ từ nuốt chửng Đề-bà-đạt-đa vào lòng đất. Quả thật, Đề-bà-đạt-đa chẳng gặp đuợc Đức Phật trước khi sa xuống điạ-ngục Vô-gián, vì các tội-ác đã làm trước kia, nay phải đền tội.

 

Khi Đức Phật kể xong câu chuyện về tội-ác của Đề-bà-đạt-đa, Ngài liền nói lên bài Kệ như sau:

 

Kẻ làm ác đời nầy khổ-sở,

Đến đời sau lại khổ tiếp theo.

Thường than: "Tội-ác đã gieo!"

Sau sa cõi dữ nặng đeo ưu-phiền.

(Kệ số 017)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Hậu-hĩ: rất nhiều và quí-giá.

 

- Ganh-tị: ghen-ghét, cà-nanh, đòi cho mình cũng được như thế, hay hơn thế mới ưng bụng.

 

- Giáo-hội Tăng-già: Hội-đồng các Trưởng-lão cầm đầu Giáo-hội.

 

- Giáo-chỉ: giáo = giáo-hội; chỉ = bản văn có tánh-cách như một sắc-lệnh, ra lịnh cho các cấp dưới phải tuân-hành.

 

- Cáo-tố: tố-cáo, nêu rõ tội-phạm ra. Trong Giáo-chỉ cáo-tố nầy, Giáo-hội tuyên bố rằng, những gì Đề-bà-đạt-đa làm hay nói chỉ có liên-hệ dến riêng y mà thôi, chẳng có liên-quan chi đến Đức Phật, Chánh-Pháp và Tăng-già. Danh-từ chuyên-môn nầy, tiếng Pali gọi là Pakàsanìya Kamma.

 

- Phẫn-uất: tức-giận dữ-dội.

 

- Mưu-sát: mưu = dự-tính làm lén; sát = giết . Mưu-sát là sắp đặt mưu-kế để giết, nhưng chẳng giết được.

 

- Xạ-thủ: xạ = bắn; thủ = tay. Người bắn cung hay bắn súng giỏi.

 

- Cải-hoá: cải = sửa đổi lại; hoá = trở nên. Cải-hoá là làm cho tốt trở lại.

 

- Thọ-giáo: thọ = nhận; giáo = dạy. Học-hỏi với ai.

 

- Linh-Thứu: chim kên-kên; tên một đỉnh núi gần thành Vương-xá, giống hình con ó, nơi Đức Phật giảng kinh Pháp-Hoa. Còn gọi là núi Kỳ-xà-quật. Tên bằng tiếng Pali là Gijjhakùta.

 

- Chiến-thuật: chiến = chiến-đấu, đánh nhau; thuật = cách, phương-pháp. Đổi chiến-thuật là đổi lối đánh, đánh cách khác hơn trước.

 

- Hoà-hợp: hoà = an-hoà, hoà-thuận với nhau; hợp = hiệp nhau, đồng ý với nhau, chẳng trái ngược. Phá sự hoà-hợp của Tăng-đoàn là tội nặng, thường bị trục-xuất.

 

- Khuyến-dụ: khuyến = khuyên; dụ = dụ-dỗ; gạt-gẫm mời.

 

- Núi Tượng-đầu: tên bằng tiếng Pali là Gayàsìsa.

 

- Thuyết-phục: thuyết = nói; phục = nghe theo.

 

- Ngoạ-bịnh: ngoạ = nằm . Ngoạ-bịnh là lâm bịnh nặng.

 

- Cơ-duyên: cơ-hội may-mắn.

 

- Khuôn-viên: trong vòng rào.

 

- Cáng: tấm ván mỏng để khiêng người yếu; cái băng-ca.

 

- Cõi dữ: cõi xấu ác, phải chịu khổ sở. Theo kinh sách Đại-Thừa, chúng-sanh sanh vào một trong 6 cõi: ba cõi lành là cõi người, A-tu-la (thần) và Trời; và ba cõi dữ là điạ-ngục, ngạ-quỉ (quỉ đói) và súc-sanh. Phật-giáo Nguyên-thủy phân-biệt bốn cõi dữ (sắp A-tu-la vào cõi dữ).

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang các ý-nghĩa sau đây:

 

1.- Tội-ác của Đề-bà-đạt-đa bắt nguồn từ lòng ganh-tị: Đề-bà-đạt-đa, vốn là em họ của Phật, đã ba lần mưu-sát Phật, phá-hoại Tăng-đoàn, chỉ vì ganh-ghét Phật, muốn thay-thế Phật để cầm đầu Tăng-chúng. Nguyên-do sâu xa là lòng ganh-tị. Lòng ganh-tị lại bắt nguồn từ sự tham-lam: thấy người hơn mình, muốn được hơn người. Đây là món độc-hại to-lớn nhứt mà người tu-hành phải sớm hôm lo dẹp cho sạch trong tâm mình.

