Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 04, Phẩm Hoa - The Dhammapada, Chapter 04, Flowers

02 Tháng Mười Hai 20186:25 SA(Xem: 81)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 04, Phẩm Hoa - The Dhammapada, Chapter 04, Flowers

Chapter04-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 04, Phẩm Hoa
The Dhammapada, Chapter 04, Pupphavagga: Flowers

(Kệ 44-59 - Verses 44-59)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp044_B
dhp045_B
Verse-Kệ 044-045

(33).- Tích chuyện các vị Tỳ-kheo bàn về thế đất - Kệ số 044 và 045

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến các vị tỳ-kheo bàn về thế đất lồi-lõm hay bằng-phẳng.

 

Thuở ấy, có năm trăm vị tỳ-kheo theo sau chơn Đức Phật vào làng để khất-thực, rồi trở về Kỳ-viên-tự. Vào buổi chiều, họ tụ-tập nhau và bàn về chuyến đi khất-thực buổi sáng. Một số bình-phẩm về thế đất dọc đường, có chỗ lồi, chỗ lõm; các vị khác cho rằng khoảng nầy có cát, khoảng kia có đất sét trơn-trợt; một nhóm khác bảo vùng ấy có đồi nổng, vùng kia có hố đèo, v.v. Vào lúc ấy, Đức Phật đi ngang qua, biết được các tỳ-kheo đang bàn về thế đất, Ngài dừng lại và dạy rằng: "Này các tỳ-kheo, đất cát mà các vị đang bàn-cãi với nhau đó, đều ở ngoài tấm thân của quí vị. Tốt hơn, quí-vị nên quay lại nhìn trên bản-thân mình, và chuẩn-bị đầy-đủ để chuyên-tâm hành-thiền."

 

Bấy giờ, Đức Phật nói lên hai bài kệ sau đây:

 

Ai khéo vượt qua cõi đất liền,

Cõi Diêm-ma và cõi nhơn-thiên?

Ai thông-đạt chơn-truyền Chánh-pháp,

Khéo như người hái, kết tràng hoa?

(Kệ số 044.)

 

Bực hữu-học qua cõi đất liền,

Cõi Diêm-ma và cõi nhơn-thiên,

Lại thông-đạt chơn-truyền Chánh-pháp.

Khéo như người hái, kết tràng hoa.

(Kệ số 045.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Thế Đất: hình-thể của mặt đất có chỗ lồi, chỗ lõm, v.v...

 

- Nổng: gò đất cao.

 

- Cõi Diêm-ma: cõi âm, cõi chết, nơi vua Diêm-Vương ngự-trị.

 

- Cõi nhơn-thiên: Nhơn = người; Thiên = Trời.

 

- Thông-đạt: hiểu biết rõ-ràng, thấu đáo.

 

- Chơn-truyền: Chơn = chơn-chánh, đúng-đắn; truyền = dạy bảo, nói và giảng đúng, cho rõ nghĩa.

 

- Tràng hoa: các hoa kết lại thành vòng.

 

- Hữu-học: Hữu =có; học = học hỏi. Hữu-học, theo nghĩa chuyên-môn trong Phật-học, là người đã thông-đạt Chánh-pháp. Về phương-diện tu-hành, đó là những người còn đang học cách tu thế nào để diệt hết các phiền-não tham, sân, v.v. và các sự si-mê về sở-tri-chướng để cho tâm và huệ được giải-thoát. Cao hơn bực Hữu-học là bực Vô-học nghĩa là những bực tu-hành đã học xong rồi, đã dẹp hết phiền-não-chướng và sở-tri-chướng, hết còn gì để học thêm nữa, tâm và huệ đều giải-thoát. Đừng lầm bực Vô-học với kẻ thất-học, là hạng người chẳng biết học gì hết ráo. Bực Hữu-học: tiếng Pali là Sekha; Vô-học + Asekha.

 

B. Nghĩa Ý

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, các vị tỳ-kheo tụ-tập nhau vào buổi chiều để tán gẫu. Đức Phật đi ngang qua, nghe thấy, nhắc các vị tuỳ-kheo nên siêng-năng quán thân bất-tịnh và chuyên-tâm hành thiền thì tốt hơn.

 

(2) Ý-nghĩa hai bài Kệ số 044 và 045:

 

Tuy chia ra hai bài, nhưng một bài đặt câu hỏi, bài sau trả lời. Hỏi: Ai vượt qua được mọi cõi trong cảnh Luân-hồi? Đáp: bực Hữu-học đang tu, dẹp hết các chướng-ngại, để tâm và huệ được giải-thoát.

 

Học-tập

 

1. Học thuộc lòng hai bài Kệ.

 

2. Ứng-dụng: Bớt tán gẫu, dành thời-giờ đọc Kinh, đi kinh-hành.

 

3. Nghe ai nói chuyện hàng xóm, chỉ nghe thôi, đừng tán thêm.

The Story of Five Hundred Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (44) and (45) of this book, with reference to five hundred bhikkhus.

Five hundred bhikkhus, after accompanying the Buddha to a village, returned to the Jetavana monastery. In the evening, while the bhikkhus were talking about the trip, especially the condition of the land, whether it was level or hilly, or whether the soil was clayey or sandy, red or black, etc., the Buddha came to them. Knowing the subject of their talk, he said to them, "Bhikkhus, the earth you are talking about is external to the body; it is better, indeed, to examine your own body and make preparations (for meditation practice)."

The Buddha then spoke in verse as follows:

Verse 44: Who shall examine this earth (i.e., this body)' the world of Yama (i.e., the four Apayas) and the world of man together with the world of devas? Who shall examine the well-taught Path of Virtue (Dhammapada) as an expert florist picks and chooses flowers?

 

Verse 45: The Ariya Sekha* shall examine this earth (i.e., the body), the world of Yama (i.e., the four Apayas) and the world of man together with the world of devas. The Ariya Sekha shall examine the well-taught Path of Virtue (Dhammapada) as an expert florist picks and chooses flowers.


At the end of the discourse those five hundred bhikkhus attained arahatship.

Sekha/Ariya Sekha: one who practises the Dhamma and has entered the Path, but has not yet become an arahat.

Dhammapada Verses 44 and 45
Pancasatabhikkhu Vatthu

Ko imam pathavim vicessati
yamalokanca imam sadevakam
ko dhammapadam sudesitam
1
kusalo pupphamiva pacessati.

Sekho pathavim vicessati
yamalokanca imam sadevakam
sekho dhammapadam sudesitam
kusalo pupphamiva pacessati.

Verse 44: Who shall examine this earth (i.e., this body), the world of Yama (i.e., the four Apayas) and the world of man together with the world of devas? Who shall examine the well-taught Path of Virtue (Dhammapada) as an expert florist picks and chooses flowers?

Verse 45: The Ariya Sekha2 shall examine this earth (i.e., the body), the world of Yama (i.e., the four Apayas) and the world of man together with the world of devas. The Ariya Sekha shall examine the well-taught Path of Virtue (Dhammapada) as an expert florist picks and chooses flowers.


1. dhammapadam sudesitam: the well-taught Path of Virtue; here it means the thirty-seven Factors of Enlightenment (Bodhipakkhiya Dhamma).

2. sekho/sekhapuggala: one who is practising the Dhamma, and has entered the Path, but has not yet become an arahat. The term is applied to the first seven ariyapuggalas, the eighth or arahat being asekho.


dhp046_B
Verse-Kệ 046

(34) - Tích chuyện vị Tỳ-kheo quán thân như ảo-ảnh - Kệ số 046

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng pháp, có đề-cập đến một vị Tỳ-kheo quán thân như ảo-ảnh.

 

Thuở ấy, có một vị Tỳ-kheo, sau khi nhận được đề-tài quán-tưởng do Đức Phật chỉ-dạy, liền đi vào rừng sâu để thực-tập thiền-quán. Mặc dầu vị ấy nỗ-lực rất chuyên-cần, nhưng sau một thời-gian, chẳng thấy có kết-quả khả-quan. Vị ấy định quay về Kỳ-viên-tự để xin Đức Phật chỉ dạy thêm. Dọc đường, vị ấy đứng lưng-chừng một ngọn đồi thấp, thấy thấp-thoáng một ngọn tháp cao, xa xa, ẩn hiện trong lùm cây. Khi đến gần bờ sông, thì ra đó chỉ là ảo-ảnh của một tàn cây rọi xuống dòng nước, có ánh mặt trời chiếu lên. Ngay lúc ấy, vị ấy nghĩ đến tấm thân nầy cũng tựa như ảo-ảnh, chẳng có thực-thể gì. Vị ấy liền ngồi xuống bên bờ sông, nhìn các bọt nước phập-phồng, chẳng mấy chốc lại vỡ tan. Thân nầy rồi cũng thế, vô-thường chẳng bền-vững, khác nào bọt nước trên sông.

 

Lúc bấy giờ, Đức Phật quán-thấy sự tiến-bộ của vị Tỳ-kheo, liền phóng hào-quang, đến bên cạnh, và nói: "Nầy Tỳ-kheo, như ông vừa quán-thấy trong tâm, tấm thân nầy là vô-thường, chẳng có thực-thể, có khác gì ảo-ảnh trên mặt nước kia." Rồi Đức Phật đọc lên bài kệ sau đây; vị Tỳ-kheo chăm-chú nghe, ghi nhận kỹ và chứng được đạo-quả A-la-hán.

 

Nhìn thân, biết vô-thường bọt nước;

Trông ảo-ảnh, thông được thể không,

Nhổ mũi tên hoa Ma cám-dỗ,

Người nầy, Thần Chết hết chỗ tìm.

(Kệ số 046)

 

Tìm hiểu:

 

a. Nghĩa chữ:

 

- Quán: nhìn kỹ và nhận-xét rõ trong tâm.

 

- Ảo-ảnh: ảo = giả, chẳng có thật; ảnh = hình. Ảo-ảnh là hình giả, mắt nom thấy nhưng chẳng có vật thật; tựa như bóng soi trên mặt nước.

 

- Khả-quan: Khả = có thể; quan = xem. Kết quả khả-quan là có kết-quả tốt, xem được lắm.

 

- Tàn cây: thân cây có nhành lá, có bóng mát.

 

- Thực-thể: thực = thật; thể = bản-thể. Chẳng có thực-thể, có nghĩa là, tuy có đó, nhưng do sự kết-hợp tạm thời của n hững chất khác; hễ các chất nầy rời nhau ra, thì thân tiêu mất, chẳng còn gì. Nếu có thực-thể thì thực-thể còn tồn-tại được một mình; chỗ tồn-tại độc-lập đó là bản-thể.

 

- Thể không: thể = bản-thể; vốn là; Không = rỗng-rang, chẳng chứa đựng gì. Thể không rất khó định-nghĩa; thường nghe dạy: muôn vật đều thể không, có nghĩa là muôn vật đều rỗng-rang, chẳng có thực-thể.

 

- Mủi tên hoa: tên hoa = trên mũi tên nhọn có vẽ bông hoa, tượng-trưng sự cám-dỗ. Bài Kệ gọi đó là sự cám-dỗ là Ma; còn gọi là Ma-quân.

 

- Thần Chết hết chỗ tìm: có nghĩa là người ấy chẳng còn tái-sanh nữa nên chẳng chết. Tu đến mức chứng được vô-sanh là chứng-đắc cảnh Niết-bàn an-vui và thường-còn mãi mãi. Vì thế Thần Chết bắt chẳng được.

 

B. Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, được tóm gọn trong tựa-đề: một vị Tỳ-kheo biết quán thân như ảo-ảnh, nghĩa là xem thân nầy giả-tạm, chẳng thường-còn. Người quán được như thế, rời bỏ các thú-vui vật-chất cám-dỗ, tu chứng được cảnh vô-sanh của Niết-bàn.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 046:

 

Bài Kệ có bốn câu, mỗi câu chứa một ý-nghĩa quan-trọng trong giáo-lý nhà Phật. Xin phân-tách vắn-tắt:

 

1. Nhìn thân, biết vô-thường bọt nước: đây là phép quán thân vô-thường. Biết thân nầy giả-tạm, do tứ-đại ( = bốn chất: đất, nước, gió, lửa) kết-hợp tạm-thời mà có, chẳng bền-vững, như bong-bóng nước chẳng mấy chốc mà vỡ đi.

 

2. Trông ảo-ảnh, thông được thể KHÔNG: đây là phép quán các sự-vật hữu-vi đều có thể Không rỗng-rang. Sự-vật hữu-vi là những sự-vật do sự tạo-tác mà có, chịu ảnh-hưởng của sự đổi-thay (bị điều-kiện-hoá), bên trong chẳng có thực-chất, nên được gọi là chẳng có thực-thể, hay là, bản-thể là Không. Biết được thể Không của mọi vật ở thế-gian, mới đi tìm chỗ thường-còn, chơn-thật, bền-vững là cõi xuất-thế của Niết-bàn.

 

3. Nhổ mũi tên hao Ma cám-dỗ: mũi tên hoa tượng-trưng cho sự cám-dỗ của các thú-vui vật-chất (thú-vui vật-chất thường được gọi bằng danh-từ chuyên-môn trong Phật-học là các dục-lạc; dục = ham muốn; lạc = thú-vui) Gọi là mũi tên có tẩm thuốc độc vì khi bắn vào người sẽ gây ra chết-chóc; mũi tên có vẽ hoa, trông đẹp, nên có sức cám-dỗ. Người biết nhổ mũi tên hoa là người biết bỏ qua các thú-vui vật-chất, chẳng chạy theo sự cám-dỗ, chọn con đường tu-hành, tự khép mình trong kỷ-luật của ngũ giới ( = năm điều răn-cấm của người tu tại-gia) và thực-hành mười điều thiện (xin xem lại Thập Thiện ở trang 100).

 

4. Người nầy Thần Chết hết chỗ tìm: thi-hành đúng ba điều kể trên trong ba câu Kệ trước, thì đạt được kết-quả là chứng được cảnh vô-sanh. Vô-sanh có nghĩa là chẳng tái-sanh nữa, mà chẳng tái-sanh thì chẳng chết, sống mãi mãi trong cõi an-klạc, thường-hằng của cảnh-giới Niết-bàn. Câu chót nầy nói đến kết-quả của sự tu-hành viên-mãn.

 

Tóm lại, bài Kệ nầy dạy ta phép quán thân như ảo-ảnh, như bọt nước, biết tránh sự cán-dỗ của dục-lạc, khép mình trong giới-luật tu-hành, sẽ tránh được vĩnh-viễn cảnh đau-khổ triền-miên của sanh-tử Luân-hồi và chứng được Niết-bàn an-lạc.

 

Học-tập

 

1. Học thuộc lòng bài Kệ, để ghi nhớ hai điều căn-bản trong giáo-lý: Vô-thường, thể Không.

 

2, Thực-tập về quán Vô-thường: xin đề-nghị vài việc nho-nhỏ để nhận-xét về lẽ Vô-thường của mọi vật hữu-vi:

 

- thay bó hoa tươi trên bàn Phật: mỗi khi thay hoa, nên lẩm-bẩm trong đầu, đời người rồi cũng chóng hết như hoa sớm nở tối tàn!

 

- khi uống trà hay cà-phê: nhìn vào bọt nước ở ly, tách, để nửa phút suy-gẫm về sự nhanh-chóng của bọt nước, chẳng mấy chốc rồi bể đi; đời người, các thú-vui vật-chất cũng chóng tàn như thế.

 

3. Nhổ mũi tên hoa: trong buổi tiếp-tân: nếu có thể, thay vì nhận một ly rượu, xin đổi lấy ly nước trái cây; và ngẫm-nghĩ: đây là ta đang tìm cách nhổ mũi tên hoa của Ma cám-dỗ, Ma đó là ... ma men!

The Story of the Bhikkhu who Contemplates the Body as a Mirage

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (46) of this book, with reference to a certain bhikkhu.

On one occasion, a certain bhikkhu, after taking a subject of meditation from the Buddha, went to the forest. Although he tried hard he made little progress in his meditation; so he decided to go back to the Buddha for further instruction. On his way back he saw a mirage, which, after all, was only an illusive appearance of a sheet of water. At that instant, he came to realize that the body also was insubstantial like a mirage. Thus keeping his mind on the insubstantiality of the body he came to the bank of the river Aciravati. While sitting under a tree close to the river, seeing big froths breaking up, he realized the impermanent nature of the body.

Soon, the Buddha appeared in his vision and said to him, "My son, just as you have realized, this body is impermanent like froth and insubstantial like a mirage."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 46: One who knows that this body is impermanent like froth, and comprehends that it is insubstantial like a mirage will cut the flowers of Mara (i.e., the three kinds of vatta or rounds), and pass out of sight of the King of Death.


At the end of the discourse the bhikkhu attained arahatship.

Dhammapada Verse 46
Maricikammatthanika bhikkhu Vatthu

Phepnupamam1 kayamimam viditva
maricidhammamabhisambudhano
chetvana marassa papupphakani
3
adassanam maccurajassa gacche4

Verse 46: One who knows that this body is impermanent like froth, and comprehends that it is insubstantial like a mirage, will cut the flowers of Mara (i.e., the three kinds of vatta or rounds), and pass out of sight of the King of Death.


1. Phepnupamam: like froth; it means that this body is perishable and impermanent like froth.

2. maricidhammam: lit., mirage + nature; nature of a mirage, i. e., insubstantial like a mirage.

3. marassa papupphakani: flowers or flower-tipped arrows of Mara. These flowers or arrows of Mara represent the tivattam or the three kinds of vattam (rounds), viz., kilesavattam ( the round of moral defilements), kammavattam (the round of volitional action) and vipakavattam (the round of resultant effects). According to the Commentary, this chain or round is broken when cut by the sword of ariya magga nana.

4. adassanam maccurajassa gacche: In this context, out of sight of the King of Death means the realization of Nibbana.


dhp047_B
Verse-Kệ 047

(35) -  Tích chuyện vua Tỳ-lưu-ly - Kệ số 047

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng pháp, có đề-cập đến Vua Tỳ-lưu-ly tàn-sát dòng họ Thích-ca.