 

2.- Đề-bà-đạt-đa sa vào điạ-ngục ngay khi bị đất nứt hút xuống, đó là quả-báo của các tội-ác do y đã gây ra: đây cho thấy Luật Nhơn-Quả báo-ứng nhãn-tiền ( = ngay trước mắt). Làm ác chẳng thể nào tránh khỏi được các hậu-quả ác đến cho mình, trong đời nầy, hay đời sau.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 017:

 

Bài Kệ số 017 nêu lên hậu-quả kéo dài của tội-ác:

 

Kẻ làm ác phải chịu khổ-sở cả hai đời: đời hiện-tại và đời tương-lai: Tại sao? Theo luật Nhơn-Quả, gây nhơn ác, sẽ hứng chịu quả xấu. Quả xấu có thể xãy ra ngay trong đời hiện-tại, hoặc trong các đời sau. Nhưng ngay trong hiện-tại, kẻ làm ác cũng cảm thấy khổ-sở, mỗi khi nhớ lại hành-vi xấu-ác mình đã làm: đó là ý-nghĩa của câu Kệ:

 

Thường than: "Tội-ác đã gieo".

 

Khi than như thế, thì tâm buồn-rầu, lo-sợ, chẳng biết rồi đây mình sẽ chịu hậu-quả khổ đến bực nào. Chỉ nội sự lo-buồn đó cũng đã làm khổ-sở cho kẻ làm ác ngay trong hiện-tại.

 

Còn câu Kệ:

 

Sau sanh cõi dữ nặng đeo ưu-phiền

 

thì người chẳng tin có đời sau, chẳng tin có điạ-ngục thì xem thường, chẳng sợ. Họ cứ bảo, chết là hết! Chưa chắc đâu! Hãy nói với họ, nếu có đời sau, có điạ-ngục, thì sao? Ta cứ làm lành, tránh điều ác, thì mới chắc, dầu có điạ-ngục hay chẳng có, ta có lo gì. Đó là điều lợi trước mắt, chẳng phải lo ngay bây giờ, mà cũng chẳng phải sợ về sau.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ.

 

2.- Rút lấy bài học ở Tích chuyện: tội-ác của Đề-bà-đạt-đa do lòng ganh-tị mà sanh ra, và lòng ganh-tị nầy lại bắt nguồn ở lòng tham. Vậy, ta cần phải chận đứng sự tham-lam nơi tâm ta. Chận đứng cách nào?

 

- Thấy người hàng xóm mua xe mới, đừng ganh-tị, cố mua một chiếc đẹp hơn. Đừng tranh giàu, tranh sang với láng-diềng, với đồng-nghiệp, với bạn-bè, với bà-con.

 

- Tham có nhiều thứ lắm, xin đề-nghị bớt tham vài việc dễ làm: đừng ham xem Ti-vi, tuồng cải-lương, đến quá nửa đêm, hãy tự hạn-chế thời-giờ nầy để đọc Kinh-sách.

 

- Khi thấy con người ta thi đậu, con mình rớt, thì ganh-ghét; hãy mừng giùm cho người ta. Đó là tâm hỉ, một trong bốn tâm vô-lượng rất quí, là từ, bi, hỉ, xả.

The Story of Devadatta

While residing at the Jetavana monastery in Savatthi, the Buddha uttered Verse (17) of this book, with reference to Devadatta.

Devadatta was at one time residing with the Buddha in Kosambi. While staying there he realized that the Buddha was receiving much respect and honour as well as offerings. He envied the Buddha and aspired to head the Order of the bhikkhus. One day, while the Buddha was preaching at the Veluvana monastery in Rajagaha, he approached the Buddha and on the ground that the Buddha was getting old, he suggested that the Order be entrusted to his care. The Buddha rejected his offer and rebuked him, saying that he was a swallower of other people's spittle. The Buddha next asked the Samgha to carry out an act of proclamation (Pakasaniya kamma*) regarding Devadatta.

Devadatta felt aggrieved and vowed vengeance against the Buddha. Three times, he attempted to kill the Buddha: first, by employing some archers; secondly, by climbing up the Gijjhakuta hill and rolling down a big piece of rock on to the Buddha; and thirdly, by causing the elephant Nalagiri to attack the Buddha. The hired assassins returned after being established in Sotapatti Fruition, without harming the Buddha. The big piece of rock rolled down by Devadatta hurt the big toe of the Buddha just a little, and when the Nalagiri elephant rushed at the Buddha, it was made docile by the Buddha. Thus Devadatta failed to kill the Buddha, and he tried another tactic. He tried to break up the Order of the bhikkhus by taking away some newly admitted bhikkhus with him to Gayasisa; however, most of them were brought back by Thera Sariputta and Thera Maha Moggallana.