 

Thuở ấy, vua Ba-tư-nặc của nước Câu-tát-la, muốn cưới một công-chúa dòng Thích-ca làm hoàng-hậu, mới gởi sứ-giả đến thành Ca-tỳ-la-vệ để cầu-hôn. Vua Đại-dnh dòng Thích-ca mới chọn trong hàng con mình một nàng công-chúa rất đẹp, vốn do một người cung-nữ nô-lệ sanh ra. Vua Ba-tư-nặc phong làm Hoàng-hậu, sanh ra Thái-tử Tỳ-lưu-ly. Khi Thái-tử đúng mười sáu tuổi, về thăm quê mẹ ở Ca-tỳ-la-vệ, các vị hoàng-tử dòng Thích-ca đều bỏ đi săn, để khỏi đón tiếp một người vốn thuộc dòng ti-tiện. Nhưng Thái-tử Tỳ-lưu-ly vẫn được tiếp-đãi nồng-hậu nơi hoàng-cung. Sau cuộc viếng thăm, Thái-tử Tỳ-lưu-ly ra về; trong bọn tùy-tùng có người bỏ quên đồ-vật, trở lại lấy. Bấy giờ có người đầy-tớ gái trong cung đang chùi rửa cáci ghế Thái-tử đã ngồi, vừa chùi vừa lẩm-bẩm: "Ghế nầy ô-uế đi vì đứa cháu của kẻ nô-lệ đã ngồi lên." Người tùy-tùng lấy làm lạ, mới hỏi tại sao, người đầy-tớ thuật lại nguồn-gốc, dòng-dõi bên ngoại của Thái-tử Tỳ-lưu-ly. Bà ngoại của Thái-tử là một người nô-lệ, được vua Đại-danh thương, nên mới sanh ra công-chúa, mẹ của Thái-tử. Chuyện được dấu kín trong thời-gian Thái-tử viếng thăm. Nào ngờ, người tùy-tùng thuật lại hết cho Thái-tử nghe. Tỳ-lưu-ly nổi giận, nguyện sẽ báo mối thù nầy.

 

Tỳ-lưu-ly là kẻ bạo-ngược, đuổi vua cha phải chạy sang nước Ma-kiệt-đà, cướp ngôi, cầm quân sang đánh thành Ca-tỳ-la-vệ. Biết bao nhiêu người trong dòng họ Thích-ca bị giết chết. Ngài A-nan khóc-lóc xin nhờ Đức Phật cứu cho, nhưng Đức Phật bảo, đó là quả-báo của dòng họ Thích-ca phải gánh chịu, vì trong một tiền-kiếp, họ đã bỏ thuốc độc vào một hồ nước, giết hết loài cá trong hồ; nay cá ấy tái-sanh ở nước Câu-tát-la, đến báo oán.

 

Trên đường trở về nước, quân-đội của Vua Tỳ-lưu-ly đóng đại-dinh bên bờ sông, an giấc. Nửa đêm, nước lụt to lớn tràn ngập khắp nơi, cuốn tất cả mọi người trôi ra biển, chết hết.

 

Khi nghe kể lại việc nầy, Đức Phật đọc lên bài Kệ sau đây:

 

Người mải-mê hái hoa dục-lạc,

Bị Tử-thần đến bắt mang đi;

Như cơn lụt lớn, khác gì,

Cuốn phăng làng xóm ngủ khì, say mê.

(Kệ số 047.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Tỳ-lưu-ly: tên thật vua nầy bằng tiếng Pali là Vitatùbha.

 

- Ba-tư-nặc: tên thật vua nầy bằng tiếng Pali là Pasenadi, tiếng Phạn là Prasenajit. Vua Ba-tư-nặc là một Phật-tử thuần-thành, thường đến thưa hỏi Đức Phật về giáo-pháp.

 

- Câu-tát-la: tên thật nước nầy bằng tiếng Pali là Kosala.

 

- Ca-tỳ-la-vệ: tên thật thành nầy bằng tiếng Pali là Kapilavatthu.

 

- Thích-ca: tên thật của dòng-họ nầy bằng tiếng Pali là Sakya.

 

- Đại-danh: tên thật của vua nầy bằng tiếng Pali là Mahànàma.

 

- Ma-kiệt-đà: tên thật nước nầy bằng tiếng Pali là Magadha.

 

- Tàn-sát: tàn = tàn-bạo; sát = sát-hại, giết chết.

 

- Cầu hôn: xin cưới.

 

- Nô-lệ: nô = đầy-tớ; lệ = lệ-thuộc. Nô-lệ là người đầy-tớ, thân-thể thuộc về chủ, chủ có quyền sinh-sát được.

 

- Ô-uế: dơ-bẩn.

 

- Đại-dinh: đại = lớn; dinh = doanh trại, chỗ đóng quân.

 

- Hoa dục-lạc: hoa = bông hoa; dục = ham muốn; lạc = vui. Thú-vui vật-chất về thể-xác, trong Phật-học gọi là dục-lạc. Bảo đó là hoa, vì dục-lạc hay cám-dỗ, làm người vui-thích và mê-đắm.

 

- Tử-thần: thần Chết.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc báo-thù của vua Tỳ-lưu-ly đã tàn-sát dòng-họ Thích-ca. Ý-nghĩa quan-trọng là Luật Nhơn-Quả báo-ứng: dòng-họ Thích-ca trong tiền-kiếp đã giết chết hết loài cá trong hồ bằng thuốc độc, trong kiếp nầy phải chịu cảnh tàn-sát. Vua Tỳ-lưu-ly giết-hại người trong họ Thích-ca, phải chịu quả-báo hiện-tiền ( = ngay trước mắt) là bị nước lụt cuốn chết trôi ngoài biển, ngay trong đêm sau trận tàn-sát.

 

(2).- Ý-nghĩa của bài Kệ số 047:

 

Trong bài Kệ, Đức Phật chỉ nhơn việc vua Tỳ-lưu-ly và quân lính đang ngủ mê, bị lũ-lụt cuốn trôi trong đêm, mà so-sánh với việc người ham chạy theo thú vui vật-chất, chẳng dè Thần Chết rình sẵn bắt đi, vào lúc mình chẳng ngờ. Ý-nghĩa quan-trọng của bài Kệ là đừng tham-đắm dục-lạc, phải lo tu-hành, vì mình chẳng biết được lúc nào mình sẽ chết. Nếu chẳng tu-hành để giải-thoát, sẽ phải trôi lăn mãi trong vòng khổ-đau của sanh-tử Luân-hồi.

 

Tại sao Đức Phật lại chẳng dùng thần-thông cứu-giúp dòng-họ mình tránh khỏi cuộc tàn-sát? Chẳng phải Đức Phật đã vô-tình với họ-hàng, đó là vì luật quả-báo khi báo-ứng chẳng vì-nể ai, chẳng tư-vị ai, hễ đã làm ác thì phải chịu điều khổ-sở. Chẳng có nơi nào trên thế-gian nầy mà ta trốn được quả-báo cả.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, để tự khuyên-răn lấy mình mỗi khi thấy bị thú-vui cám-dỗ.

 

2.- Ghi nhớ Tích chuyện, để tự-trách mình mỗi khi có ý-định muốn làm hại ai, hay trả thù ai.

 

3.- Hãy xem lại các Tích chuyện số (1), (2), (3), (4), và các bài Kệ liên-hệ đến việc thù-oán. Nhớ rằng: ôm việc thù-oán trong lòng là tự hại mình trước, vì lòng mình chẳng được nhẹ-nhàng, thanh-thản.

 

4.-Về các thú-vui giải-trí, sau những giờ làm việc nhọc-mệt, xin đề-nghị thử xét lại để tránh các "dục-lạc" thông-thường sau đây:

 

- hút thuốc lá, nhai kẹo, tán gẫu với bè-bạn;

 

- chơi bài tứ-sắc, xoa mạt-chược;

 

- rủ nhau vào quán rượu nhâm-nhi, sau giờ làm việc.

The Story of Vitatubha

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (47) of this book, with reference to Vitatubha, son of King Pasenadi of Kosala.

King Pasenadi of Kosala, wishing to marry into the clan of the Sakyans, sent some emissaries to Kapilavatthu with a request for the hand of one of the Sakyan princesses. Not wishing to offend King Pasenadi, the Sakyan princes replied that they would comply with his request, but instead of a Sakyan princess they sent a very beautiful girl born of King Mahanama and a slave woman. King Pasenadi made that girl one of his chief queens and subsequently she gave birth to a son. This son was named Vitatubha. When the prince was sixteen years old, he was sent on a visit to King Mahanama and the Sakyan princes. There he was received with some hospitality but all the Sakyan princes who were younger than Vitatubha had been sent away to a village, so that they would not have to pay respect to Vitatubha. After staying a few days in Kapilavatthu, Vitatubha and his company left for home. Soon after they left, a slave girl was washing with milk the place where Vitatubha had sat; she was also cursing him, shouting, "This is the place where that son of a slave woman had sat". At that moment, a member of Vitatubha's entourage returned to fetch something which he had left at the place and heard what the slave girl said. The slave girl also told him that Vitatubha's mother, Vasabhakhattiya, was the daughter of a slave girl belonging to Mahanama.


When Vitatubha was told about the above incident, he became wild with rage and declared that one day he would wipe out the whole clan of the Sakyans. True to his word, when Vitatubha became king, he marched on the Sakyan clan and massacred them all, with the exception of a few who were with Mahanama and some others. On their way home, Vitatubha and his army encamped on the sandbank in the river Aciravati. As heavy rain fell in the upper parts of the country on that very night, the river swelled and rushed down with great force carrying away Vitatubha and his army into the ocean.