Later, Devadatta fell ill. He had been ill for nine months when he asked his pupils to take him to the Buddha, and subsequently made the trip to the Jetavana monastery. Hearing that Devadatta was coming, the Buddha told his disciples that Devadatta would never get the opportunity to see him.

When Devadatta and his party reached the pond in the Jetavana monastery compound the carriers put down the couch on the bank of the pond and went to take a bath. Devadatta also rose from his couch and placed both his feet on the ground. Immediately, his feet sank into the earth and he was gradually swallowed up, Devadatta did not have the opportunity to see the Buddha because of the wicked deeds he had done to the Buddha. After his death, he was reborn in Avici Niraya, a place of intense and continuous torment.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 17: Here he is tormented, hereafter he is tormented; the evil-doer is tormented in both existences. He is tormented, and he laments: "Evil have I done." He is even more tormented when he is reborn in one of the lower worlds (Apaya).


Pakasaniya kamma: An act of Proclamation carried out by the Order of the Samgha regarding a member declaring that as his conduct was of one kind before and is of another kind now, henceforth all his physical and verbal actions are only his and have nothing to do with the Buddha, the Dhamma and the Samgha.

Dhammapada Verse 17
Devadatta Vatthu


Idha tappati pecca tappati
papakari ubhayattha tappati
papam me katanti tappati
bhiyyo tappati duggatim
1 gato.

Verse 17: Here he is tormented, hereafter he is tormented; the evil-doer is tormented in both existences. He is tormented, and he laments: "Evil have I done." He is even more tormented when he is reborn in one of the lower worlds (Apaya).


1. duggatim/duggati: unhappy destinations, the four lower worlds (apaya). In the case of Devadatta, avici niraya, the lowest niraya, (placement of torment).


dhp018_B
Verse-Kệ 018

(13).- Tích chuyện cô Sử-ma-na - Kệ số 018

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có nhắc đến chuyện cô Sử-ma-na là con gái út của Trưởng-giả Cấp-cô-độc.

 

Vào thời ấy, ở nước Xá-vệ, có hai nhà: một là nhà bà Vi-sa-kha và một là nhà ông Cấp-cô-độc luân-phiên nhau hằng ngày dưng cúng thực-phẩm lên hàng ngàn chư Tăng. Ở nhà bà Vi-sa-kha, người cháu gái của bà lo thu-xếp mọi việc cúng-dường; còn nơi nhà ông Cấp-cô-độc thì việc đó giao cho ba cô con gái lo-liệu. Hai người con gái lớn của ông Cáp-cô-độc trong khi dưng-cúng thực-phẩm, nghe chư Tăng thuyết-pháp và chứng được quả-vị Tu-đà-huờn. Còn người con gái út là cô Sử-ma-na lại hơn thế nữa, cô chứng được quả-vị Tư-đà-hàm.

 

Đến khi cô Sử-ma-na bị bịnh nặng, nằm trên giường, cô liền cho mời cha là ông Cấp-cô-độc đến gần bên. Khi cha cô đến nơi, cô lại gọi cha cô bằng em. Rồi sau đó, cô từ-trần. Ông Cấp-cô-độc nghe gọi như thế, cứ tưởng con mình mê-sảng vào lúc hấp-hối, nên rất lo-buồn. Sau khi tang-lễ đã xong, ông liền đến đảnh-lễ Đức Phật và trình lại sự-việc.

 

Đức Phật bảo, cô Sử-ma-na chẳng có mê-sảng khi gần chết. Sở dĩ, cô gọi cha cô bằng em, là vì chính cô đã chứng được quả vị thứ hai trong hàng Thanh-văn, trong khi đó cha cô và hai chị cô mới chứng được quả-vị thứ nhứt mà thôi. Đức Phật còn cho biết, nay cô Sử-ma-na được tái-sanh lên cõi Trời Đâu-suất.

 

Sau đó, Đức Phật mới đọc bài kệ, như sau:

 

Người hành thiện đời nầy vui sướng

Đến đời sau còn hưởng phước nhàn.

Lòng vui nhớ: "Ta làm lành!"

Sau sanh cõi quí tăng phần phước duyên.

(Kệ số 018)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Vi-sa-kha: tên thật bằng tiếng Pali là Visakha.

 

- Sử-ma-na: tên thật bằng tiếng Pali làSumanadevi

 

- Luân-phiên: luân = bánh xe; thay nhau; phiên = kỳ, bận, lượt. Luân-phiên là thay phiên nhau, ngưòi nầy hôm nay, người kia hôm sau.

 

- Tu-đà-huờn: quả-vị thứ nhứt trong hàng Thanh-văn; Sotàpatti.

 

- Tư-đà-hàm: quả-vị thứ hai trong hàng Thanh-văn; Sakadàgàmi.

 

- Mê-sảng: chẳng còn hiểu-biết nữa, nói nhảm.

 

- Tang-lễ: tang = đám ma. Tang-lễ là lễ đám ma.

 

- Hành thiện: hành = làm; thiện = lành. Làm lành.

 

- Phước nhàn: nhàn = an-vui, thong-dong, chẳng bị ràng-buộc.

 

- Cõi quí: cõi lành. Đó là ba đường lành: cõi Người, cõi Thần và cõi Trời.

 

- Phước-duyên: duyên = duyên may. Được thêm phần sung-sướng.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

1) Khi kể Tích chuyện nầy, Đức Phật muốn chứng minh một lần nữa về Luật Nhơn-Quả: hễ đã làm lành, tất sẽ được hưởng phước, chẳng những ngay trong đời hiện-tại, mà cả về đời sau nữa.

 

2) Tại sao cô Sử-ma-na lại gọi Cha bằng em, Đức Phật đã giải-thích rõ trong Tích chuyện. Cô Sử chỉ gọi Cha như thế vào lúc sắp tái-sanh vào cõi Trời, nhờ chứng-đắc quả-vị cao hơn Cha và hai chị.

 

(2) Ý-nghĩa bài Kệ số 018:

 

Cũng như bài Kệ số 017, bài Kệ số 018 nêu lên hậu-quả dài lâu của việc làm thiện. Công-đức của cô Sử-ma-na là cúng-dường chư Tăng. Cúng-dường các bực chơn-tu là một hình-thức của sự bố-thí, một đức-tánh cao-quí để dẹp lòng bỏn-xẻn, tham-lam nơi tâm mình.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ.

 

2.- Thực-hành việc bố-thí để dẹp bỏ sự rít-róng và bụng tham. Khi đem cho, chớ phân-biệt ba việc: người cho, người nhận và vật hiến-tặng.

The Story of Sumanadevi

While residing at the Jetavana monastery in Savatthi, the Buddha uttered Verse (18) of this book, with reference to Sumanadevi, the youngest daughter of Anathapindika.

In Savatthi, at the house of Anathapindika and the house of Visakha, two thousand bhikkhus were served with food daily. At the house of Visakha, the offering of alms-food was supervised by her granddaughter. At the house of Anathapindika, the supervision was done, first by the eldest daughter, next by the second daughter and finally by Sumanadevi, the youngest daughter. The two elder sisters attained Sotapatti Fruition by listening to the Dhamma, while serving food to the bhikkhus. Sumanadevi did even better and she attained Sakadagami Fruition.

Later, Sumanadevi fell ill and on her death-bed she asked for her father. Her father came, and she addressed her father as "younger brother" (Kanittha bhatika) and passed away soon after. Her form of address kept her father wondering and made him uneasy and depressed, thinking that his daughter was delirious and not in her right senses at the time of her death. So, he approached the Buddha and reported to him about his daughter, Sumanadevi. Then the Buddha told the noble rich man that his daughter was in her right senses and fully self-possessed at the time of her passing away. The Buddha also explained that Sumanadevi had addressed her father as "younger brother" because her attainment of Magga and Phala was higher than that of her father's. She was a Sakadagam whereas her father was only a Sotapanna. Anathapindika was also told that Sumanadevi was reborn in the Tusita deva world.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 18: Here he is happy, hereafter he is happy; one who performs meritorious deeds is happy in both existences. Happily he exclaims: I have done meritorious deeds." He is happier still when he is reborn in a higher world (suggati).


Dhammapada Verse 18
Sumanadevi Vatthu


Idha nandati pecca nandati
katapunno ubhayattha nandati
punnam me katanti nandati
bhiyyo nandati suggatim
gato.

Verse 18: Here he is happy, hereafter he is happy; one who performs meritorious deeds is happy in both existences. Happily he exclaims: I have done meritorious deeds." He is happier still when he is reborn in a higher world (suggati).



1. sugattim/suggati: happy existence.


dhp019_B
dhp020_B
Verse-Kệ 019-020

(14).- Tích chuyện hai vị Tỳ-kheo - Kệ số 019 và 020

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có nhắc đến việc hai vị tỳ-kheo mà đường-lối tu-tập rất khác nhau.

 

Thuở ấy có hai vị tỳ-kheo dòng-dõi quí-phái, kết làm bạn thân với nhau. Một vị rất thông-thạo về Tam-tạng Kinh-điển, đọc tụng và giảng-dạy giáo-lý rất lưu-loát. Vị nầy được làm giáo-thọ dạy cho năm trăm vị tăng-nhơn. Còn vị kia tuy hiểu rất ít về Kinh-điển, nhưng rất tinh-cần theo lời dạy trong Chánh-pháp mà tu-tập và hành-trì; nhờ đó mà chứng-đắc được đạo-quả A-la-hán.