On hearing about these two tragic incidents, the Buddha explained to the bhikkhus that his relatives, the Sakyan princes, had in one of their previous existences, put poison into the river killing the fishes. It was as a result of that particular action that the Sakyan princes had to die en masse. Then, referring to the incident about Vitatubha and his army, the Buddha said, "As a great flood sweeps away all the villagers in a sleeping village, so also, Death carries away all the creatures hankering after sensual pleasures."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 47: Like one who picks and chooses flowers, a man who has his mind attached to sensual pleasures is carried away by Death, just as a great flood sweeps away a sleeping village.

Dhammapada Verse 47
Vitatubha Vatthu

Pupphani heva pacinantam
byasattamanasam naram
suttam gamam mahoghova
maccu adaya gacchati.

Verse 47: Like one who picks and chooses flowers, a man who has his mind attached to sensual pleasures is carried away by Death, just as a great flood sweeps away a sleeping village.


dhp048_B
Verse-Kệ 048

(36).-  Tích chuyện bà Khưu-ma-ly - Kệ số 048

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến bà Khưu-ma-Ly, một người tín-nữ được sanh lên cõi Trời.

 

Thuở ấy ở nước Xá-vệ có bà Khưu-ma-Ly, cố chồng từ năm mười sáu tuổi và sanh được bốn người con trai. Bà là một Phật-tử thuần-thành, hằng ngày thường dâng-cúng thực-phẩm cho các vị Tăng-ni đi khất-thực. Bà thường đến chùa nghe giảng pháp, quét dọn quanh chùa, gánh nước đổ đầy vào lu và làm các công-quả khác. Bà Khưu lại có được khả-năng nhớ được tiền-kiếp của bà, trước ở cung Trời Đao-Lợi, làm vợ của vị Thiên-nam tên là Tràng Hoa. Bà nhớ rõ, thuở ấy, bà và các người bạn đang cùng nhau hái hoa và vui-đùa trong vườn hoa, bỗng bà qua đời và tái-sanh xuống cõi nhơn-gian. Cho nên, ngày nay, mỗi khi cúng-dường chư Tăng-ni, bà thường cầu-nguyện được tái-sanh trở lại cõi Trời để gặp lại người chồng cũ và các bạn-bè ở đấy.

 

Một hôm, vào buổi sáng, bà Khưu bị bịnh nhẹ, đến buổi chiều thì chết. Đúng như lời nguyện, bà Khưu được tái-sanh lên cõi Trời Đao-lợi và gặp lại ngay vị Thiên-nam Tràng Hoa, bấy giờ còn đang ngoạn cảnh trong vườn hoa với các bạn gái của bà. Vì một trăm năm dưới cõi trần chỉ bằng một ngày trên Thiên-giới, nên các người bạn và vị Thiên-nam, mới hỏi bà Khưu, tự nẩy giờ, bà đi đâu vắng mặt chẳng thấy. Bà Khưu thuật lại thời-gian ở cõi người, có gia-đình con cái và được nghe Đức Phật giảng pháp như thế nào cho các thiên-nữ cùng chồng nghe.

 

Bấy giờ, ở thế-gian, các vị Tỳ-kheo rất đau buồn khi hay tin bà Khưu đã lià cõi trần, và đem chuyện bà Khưu trình với Phật. Đức Phật cho biết nơi tái-sanh của bà Khưu là cõi Trời Đao-lợi, đồng thời chỉ-dạy các vị tỳ-kheo rằng, đời người rất ngắn-ngủi, chưa kịp hưởng cho thoả-mãn các thú-vui vật-chất, đã phải chết đi. Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người mải-mê hái hoa dục-lạc,

Chưa thỏa lòng thèm-khát ước-mong,

Đà trông thấy kià ông Thần Chết

Nắm cổ lôi đi, hết một đời.

(Kệ số 048.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Khưu-ma-Ly: tên thật bằng tiếng Pali rất dài, Patipùjika Kumàrì.

 

- Tín-nữ: tín = tin-tưởng; nữ = phụ-nữ, đàn-bà, cô gái. Chữ tín-nữ, trong Phật-học, chỉ vào người phụ-nữ tu tại-gia, giữ năm giới, thường vào chùa làm công-quả( = giúp việc thí-công trong chùa). Danh-từ chuyên-môn là ưu-bà-di (Upasikà), còn gọi là cận-sự-nữ. Về phiá đàn-ông, là ưu-bà-tắc (Upasakà), hay là cận-sự-nam.

 

- Thuần-thành: rất có nhiệt-tâm, tin tưởng vào ngôi Tam-Bảo, thi-hành đúng các bổn-phận của người tu tại-gia.

 

- Công-quả: công = công-đức; quả = kết-quả, trái (cây). Danh-từ nhà chùa, có nghĩa là vào chùa giúp việc lặt-vặt, bếp-núc; được tin-tưởng là nhờ đó mà được công-đức lành về sau.

 

- Thiên-nam: Thiên = Trời; nam = đàn-ông. Một vị Trời phái nam, còn phái nữ gọi là thiên-nữ.

 

- Tràng Hoa: tên thật bằng tiếng Pali là Màlabhàri.

 

- Nhơn-gian: nhơn = người; gian = khoảng, cõi, giới, xứ. Cõi nhơn-gian là cõi người.

 

- Cõi Trời Đao-lợi: tên cõi Trời nầy bằng tiếng Pali là Tàvatimsa.

 

- Ngoạn cảnh: xem cảnh, ngắm hoa trong vườn.

 

- Mải-mê: đang mê vào việc đó, chẳng để ý gì đến việc khác.

 

- Dục-lạc: dục = ham muốn; lạc = vui. Trong Phật-học, chữ dục-lạc trỏ vào các thú vui vật-chất, để thoả-mãn các giác-quan, nên thấp-kém so với các thú vui tinh-thần, hướng-thượng, cao hơn.

 

- Đà = đã; vừa thấy ngay đó liền.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1).- Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc một vị thiên-nữ ở cung Trời Đao-lợi tái-sanh xuống cõi nhơn-gian, làm Phật-tử thuần-thành, có gia-đình và bốn con. Nhờ nhớ lại tiền-kiếp, bà Khưu đến chùa làm công-quả, cúng-dường chư Tăng-ni, nghe giảng-pháp. Bà cầu-nguyện được tái-sanh trở lên cung Trời, tái-hợp lại với chồng cũ là một vị Thiên-nam.

 

Ý-nghĩa quan-trọng trong Tích chuyện là cái chết đến bất-ngờ, như đang hái hoa vui đùa mà phải chết; vì thế cho nên trong lúc sống, đừng chạy theo dục-lạc, mà phải tinh-tấn tu-hành theo Chánh-pháp.

 

(2).- Ý-nghĩa của bài Kệ số 048:

 

Cũng như bài Kệ số 047, bài kệ số 048 cảnh-cáo ta, nên biết cái chết sẽ đến bất-ngờ, đừng " mải-mê hái hoa dục-lạc", mà phải lo tu-tập để được giác-ngộ và giải-thoát.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ số 048: ý-nghĩa cũng giống như bài trước, nên dễ thuộc.

 

2.- Thời-gian rất tương-đối: Theo Tích chuyện, thời-gian ở dưới trần-gian một năm chỉ bằng một ngày trên cõi Trời. Theo kinh-kệ Phật-học, ở các cõi Trời khác, thời-gian còn lâu hơn nữa. Chúng ta chẳng thể nào kiểm-chứng lại được, vì còn phải sống ở cõi trần-gian. Ngay tại trần-gian nầy, thời-gian cũng chẳng giống nhau: ở Montreal 8 giờ sáng thì ở Sài-gòn là 8 giờ tối. Vậy, ta chớ nên cho rằng Tích chuyện nói sai sự-thật về thời-gian: khi mình chưa biết, chưa thấy, mình chẳng có quyền nói điều đó sai hay đúng; thái-độ đứng-đắn là chỉ nghe biết mà chẳng nên phê-bình đúng hay sai.

 

3.- "Chẳng mải-mê hái hoa dục-lạc" bằng cách nào? Tại sao ta lại chạy theo thú-vui vật-chất? Vì các thú-vui nầy làm thoả-mãn sự đòi-hỏi của các giác-quan ta, như mắt muốn xem tuồng cải-lương, như tai muốn nghe ca Vọng-cổ, v.v. Biết kềm-chế các giác-quan, là chẳng mải-mê chạy theo hái hoa dục-lạc đó.

The Story of Patipujika Kumari

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (48) of this book, with reference to Patipujika Kumari.

Patipujika Kumari was a lady from Savatthi. She married at the age of sixteen and had four sons. She was a virtuous as well as a generous lady, who loved to make offerings of food and other requisites to the bhikkhus. She would often go to the monastery and clean up the premises, fill the pots and jars with water and perform other services. Patipujika also possessed Jatissara Knowledge through which she remembered that in her previous existence she was one of the numerous wives of Malabhari, in the deva world of Tavatimsa. She also remembered that she had passed away from there when all of them were out in the garden enjoying themselves, plucking and picking flowers. So, every time she made offerings to the bhikkhus or performed any other meritorious act, she would pray that she might be reborn in the Tavatimsa realm as a wife of Malabhari, her previous husband.

One day, Patipujika fell ill and passed away that same evening. As she had so ardently wished, she was reborn in Tavatimsa deva world as a wife of Malabhari. As one hundred years in the human world is equivalent to just one day in Tavatimsa world, Malabhari and his other wives were still in the garden enjoying themselves and Patipujika was barely missed by them. So, when she rejoined them, Malabhari asked her where she had been the whole morning. She then told him about her passing away from Tavatimsa, her rebirth in the human world, her marriage to a man and also about how she had given birth to four sons, her passing away from there and finally her return to Tavatimsa.

When the bhikkhus learned about the death of Patipujika, they were stricken with grief. They went to the Buddha and reported that Patipujika, who was offering alms-food to them early in the morning, had passed away in the evening. To them the Buddha replied that the life of beings was very brief; and that before they could hardly be satiated in their sensual pleasures, they were overpowered by Death.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 48: Like one who picks and chooses flowers, a man who has his mind attached to sensual pleasures and is insatiate in them is over powered by Death.

Dhammapada Verse 48
Patipujikakumari Vatthu

Pupphani heva pacinantam
bysssasattamanasam naram
atittanneva kamesu
antako kurute vasam.

Verse 48: Like one who picks and chooses flowers, a man who has his mind attached to sensual pleasures and is insatiate in them is over powered by Death.


dhp049_B
Verse-Kệ 049

(37).- Tích chuyện ông Cơ-sĩ-gia, kẻ giàu-có mà rít-róng - Kệ số 049

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng pháp, có đề-cập đến ông Cơ-sĩ-gia là một kẻ giàu-có nhưng rất bỏn-xẻn (rít-róng).

 

Thuở ấy tại làng Sắc-kha-ra, gần Vương-xá-thành, có một người rất giàu-có, nhưng tâm-tánh rất hà-tiện, chẳng hề chịu bố-thí, dầu là một vật thật nhỏ-nhít trong số của-cải của ông ta. Một hôm, vợ chồng ông ta muốn ăn bánh rế, bánh cay, mới đem chảo dầu lên từng thượng trên lầu để chiên bánh, chẳng muốn cho ai trong nhà trông thấy để xin chia phần.

 

Sáng sớm hôm ấy, Đức Phật, trong cơn thiền-định, quán thấy vợ chồng ông Cơ-sĩ-gia có được cơ-duyên sắp chứng-đắc đạo-quả Tu-đà-huờn. Đức Phật liền sai vị đại-đệ-tử là Ngài Đại-Mục-kiền-liên đi đến nhà của ông Cơ-sĩ-gia và đưa hai vợ chồng người nầy đến tịnh-xá Kỳ-viên, vào đúng lúc chư Tăng sắp thọ ngọ-trai.

 

Ngài Mục-kiền-liên dùng thần-thông bay đến làng Sắc-kha-ra, đứng lơ-lửng trên không, trước cửa sổ, nơi hai vợ chồng Cơ-sĩ-gia đang lén-lút chiên bánh. Ông Cơ-sĩ-gia nom thấy, mới bảo Ngài Mục-kiền-liên đi chỗ khác, nhưng vị đại-đệ-tử vẫn đứng yên, im-lặng, chẳng nói lời nào. Một lúc sau, Cơ-sĩ-gia sốt ruột và tức tức trong bụng, mới bảo vợ: "Thôi, Bà hãy lấy một chút-xíu bột, chiên một cái bánh thật nhỏ, đem thí cho hắn đi đâu thì đi cho rảnh!"Bà vợ nghe lời, vít chút bột bỏ vào chảo chiên, nhưng lạ thay, cái bánh phồng to lên chiếm cả mặt chảo. Cơ-sĩ-gia nghĩ rằng vợ mình đã lấy nhiều bột quá, nên chính tay vít một chút-tẻo bột bỏ vào chảo chiên. Lạ thay, bánh cũng phồng to lên và chiếm cả mặt chảo như cái bánh trước. Mấy lần chiên như thế, cũng chẳng có được cái bánh nhỏ nào cả, Cơ-sĩ-gia mới bảo vợ, lựa trong rổ xem có cái nào nhỏ nhứt, lấy đem cho. Người vợ nghe lời, bốc lấy một cái, nhưng lạ thay, tất cả các bánh chiên sẵn đều dính chặt vào nhau, chẳng cách nào gỡ ra lấy riêng một cái được. Hì-hục một chặp mà chẳng lấy được cái bánh nào, Cơ-sĩ-gia cảm thấy hết thèm ăn bánh nữa, mới bưng cả rổ bánh trao cho Ngài Mục-kiền-liên. Lúc ấy, Ngài Mục-kiền-liên mới dùng lời hoà-nhã khuyến-dạy hai vợ chồng Cơ-sĩ-gia về hạnh bố-thí và mời cả hai đến chùa Kỳ-viên, gặp Phật và chư Tăng còn đang đợi họ đến thọ-trai. Làng Sắc-kha-ra cách chùa Kỳ-viên hơn bốn mươi lăm do-tuần, nhưng với sức thần-thông của Ngài Mục-kiền-liên, cả hai vợ chồng Cơ-sĩ-gia, tay bưng rổ bánh, chẳng mấy chốc đến nơi, đem dưng rổ bánh cúng-dường Đức Phật và chư Tăng. Bấy giờ, Đức Phật, sau buổi ngọ-trai, mới giảng về hạnh bố-thí; Cơ-sĩ-gia và vợ nghe lời Phật dạy, thấu-hiểu được Chánh-pháp, mới chứng-đắc quả-vị Tu-đà-huờn.

 

Buổi chiều hôm ấy, khi các vị Tỳ-kheo khen ngợi Tôn-giả Mục-kiền-liên đã cảm-hoá được vợ chồng Cơ-sĩ-gia bỏ được thói rít-róng, Đức Phật mới bảo chư Tăng rằng: "Này các vị tỳ-kheo, các ông nên học theo tư-cách của Mục-kiền-liên, mỗi khi đi vào làng để khất-thực: nhận của bố-thí mà chẳng hề làm giảm mất sự tin-tưởng, sự rộng-luợng cùng tài-sản của người thí-giả."

 

Bấy giờ, Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Ong đến bên hoa, tìm hút nhụy,

Chẳng làm phai một tí sắc hương.

Y nhu thế, trên đường khất-thực,

Tỳ-kheo tỉnh-giác bước vào làng.

(Kệ số 049.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

Các tên được Việt-hoá cho dễ đọc:

 

- Cơ-sĩ-gia: tên thật người nầy bằng tiếng Pali là Kosiya.

 

- Sắc-kha-ra: tên thật làng nầy bằng tiếng Pali là Sakkàra.

 

- Đại Mục-kiền-liên: tên thật của Tôn-giả bằng tiếng Pali là Mahà Moggallàna.

 

- Rít-róng: cùng một nghĩa với các tiếng hà-tiện, bỏn-xẻn, kẹo, keo-kiệt.

 

- Bánh rế, bánh cay: loại bánh bằng bột, chiên dòn, thường được người Ấn-độ ưa dùng, trông giống như bánh còng, bánh cam của ta.

 

- Từng thượng: từng lầu cao nhứt trong nhà.

 

- Ngọ-trai: Ngọ = đúng trưa, mười hai giờ trưa; trai: ăn chay. Ngọ-trai là bữa ăn trưa; các tu-sĩ theo Phật-giáo nguyên-thủy mỗi ngày chỉ ăn một bữa vào buổi trưa mà thôi.

 

- Hoà-nhã: Hoà = hiền-hoà; nhã = nhã-nhặn. Lời nói hiền-từ và êm-dịu, dễ nghe.

 

- Hạnh bố-thí: Hạnh = hành, hành-động; bố-thí = đem của-cải, công-sức, lời nói ra hiến-tặng ai. Hạnh bố-thí tạo nên phước lành cho người bố-thí. Hạnh nầy đứng đầu trong sáu pháp Ba-la-mật của Bồ-tát-đạo. Hạnh nầy giúp người tu-hành dứt bỏ được mối độc to lớn là xẻn-tham, trong ba mối độc tham, sân, si.

 

- Thọ-trai: ăn chay.

 

- Do-tuần: phiên-âm chữ Phạn là yojana, ước chừng một cây-số.

 

- Cảm-hoá: Cảm = cảm-động; hoá = chuyển đổi. Cảm-hoá là khiến cho người nghe biết bỏ chỗ sai mà theo điều đúng.

 

- Khất-thực: Khất = đi xin; thực = ăn. Khất-thực là hạnh tu của Đức Phật đặt ra, buộc mọi tỳ-kheo phải đi xin ăn, chẳng được làm nghề nào khác để sanh-sống. Hạnh nầy có mục-đích diệt lòng kiêu-hảnh nơi người tu-sĩ, phải cúi mình nhận của bố-thí của kẻ khác mà sống; đây cũng là dịp để các tu-sĩ gặp-gỡ người thường để khuyên-dạy về sự tu-hành cho họ.