 

Trong một dịp đến đảnh-lễ Đức Phật ở Kỳ-viên-tự, họ gặp lại nhau. Vị giáo-thọ chẳng ngờ là bạn mình đã chứng-đắc A-la-hán, nên xem thường người bạn, nghĩ rằng ông ấy còn chưa thông-thạo rành rẽ như mình về Kinh-điển, còn chưa biết được một Bộ nào trong năm Bộ-Kinh, cũng chẳng biết đến một Tạng nào trong Tam-Tạng. Vị giáo-thọ nghĩ như thế, nên định nêu ra những câu hỏi về Kinh-Tạng để làm cho bạn mình phải bối-rối và xấu-hổ.

 

Lúc bấy giờ, Đức Phật đọc được tư-tưởng của vị giáo-thọ, biết nếu ý-định xấu kia mà thực-hiện thì vị giáo-thọ thông-thái nầy sẽ bị tái-sanh vào cõi dữ. Với tấm lòng từ-bi, Đức Phật ngăn chẳng cho vị giáo-thọ hỏi khó vị kia, bằng cách chính Ngài đặt ra các câu hỏi về Thiền-định, về Đạo và về Quả. Vị giáo-thọ chẳng trả lời nổi vì ông chỉ biết về lý-thuyết mà thôi, còn chưa có kinh-nghiệm tu-tập. Còn vị tỳ-kheo kia, nhờ thực-hành thuần-thục, tuân theo Chánh-pháp mà hành-trì, đã chứng-đắc quả-vị A-la-hán, nên giải-đáp rất rành-rẽ. Đức Phật tán-thán vị nầy, và chẳng có một lời khen ngợi nào cả đối với vị giáo-thọ.

 

Chúng Tăng lúc ấy rất lấy làm lạ khi thấy vị thầy dạy Pháp của họ chẳng được Đức Phật khen ngợi, mới thưa hỏi Đức Phật tại sao vậy. Đức Phật giải-thích: vị giáo-thọ tuy hiểu biết rất nhiều về giáo-lý, mà chẳng đem ra thực-hành trên thân-tâm mình, thì cũng tựa như người chăn bò, lo săn-sóc bò cho chủ, để lãnh lương, còn những chất ngon của các con bò, gọi là ngũ chủng ngưu-vị, thì chỉ có chủ đàn bò mới biết mà hưởng được.

 

Vị giáo-thọ chỉ hưởng được sự cung-kính, cúng-dường của các người học-trò của ông. Còn bạn ông, vị A-la-hán, thì mới thọ-hưởng được những phước-lạc đo Đạo và Quả mang đến, giống như chủ đàn bò hưởng năm món ngưu-vị. Đó là nhờ ra công-sức chuyên-cần hành-trì, diệt hết ba món độc tham, sân, si, cùng các lậu-hoặc, nên tâm cùng tuệ đều được giải-thoát. Vị nầy mới thật-sự hưởng được lợi-ích do Chánh-pháp mang đến.

 

Bấy giờ, Đức Phật liền nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Kẻ dầu đọc tụng nhiều Kinh tạng,

Tánh buông-lung, chẳng ráng hành-trì.

Thằng chăn bò có khác chi,

Đếm bò cho chủ, ích gì cho thân?

Đạo-quả Sa-môn chẳng dự phần.

(Kệ số 019)

 

Người dầu tụng chẳng nhiều Kinh tạng,

Y theo Chánh-pháp ráng hành-trì,

Diệt ba độc tham, sân, si,

Tuệ, tâm giải-thoát, chẳng chi buộc ràng.

Đời nầy, đời khác, màng chi nữa,

Đạo-quả Sa-môn tự có phần.

(Kệ số 020).

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Kinh-điển: Kinh = lời Đức Phật giảng-dạy, được ghi chép lại; điển = phép-tắc. Kinh-điển là kinh-sách về giáo-pháp của Đức Phật.

 

- Lưu-loát: trôi chảy; dễ-dàng, dễ hiểu và chẳng ngập-ngừng.

 

- Giáo-thọ: vị tăng rành-rẽ về giáo-lý, giảng-dạy cho các tăng-ni.

 

- Hành-trì: hành = làm, thực-hành; trì = giữ. Hành-trì là tuân theo lời dạy trong Chánh-pháp áp-dụng vào đời sống tu-hành, chẳng quên.

 

- Năm Bộ-Kinh: đó là: (1) Trường-Bộ-Kinh, (2) Trung-Bộ-Kinh, (3) Tương-ưng-Bộ-Kinh, (4) Tăng-chi Bộ-Kinh và (5)Tiểu-Bộ-Kinh; mỗi Bộ-Kinh có trên dưới gần ngàn bài Kinh.