 

- Tỉnh-giác: Tỉnh = thức-tỉnh, chẳng mê, tỉnh-táo; giác = biết. Người tỉnh-giác luôn luôn giữ chánh-niệm trong tâm, nói gì, làm gì, nghĩ gì, cũng biết mình đang nói, đang làm, đang nghĩ điều chánh-đáng. Trái với sự tỉnh-giác là thói buông-lung, mê-mờ, phóng-dật, chẳng biết kềm-thúc các giác-quan, chẳng biết chấn-chỉnh các vọng-tưởng.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1).- Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc hai vợ chồng ông Cơ-sĩ-gia giàu mà rít-róng, muốn ăn bánh mà chẳng muốn mời ai, nên trốn lên lầu cao chiên bánh. Tôn-giả Mục-kiền-liên với sự kiên-nhẫn và thái-độ hiền-hoà đã cảm-hoá được họ, đưa họ đến gặp Đức Phật nghe thuyết-pháp mà chứng được quả-vị thứ nhứt là Tu-đà-huờn. Tích chuyện đã khéo mô-tả sự rít-rít-róng của vợ chồng Cơ-sĩ-gia: rứt lấy một cái bánh nhỏ trong rổ chẳng được, bánh dính chặt nhau trong rỗ, cũng như tiền-bạc cất trong bóp chẳng chịu móc ra một ít để đem bố-thí vậy! Người ta thường nói: "Đồng tiền dính liền khúc ruột!" đâu đành lòng rứt ra để tặng ai!

 

Trong Tích chuyện có nói đến sự thần-thông của Tôn-giả Mục-kiền-liên, ngày nay ta chẳng chứng-kiến được, thấy để mà tin theo, nhưng điều đó chẳng quan-trọng mấy; chỗ quan-trọng cần hiểu rõ là sự kiên-nhẫn của Tôn-giả, đứng im chờ được bố-thí, kiên-nhẫn đến mức cảm-hoá được cả hai vợ-chồng giàu mà kẹo nầy. Đọc Kinh-Sách Phật, ta chớ nên chú-trọng quá đến các phép lạ, mà nên cố tìm hiểu nghĩa sâu-kín ẩn trong lời kinh. Ở đây, nghĩa sâu-kín đó chính là sự keo-kiệt cần phải dẹp bỏ, để mau được giác-ngộ và giải-thoát.

 

(2).- Ý-nghĩa của bài Kệ số 049:

 

Bài Kệ nầy so-sánh thái-độ của vị tỳ-kheo đi khất-thực với cảnh con ong bay đến bên hoa, chỉ để hút nhụy mà chẳng làm phai một tí sắc hương của hoa. Thái-độ đó như thế nào? Đó là phải tỉnh-giác, nghĩa là chẳng bao giờ đánh mất chánh-niệm, luôn luôn tỉnh-táo, kiên-nhẫn, điềm-đạm chờ nhận sự bố-thí, mà chẳng làm giảm mất sự tín-tâm, sự rộng-rãi hay tài-sản của người thí-giả ( = người cho). Ong đến hút nhụy nơi hoa, cũng như vị tỳ-kheo đến với người thí-giả, giúp cho người nầy dẹp bỏ sự rít-róng, tạo được cho tâm mình sự vô-tham, chẳng luyến-tiếc của-cải, để có cơ-hội về sau được giải-thoát ra khỏi cảnh khổ của kiếp Luân-hồi.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ: tuy bài Kệ nói về việc các tỳ-kheo đi khất-thực, nhưng người tu tại-gia cũng có dịp ứng-dụng trong việc tu-hành của mình, khi tình-nguyện đi xin tiền giúp cho các cơ-quan từ-thiện. Trong công-tác nầy, cần phải nhẫn-nhục, mềm-mỏng.

 

2.- Trong các cuộc lạc-quyên, mình có bao nhiêu, tùy sức mình mà giúp, chẳng nên vì danh mà cho thật nhiều, chẳng nên tủi thân vì mình chẳng sẵn tiền bạc dư. Của ít, lòng nhiều, tâm thành mới quí.

The Story of Kosiya, the Miserly Rich Man

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (49) of this book, with reference to the Chief Disciple Maha Moggallana and the miserly rich man, Kosiya.

In the village of Sakkara, near Rajagaha, there lived a miserly rich man by the name of Kosiya, who was very reluctant to give away even the tiniest part of anything belonging to him. One day, to avoid sharing with others, the rich man and his wife were making some pancakes in the uppermost storey of their house, where no one would see them.

Early in the morning, on that day, the Buddha through his supernormal power, saw the rich man and his wife in his vision, and knew that both of them would soon attain Sotapatti Fruition. So he sent his Chief Disciple Maha Moggallana to the house of the rich man, with instructions to bring the couple to the Jetavana monastery in time for the midday meal. The Chief Disciple, by supernormal power, reached Kosiya's house in an instant and stood at the window. The rich man saw him and asked him to leave; the Venerable Maha Moggallana just stood there without saying anything. In the end, Kosiya said to his wife, "Make a very small pancake and give it to the bhikkhu." So she took just a little amount of dough and put it in the pan, and the cake filled up the whole pan. Kosiya thought his wife must have put in too much, so he took just a pinch of dough and put it into the pan; his pancake also swelled into a big one. It so happened that however little dough they might put in, they were unable to make small pancakes. At last, Kosiya asked his wife to offer one from the basket to the bhikkhu. When she tried to take out one from the basket it would not come off because all the pancakes were sticking together and could not be separated. By this time Kosiya has lost all appetite for pancakes and offered the whole basket of pancakes to Maha Moggallana. The Chief Disciple then delivered a discourse on charity to the rich man and his wife. He also told the couple about how the Buddha was waiting with five hundred bhikkhus at the Jetavana monastery in Savatthi, forty-five yojanas away from Rajagaha. Maha Moggallana, by his supernormal power, then took both Kosiya and his wife together with their basket of pancakes, to the presence of the Buddha. There, they offered the pancakes to the Buddha and the five hundred bhikkhus. At the end of the meal, the Buddha delivered a discourse on charity, and both Kosiya and his wife attained Sotapatti Fruition.

Next evening, while the bhikkhus were talking in praise of Maha Moggallana, the Buddha came to them and said, "Bhikkhus, you should also dwell and act in the village like Maha Moggallana, receiving the offerings of the villagers without affecting their faith and generosity, or their wealth."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 49: As the bee collects nectar and flies away without damaging the flower or its colour or its scent, so also, let the bhikkhu dwell and act in the village (without affecting the faith and generosity or the wealth of the villagers).

Dhammapada Verse 49
Macchariyakosiyasetthi Vatthu

Yathipi bhamaro puppham
vannagandhamahethayam
paleti rasamadaya
evam game muni care.

Verse 49: As the bee collects nectar and flies away without damaging the flower or its colour or its scent, so also, let the bhikkhu dwell and act in the village (without affecting the faith and generosity or the wealth of the villagers).


dhp050_B
Verse-Kệ 050

(38).- Tích chuyện ẩn-sĩ Phả-vị-gia - Kệ số 050

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến ẩn-sĩ Phả-vị-gia được một tín-nữ bảo-trợ.

 

Thuở ấy, tại nước Xá-vệ có một người tín-nữ giàu-sang rất thành-tâm hộ-trợ một người ẩn-sĩ, chăm-sóc như con đẻ, giúp đỡ mọi nhu-cầu. Bấy giờ, bà ấy nghe nói đến có Đức Phật đang ngụ tại chùa Kỳ-viên, nên muốn thỉnh Phật cùng chư Tăng về nhà cúng-dường thực-phẩm. Bà liền đi đến nơi Đức Phật trú-ngụ, cung-thỉnh Phật và chư Tăng đến nhà thọ-trai. Đức Phật nhận lời. Trong khi Đức Phật ngỏ lời tán-thán công-đức cúng-dường của vị tín-nữ, thì vị ẩn-sĩ Phả-vị-gia đang ở trong căn phòng bên cạnh, nghe thấy, mới nổi giận, to tiếng nguyền-rủa bà thí-chủ đã tỏ lòng kính-trọng Đức Phật và chư Tăng hơn mình. Vị tín-nữ nghe ông ta đang nói xấu Đức Phật và chúng Tăng, nên cảm thấy hổ-thẹn trong lòng, chẳng còn theo dõi được những lời Phật đang giảng dạy. Đức Phật nom thấy mới bảo vị tín-nữ, chớ nên để-ý đến những lời bất-nhã của kẻ ẩn-sĩ kia, mà chỉ nên chú-tâm đến những hành-động tốt hoặc xấu của chính mình.

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Đừng nhìn thấy lỗi-lầm người khác,

Hoặc lỡ làm, hoặc sót chẳng làm.

Hãy nhìn thấy tâm mình trước đã:

Trót làm, lỡ sót, cả ngay gian.

(Kệ số 050.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Ẩn-sĩ: Ẩn = kín; sĩ = người; người tu-sĩ. Ẩn-sĩ là người tu-hành ở nơi xa-vắng.

 

- Phả-vị-gia: tên thật của vị ẩn-sĩ nầy bằng tiếng Pali là Pàveyya.

 

- Bảo-trợ, Hộ-trợ: Bảo = che-chở; Hộ = giúp-đỡ; trợ = cứu-giúp.

 

- Tín-nữ: Tín = tin-tưởng; Nữ = phụ-nữ, đàn-bà, cô gái. Tín-nữ là người phụ-nữ tin-tưởng vào Phật-pháp. Đàn-ông gọi là thiện-nam.

 

- Nhu-cầu: các sự cần-dùng.

 

- Cung-thỉnh: Cung = cung-kính, kính-trọng; thỉnh = mời.

 

- Tán-thán: khen ngợi.

 

- Bất-nhã: Bất = chẳng; nhã = nhã-nhặn. Lời bất-nhã là lời hỗn-láo, bất-lịch-sự, vô-phép.

 

- Chú-tâm: để-ý đến.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện rất rõ-ràng: chê hành-động khiếm-nhã của vị ẩn-sĩ, vì ganh-ghét mà có lời vô-lễ đối với vị tín-nữ và Đức Phật cùng chúng Tăng. Sự ganh-ghét nầy làm phát-sanh sự tức-giận, tức là sân, một món độc thứ hai trong ba mối độc lớn, đã khiến cho chúng-sanh trôi lăn mãi trong cảnh khổ của kiếp Luân-hồi.

 

Đức Phật dạy bà tín nữ: "Đừng nhìn thấy lỗi-lầm của kẻ khác" mà hãy chú-tâm đến những lỗi-lầm của chính mình." Nếu biết lỗi của mình mà sửa chữa lại, thì tâm trở nên thanh-tịnh, sớm giác-ngộ và giải-thoát. Khi mình vạch lỗi của người, chính mình cũng đã có lỗi trước rồi: lỗi đã kẽ-vạch lỗi-lầm kẻ khác để chê-bai.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 050:

 

Bài Kệ khuyên ta ba điều: (1) đừng vạch lỗi kẻ khác, (2) phải chơn-thành xét lấy lỗi-lầm của chính mình, (3) lỗi có hai thứ: (a) lỡ làm điều quấy; (b) quên làm điều lành. Đây là đường-lối thiết-thực để thanh-lọc tâm-ý cho thanh-tịnh. Tâm thanh-tịnh là tâm đã được giải-thoát.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ để ứng-dụng trong cuộc sống hằng ngày với kẻ khác, giữ tâm sao cho được thanh-tịnh.

 

2.- Đối với những người mà mình có trách-nhiệm hướng-dẫn, dìu-dắt, chỉ-dạy, việc chỉ rõ các lỗi-lầm của họ để sửa chữa lại, rất cần-thiết. Nhưng khi chỉ-dạy, phải dùng lời dịu-dàng, chớ trách-móc, đay-nghiến.

The Story of the Ascetic Paveyya

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (50) of this book, with reference to the ascetic Paveyya and a rich lady.

A rich lady of Savatthi had adopted Paveyya, an ascetic, as a son and was looking after his needs. When she heard her neighbours talking in praise of the Buddha, she wished very much to invite him to her house to offer him alms-food. So, the Buddha was invited and choice food was offered. As the Buddha was expressing appreciation (anumodana), Paveyya, who was in the next room, fumed with rage. He blamed and cursed the lady for venerating the Buddha. The lady heard him cursing and shouting and felt so ashamed that she could not concentrate on what the Buddha was saying. The Buddha told her not to be concerned about those curses and threats, but to concentrate only on her own good and bad deeds.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 50: One should not consider the faults of others, nor their doing or not doing good or bad deeds. One should consider only whether one has done or not done good or bad deeds.


At the end of the discourse the rich lady attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 50
Paveyya ajivaka Vatthu

Na paresam vilomani
na paresam katakatam
attanova avekkheyya
katani akatani ca.

Verse 50: One should not consider the faults of others, nor their doing or not doing good or bad deeds. One should consider only whether one has done or not done good or bad deeds.


dhp051_B
dhp052_B
Verse-Kệ 051-052

(39).- Tích chuyện cư-sĩ Chúc-pha-nhi - Kệ số 051 và 052

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị cư-sĩ Chúc-pha-nhi và hai vị vương-phi của vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la.

 

Thuở ấy, ở nước Xá-vệ có vị cư-sĩ tên là Chúc-pha-nhi, tu-hành đắc được quả-vị A-na-hàm. Lúc bấy giờ, cư-sĩ Chúc-pha-nhi đang chăm-chú ngồi nghe Đức Phật thuyết-pháp; bỗng có Vua Ba-tư-nặc vào yết-kiến Đức Phật. Cư-sĩ Chúc-pha-nhi chẳng đứng dậy chào đón Vua, vì sợ rằng làm như vậy thì thiếu lễ-độ đối với Đức Phật trong khi Ngài đang giảng pháp. Nhưng nhà vua lại cho rằng cư-sĩ cứ ngồi yên như thế là thiếu sự kính-trọng đối với mình, nên vua tỏ vẻ chẳng bằng lòng. Đức Phật nom thấy, đoán biết tâm-trạng của nhà vua, nên sau đó có lời khen ngợi cư-sĩ là người rất thông-hiểu Chánh-pháp và đã chứng đắc được quả-vị thứ ba trong hàng Thanh-văn là quả vị Bất-Lai ( = A-na-hàm). Khi nghe lời tán-thán nầy của Đức Phật, vua Ba-tư-nặc liền thay đổi thái-độ và tỏ ra có cảm-tình với cư-sĩ Chúc-pha-nhi.

 

Khi gặp lại cư-sĩ Chúc-pha-nhi, nhà vua nói: "Cư-sĩ là người rất thông-hiểu Chánh-pháp của Đức Phật, Trẫm xin mời cư-sĩ đến hoàng-cung để chỉ-dạy lại cho hai người vương-phi của Trẫm." Nhưng cư-sĩ từ-chối lời mời và khuyên vua nên trình với Đức Phật cử một vị đại-đệ-tử đến giảng-dạy. Thể theo lời thỉnh-cầu của Vua, Đức Phật chỉ-định Tôn-giả A-nan đến cung vua để giảng pháp cho hai vị vương-phi là bà Mạt-lợi và bà Hoa-sa. Một thời-gian sau, Đức Phật hỏi Tôn-giả A-nan về sự tiến-bộ của hai vị vương-phi. Tôn-giả đáp: "Bà Mạt-lợi tu-hành rất tinh-tấn, còn bà Hoa-sa, mặc dầu nghe giảng nhưng chẳng chú-tâm đến." Đức Phật bảo rằng: "Chánh-pháp chỉ đem lại lợi-ích thiết-thực cho những ai chăm-chú nghe và biết tinh-tấn áp-dụng những điều học-hỏi vào nếp sống hằng ngày."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Hoa đẹp sắc mà hương chẳng có,

Người cài lên chẳng toả mùi hương.

Lời cao-quí, miệng thường bàn-bạc,

Chẳng thực-hành, lợi-lạc chi đâu?

(Kệ số 051.)

 

Hoa đẹp sắc, hương thơm ngào-ngạt,

Người cài lên bát-ngát mùi hương.

Lời cao-quí, miệng thường bàn-bạc,

Thực-hành ngay, lợi-lạc đường tu.

(Kệ số 052.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Các tên được Việt-hoá cho dễ đọc:

 

- Chúc-pha-nhi: tên thật vị ẩn-sĩ nầy tiếng Pali là Chattapàni.

 

- Ba-tư-nặc: tên thật vị vua nầy tiếng Pali là Pasenadi.

 

- Câu-tát-la: tên thật nước nầy, tiếng Pali là Kosala.

 

- A-nan: tên thật của Tôn-giả, tiếng Pali là Ànanda.

 

- Mạt-lợi: tên thật vị vương-phi nầy, tiếng Pali là Mallikà.

 

- Hoa-sa: tên thật vị vương-phi, tiếng Pali là Vàsabhakhattiya.

 

- Cư-sĩ: Cư = ở, cư-ngụ; sĩ = người. Chữ cư-sĩ dùng để chỉ đến các Phật-tử tu-hành tại-gia, có đức-hạnh cao.

 

- Vương-phi: Vương =vua; Phi = vợ vua.

 

- A-na-hàm: quả-vị thứ ba trong hàng Thanh-văn ( =các đệ-tử sống gần bên Phật, nghe giảng kinh, tu-tập và đắc quả.) Tiếng Phạn là Anagàmi, còn dịch là Bất-Lai, nghĩa là chẳng phải tái-sanh lại cõi người.

 

- Hoàng-cung: Hoàng = vua; cung = cung-điện.

 

- Tinh-tấn: chuyên-cần và cố-gắng tiến lên mãi.

 

- Thiết-thực: gần với sự thật, có ích-lợi rõ-ràng, trước mắt, ngay cho mình. Trái với thiết-thực là viễn-vông.

 

- Bàn-bạc: bàn-luận, nói về.

 

- Lợi-lạc: có ích-lợi cho bản thân và cho người khác.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện có hai ý-nghĩa: (1) Danh-lợi chẳng làm động-tâm được cư-sĩ Chúc-pha-nhi: (2) Nghe hiểu Chánh-pháp xong còn chửa đủ, cần đem giáo-pháp ra ứng-dụng vào đời sống tu-hành, liên-quan đến hai vị vương-phi của vua Ba-tư-nặc.