 

- Tam Tạng: tam = ba; tạng = giỏ, đãy đựng kinh. Tam Tạng là tiếng chung để gọi tất cả kinh-điển nhà Phật. Gồm có Tạng Luật, Tạng Kinh và Tạng Luận.

 

- Thông-thái: hiểu biết rõ nhiều việc, có kiến-thức thật rộng.

 

- Thuần-thục: rành-rẽ, giỏi-dắn, chín-chắn.

 

- Tán-thán: khen ngợi.

 

- Giải-thích: cắt nghĩa rõ ra.

 

- Ngũ chủng ngưu-vị: ngũ = năm; chủng = loại, thứ; ngưu = trâu, bò; vị = vị ngon. Năm món ngon từ sữa con bò là: sữa, kem, bơ sống, bơ chín và phô-mai (fromage).

 

- Lậu-hoặc: lậu = rỉ chảy dơ ra; hoặc = điều sai-lầm. Chữ lậu-hoặc được dùng để chỉ những thói xấu trong tâm, thường lộ ra ngoài, khiến cho ta phải phiền-não, như tham, sân, si, mạn, nghi, v.v..

 

- Tâm, Tuệ: tâm = lòng; tuệ = huệ, trí-huệ. Tâm bị phiền-não ràng buộc; trí-huệ bị vô-minh ( =si-mê) che lấp. Diệt bỏ được phiền-não và vô-minh thì cả tâm lẫn tuệ đều được giải-thoát mà chứng-đắc Niết-bàn.

 

- Buông-lung: chẳng biết tự kềm-chế, sống bừa-bãi. Đồng nghĩa với chữ phóng-dật.

 

- Chẳng dự phần: chẳng hưởng được phần lợi-ích.

 

- Tự có phần: Đã có phần lợi-ích dành sẵn cho mình.

 

- Màng chi nữa: chẳng còn ham chi nữa; hết thèm rồi.

 

B. - Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang một ý-nghĩa quan-trọng về đường-lối tu-tập. Đọc-tụng nhiều Kinh-điển mà chẳng biết cách ứng-dụng tu-hành cho thân-tâm được thanh-tịnh, chỉ như người chăn bò lo đếm số bò cho chủ, chẳng ích-lợi gì cho bản-thân. Người biết cách đọc-tụng Kinh-điển, chẳng cố lấy nhiều, mà chỉ cầu tìm cách ứng-dụng để sửa đổi tâm-tánh mình cho trong-sạch hơn lên, để tiến đến mục-tiêu giác-ngộ và giải-thoát.

 

Do đó, ta nên biết:

 

Thà biết ít mà biết chắc

Khỏi tu mù, mà chẳng mắc tu lầm.

 

(2) Ý-nghĩa hai bài Kệ sối 019 và 020:

 

Ý-nghĩa của hai bài Kệ nhắc lại ý-nghĩa của Tích-chuyện: Khi đọc-tụng Kinh-điển, ta phải biết ứng-dụng vào đời sống tu-hành. Vấn-đề là ứng-dụng như thế nào? Bài Kệ số 020 chỉ rõ cách hành-trì:

 

- diệt ba mối độc: tham, sân, si;

 

- giải-thoát tâm và huệ. Tâm giải-thoát khi diệt hết các phiền-não-chướng (chướng = gây trở ngại), nhứt là tham, sân, si. Huệ giải-thoát khi diệt được sở-tri-chướng (sở-tri = điều hiểu biết; sở tri-chướng là các điều hiểu biết sai-lầm, lỗi-thời, cùng các cố-chấp, các thành-kiến).

 

- "Đời nầy, đời khác, màng chi nữa": câu nầy có nghĩa là chẳng còn bám-níu vào cuộc sống Luân-hồi nữa; như thế, sẽ chứng được cảnh-giới vô-sanh, nghĩa là chẳng bị sanh-tử ( = sự chết sống) ràng-buộc nữa. Nói cách khác, đó là chứng-đắc được cảnh Niết-bàn.

 

Học- tập:

 

1. Học thuộc lòng hai bài Kệ: Đây là dịp để nhớ đến ý-nghĩa việc tụng-đọc Kinh-Kệ: đọc Kinh chẳng phải để được phước như một số người mê-tín bảo Kinh nầy linh-thiêng hơn Kinh kia. Kinh nào cũng dạy ta một cách tu-hành, khi đọc tụng phải tìm cách ứng-dụng; và có ứng-dụng tu thì mới được hưởng lợi-ích, đó là Kinh linh-thiêng đấy.

 

2. Thà biết ít mà biết chắc. Nếu chẳng biết đến Kinh-kệ mà tu, đó là tu mù, chẳng hiểu rõ đâu là mục-tiêu, đâu là nỗ-lực. Nhưng biết mà biết quá nhiều, thì cũng chẳng hay, vì khi biết quá nhiều, lại đâm ra ít chịu thực-hành theo. Thế nên thà biết ít. Nhưng phải biết chắc; vì có biết chắc mới đi đúng đường, khỏi phải phân-vân, nghi-ngại.

 

3. Khỏi tu mù và chẳng mắc tu lầm. Khi mình hiểu biết về Kinh-Kệ, đó là căn-bản vững chắc cho mình đi tới dưới ánh-sáng của ngọn đuốc Kinh-kệ. Dọc đường có hầm-hố, chông-gai, mình nhờ Kinh-Kệ nhắc-nhở mà tránh được. Người tu mà chẳng hiểu biết Kinh-Kệ, thì dễ lầm-lẫn, lại thường mê-tín nghe theo lời khuyến-rủ của những kẻ đội lốt tu-hành.

 

Biết chắc về Kinh-Kệ tránh được khổ-nạn tu lầm, phí cả một cuộc đời.

 

4. Biết lấy Kinh-Kệ làm Thầy, tránh được hai nạn: tu mù, tu lầm.

The Story of Two Friends

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (19) and (20) of this book, with reference to two bhikkhus who were friends.

Once there were two friends of noble family, two bhikkhus from Savatthi. One of them learned the Tipitaka and was very proficient in reciting and preaching the sacred texts. He taught five hundred bhikkhus and became the instructor of eighteen groups of bhikkhus. The other bhikkhu striving diligently and ardently in the course of Insight Meditation attained arahatship together with Analytical Insight.

On one occasion, when the second bhikkhu came to pay homage to the Buddha, at the Jetavana monastery, the two bhikkhus met. The master of the Tipitaka did not realize that the other had already become an arahat. He looked down on the other, thinking that this old bhikkhu knew very little of the sacred texts, not even one out of the five Nikayas or one out of the three Pitakas. So he thought of putting questions to the other, and thus embarass him. The Buddha knew about his unkind intention and he also knew that as a result of giving trouble to such a noble disciple of his, the learned bhikkhu would be reborn in a lower world.

So, out of compassion, the Buddha visited the two bhikkhus to prevent the scholar from questioning the other bhikkhu. The Buddha himself did the questioning. He put questions on jhanas and maggas to the master of the Tipitaka; but he could not answer them because he had not practised what he had taught. The other bhikkhu, having practised the Dhamma and having attained arahatship, could answer all the questions. The Buddha praised the one who practised the Dhamma (i.e., a vipassaka), but not a single word of praise was spoken for the learned scholar (i.e., a ganthika).

The resident disciples could not understand why the Buddha had words of praise for the old bhikkhu and not for their learned teacher. So, the Buddha explained the matter to them. The scholar who knows a great deal but does not practise in accordance with the Dhamma is like a cowherd, who looks after the cows for wages, while the one who practises in accordance with the Dhamrna is like the owner who enjoys the five kinds of produce of the cows*. Thus, the scholar enjoys only the services rendered to him by his pupils but not the benefits of Magga-phala. The other bhikkhu, though he knows little and recites only a little of the sacred texts, having clearly comprehended the essence of the Dhamma and having practised diligently and strenuously, is an 'anudhammacari'**, who has eradicated passion, ill will and ignorance. His mind being totally freed from moral delilements and from all attachments to this world as well as to the next, he truly shares the benefits of Magga-phala.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 19: Though he recites much the Sacred Texts (Tipitaka), but is negligent and does not practise according to the Dhamma, like a cowherd who counts the cattle of others, he has no share in the benefits of the life of a bhikkhu (i.e., Magga-phala).

 

Verse 20: Though he recites only a little of the Sacred Texts (Tipitaka), but practises according to the Dhamma, eradicating passion, ill will and ignorance, clearly comprehending the Dhamma, with his mind freed from moral defilements and no longer clinging to this world or to the next, he shares the benefits of the life of a bhikkhu (i.e., Magga-phala).


* Milk, cream, butter, butter-milk and ghee.


** Anudhammacari: one who practises in conformity with the Dhamma.

Dhammapada Verses 19 and 20
Dvesahayakabhikkhu Vatthu


Bahumpi ce samhita bhasamano
na takkaro hoti naro pamatto
gopova gavo ganayam paresam
na bhagava samannassa hoti.

Appampi ce samhita bhasamano
dhammassa hoti anudhammacari
raganca dosanca pahaya moham
sammappajano suvimuttacitto
1
anupadiyano idha va haram va
sa bhagava samannassa hoti.
2

Verse 19: Though he recites much the Sacred Texts (Tipitaka), but is negligent and does not practise according to the Dhamma, like a cowherd who counts the cattle of others, he has no share in the benefits of the life of a bhikkhu (i.e., Magga-phala).

Verse 20: Though he recites only a little of the Sacred Texts (Tipitaka), but practises according to the Dhamma, eradicating passion, ill will and ignorance, clearly comprehending the Dhamma, with his mind freed from moral defilements and no longer clinging to this world or to the next, he shares the benefits of the life of a bhikkhu (i.e., Magga-phala).


1. suvimuttacitto: Mind freed from moral defilements; this has been achieved through perfect practice and clear comprehension of the Dhamma.

2. sa bhagava samannassa hoti: lit., shares the benefits of the life of a samana (a bhikkhu). According to the Commentary, in this context, it means, "Shares the benefits of Magga-phala."


End of Chapter One: The Pairs (Yamakavagga)


__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 583)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 341)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 371)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 302)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 327)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 384)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1125)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 605)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 423)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1300)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 831)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4104)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8320)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1278)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 557654)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
22 Tháng Ba 201811:06 CH(Xem: 1713)
Mấy hôm trước khi nghe pháp Sư giảng lần đầu tiên, con đã rất hỷ lạc suốt mấy ngày liền vì con tin là mình đã tìm được một vị minh sư. Tối hôm qua, khi nghe đến bài " Ai làm cho mình khổ", con lại khóc rất nhiều. Con không ngờ những bài pháp Sư giảng lại tác động mạnh mẽ đến tâm thức con như vậy.
20 Tháng Ba 20188:38 CH(Xem: 730)
Ngày hôm qua, con gặp lại bạn cũ học ĐH và add FB của bạn. Sau khi xem một vài hình ảnh chồng & con lai của bạn (con rất thích con lai) thì tâm con lại bị bấn loạn. Rất nhiều câu hỏi hiện ra trong đầu con như: sao mình như vầy (có công việc tốt, ngoại hình ko quá tệ...) mà ko quen được người tử tế? Làm sao để có được một em bé con lai dễ thương như vậy? ...
06 Tháng Ba 201810:35 CH(Xem: 932)
Lần đầu tiên tôi nghe câu chuyện về võ thuật tôi yêu thích nầy, khi tôi mới bắt đầu học võ karate. Giờ đây tôi kể lại chuyện nầy cho những người học trò của tôi, và chẳng có gì là ngạc nhiên, khi tôi kể lại chuyện nầy cho các khách-hàng qua sự trình diễn cá nhân của tôi và khách-hàng doanh nghiệp của tôi. Đấy không phải là những chuyện nhiều kịch tính,
27 Tháng Hai 20188:42 CH(Xem: 824)
Tôi có quen một ông bạn, ông ta nói rằng ông ta thường xuyên quên chỗ để cây bút, và ông cũng thường xuyên mất bút. Vì thế, ông chỉ xử dụng những cây bút rẻ tiền, để ông ta khỏi phải phiền muộn về chuyện mất bút. Ông lo lắng về thói quen bất cẩn nầy.
14 Tháng Hai 20188:00 SA(Xem: 1228)
* Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi, mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi. Người thương gia lợi tức, người công nhân ấm no. Thoát ly đời gian lao nghèo khó. * Á a a a. Nhấp chén đầy vơi chúc người, người vui. Á a a a. Muôn lòng xao xuyến duyên đời.
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1020)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1829)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1300)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 408)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2569)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 408)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 329)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript
31 Tháng Năm 201810:49 SA(Xem: 1563)
Ngài Thiền Sư Pháp Minh là một trong những vị Cao Tăng, chân tu, thực hành Hạnh Đầu đà vô cùng tinh tấn của Hệ phái Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài ra đi nhưng Ngài vẫn còn sống mãi với hình ảnh là một bậc chân tu khả kính, thực hành Giới-Định-Tuệ, in đậm nét trong tâm trí của toàn thể chư Tăng, Tu nữ và hàng Phật tử gần xa.
08 Tháng Tư 20189:32 CH(Xem: 875)
"Từ kiếp nầy sang kiếp kia, những hạt giống tiếp tục được gieo trồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thần mưa tiếp tục tưới rải nước mưa như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, người nông dân tiếp tục trồng trọt trên cánh đồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thực phẩm tiếp tục tăng trưởng trong cõi người như thế;
30 Tháng Giêng 20181:00 CH(Xem: 4078)
"Một bản chú giải thật sinh động được lưu truyền qua bao thế hệ trên đảo Tích Lan. Nhưng vì tác phẩm viết bằng thổ ngữ địa phương nên sự lợi lạc chẳng đến được các xứ xa xôi. Không chừng tác phẩm sẽ góp phần đắc lực trong việc mang lại an lạc cho hết thảy nhân loại".