 

Cư-sĩ Chúc-pha-nhi chú-tâm nghe Phật giảng-pháp, chẳng đứng dậy chào Vua; đó là cư-sĩ trọng Phật hơn là kính-nễ quyền-thế của đấng quân-vương. Sau được vua mời vào cung giảng-pháp, cư-sĩ từ-chối danh-dự nầy, và đề-nghị với vua thỉnh một vị đại-đệ-tử của Phật. Đây là lòng khiêm-nhường đáng quí.

 

Bà Mạt-lợi nghe pháp do Tôn-giả A-nan chỉ dạy, tinh-tấn thi-hành theo, nên có tiến-bộ trong đường tu. Trái lại bà Hoa-sa, tuy có nghe pháp, nhưng lơ-là, chẳng chịu thực-hành, nên chẳng được lợi-ích chi cả.

 

Rút bài học về ý-nghĩa thứ hai của Tích-chuyện: Mỗi khi nghe giảng-pháp ở chùa, chớ nên bàn-luận miên-man rằng pháp nầy cao, pháp kia linh-nghiệm v.v. mà phải tìm cách ứng-dụng để tu-hành, sao cho tâm được thanh-tịnh. Đó mới là lợi-ích thiết-thực của việc đi chùa nghe pháp.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 051 và 052:

 

- Bài Kệ số 051 nói đến hoa có sắc mà chẳng có hương. Đây là ám-chỉ đến người có sắc đẹp mà chẳng có đức-hạnh. So-sánh với người thường bàn-luận về lời cao ý-đẹp mà chính mình chẳng chịu thực-hành, thành ra chẳng có ích-lợi gì cả.

 

- Trái lại, bài kệ số 052 nói đến hoa vừa có sắc vừa có hương, để ám-chỉ vào người vừa có sắc đẹp lại có đức-hạnh cao-quí. Đó là nhờ nghe đến lời cao-quí trong Chánh-pháp và tinh-tấn thi-hành theo trong đường tu. Ích-lợi cho việc tu-hành rất là to lớn.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng hai bài kệ; để-ý: có sắc mà chẳng có hương.

 

2.- Tìm cách ứng-dụng bài học nầy vào việc đi chùa:(1) để nghe pháp; (2) tìm cách thi-hành trên bản thân mình;(3) chẳng bàn-luận suông.

The Story of Chattapani, a Lay Disciple

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (51) and (52) of this book, with reference to the lay disciple Chattapani and the two queens of King Pasenadi of Kosala.

A lay disciple named Chattapani who was an anagami* lived in Savatthi. On one occasion, Chattapani was with the Buddha at the Jetavana monastery respectfully and attentively listening to a religious discourse, when King Pasenadi also came to the Buddha. Chattapani did not stand up because he thought that by standing up, it might mean that he was paying respect to the king, but not paying due respect to the Buddha. The king took that as an insult and was very much offended. The Buddha knew exactly how the king was feeling; so he spoke in praise of Chattapani, who was well-versed in the Dhamma and had also attained the Anagami Fruition. On hearing this, the king was impressed and favourably inclined towards Chattapani.

When the king next met Chattapani he said, "You are so learned; could you please come to the palace and give lessons of the Dhamma to my two queens?" Chattapani declined but he suggested that the king should request the Buddha to assign a bhikkhu for this purpose. So, the king approached the Buddha in connection with this, and the Buddha directed the Venerable Ananda to go regularly to the palace and teach the Dhamma to Queen Mallika and Queen Vasabhakhattiya. After some time, the Buddha asked the Venerable Ananda about the progress of the two queens. The Venerable Ananda answered that although Mallika was learning the Dhamma seriously, Vasabhakhattiya was not paying proper attention. On hearing this the Buddha said that the Dhamma could be of benefit only to those who learn it seriously with due respect and proper attention and then practise diligently what was taught.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 51: Just as a beautiful flower, lacking in scent, cannot give the wearer the benefit of its scent, so also, the well-preached words of the Buddha cannot benefit one who does not practise the Dhamma.

 

Verse 52: Just as a flower, beautiful as well as fragrant, will give the wearer the benefit of its scent, so also, the well-preached words of the Buddha will benefit one who practises the Dhamma.


*Anagami: one who has attained the third Magga.

Dhammapada Verses 51 and 52
Chattapani upasaka Vatthu

Yathapi ruciram puppham
vannavantam agandhakam
evam subhasita vaca
aphala hoti akubbato.

Yathapi ruciram puppham
vannavantam sagandhakam
evam subhasita vaca
saphala hoti kubbato.

Verse 51: Just as a beautiful flower, lacking in scent, cannot give the wearer the benefit of its scent, so also, the well-preached words of the Buddha cannot benefit one who does not practise the Dhamma.

Verse 52: Just as a flower, beautiful as well as fragrant, will give the wearer the benefit of its scent, so also, the well-preached words of the Buddha will benefit one who practises the Dhamma.


dhp053_B
Verse-Kệ 053

(40).- Tích chuyện bà tín-nữ Vi-sa-kha - Kệ số 053

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Đông-viên (Pubbàràma), nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến bà tín-nữ Vi-sa-kha, người đã cúng dường cho Tăng-đoàn ngôi tu-viện Đông-viên.

 

Bà Vi-sa-kha là cháu nội của ông Mẫn-đà-kha, một trong năm người hào-phú nhứt ở vương-quốc của vua Tần-bà-sa-la. Khi Đức Phật du-hành đến làng Bhaddiya, ông Mẫn dẫn bà Vi-sa-kha, lúc bấy giờ được bảy tuổi, cùng năm trăm quyến-thuộc tới nghe Phật giảng pháp, và chứng-đắc được đạo-quả Tu-đà-hườn.

 

Khi đến tuổi trưởng-thành, bà Vi-sa-kha kết-hôn với con trai ông Mỹ-nga-ra là một người rất giàu-có ở Xá-vệ. Một hôm, ông Mỹ đang ngồi ăn cơm, có một vị tỳ-kheo dừng lại trước cửa để khất-thực. Ông Mỹ lờ đi, chẳng chịu bố-thí. Bà Vi-sa-kha thấy thế mới thưa cùng vị tỳ-kheo: "Xin Ngài tha lỗi cho, cha chồng tôi đang bận ăn các thức ăn còn thừa, nên chẳng cúng-dường Thầy được." Nghe con dâu nói thế, ông Mỹ nổi giận lên và đuổi bà Vi-sa-kha ra khỏi nhà. Bà Vi-sa-ka chẳng chịu đi, bảo rằng mình chẳng có lỗi chi. Bà yêu-cầu mời tám vị trưởng-thượng trong làng đến, để xét xem bà có lỗi cùng không. Khi các vị trưởng-thượng đến nhà, ông Mỹ trình-bày rằng: "Tôi đang dùng các thức ăn tươi-tốt, cháo sữa đựng trong chén bằng vàng như thế nầy, mà con dâu tôi dám bảo là tôi đang ăn đồ thừa. Thật đáng đuổi nó đi! ‘’ Bà Vi-sa-kha phân-trần: "Thưa các Ngài, khi tôi thấy cha chồng tôi cứ ngồi yên ăn cháo, lờ đi việc vị tỳ-kheo đang đến khất-thực, tôi nghĩ rằng cha chồng tôi chẳng chịu tạo phước lành bố-thí cúng-dường trong đời nầy, mà chỉ đang thọ-hưởng phước dư-thừa của đời trước. Vì thế, tôi mới nói, cha chồng tôi đang bận ăn các thức ăn còn thừa lại. Xin quí Ngài xét xem tôi có lỗi trong lời nói hay không." Các vị trưởng-thượng cùng thảo-luận và đồng-ý rằng, khi nói lên Sự-Thật như thế, bà Vi-sa-kha chẳng có lỗi gì. Bà Vi-sa-kha tiếp: "Con là người vững tin nơi Phật-pháp, con chẳng muốn sống trong một nhà mà người chủ lại chẳng chịu bố-thí cúng-dường chư Tăng. Con sẽ ra đi, nếu chẳng được phép cung-thỉnh Đức Phật và chư Tăng đến nhà để dưng-cúng thực-phẩm." Liền đó, lời thỉnh-cầu của bà được chấp-thuận.

 

Ngày hôm sau, Đức Phật và chư Tăng được mời đến nhà ông Mỹ để thọ-trai. Trong khi dưng thực-phẩm lên Đức Phật và Tăng-chúng, bà Vi-sa-kha cho mời ông Mỹ đến để chia-xẻ phước-đức cúng-dường, nhưng ông lại từ-chối. Đến khi việc thọ-thực đã xong, bà Vi-sa-kha cũng cho người mời ông Mỹ ra phòng khách để nghe Đức Phật giảng-pháp. Bấy giờ, ông Mỹ nghĩ rằng chẳng nên từ-chối nữa, nên mới ngồi trong phòng bên cạnh, cách sau một bức rèm, theo đúng lời căn-dặn của vị thầy ngoại-đạo Ni-kiền-tử của ông ta. Nhờ nghe được lời giảng-pháp của Đức Phật mà ông Mỹ chứng được quả-vị Tu-đà-hườn; ông rất hân-hoan, cảm ơn người con dâu và bảo rằng từ rầy về sau, bà Vi-sa-kha được coi như người mẹ tinh-thần của ông,

 

Bà Vi-sa-kha sanh được mười người con trai và mười người con gái. Bà có một chiếc áo choàng nạm kim-cương do cha bà cho khi bà về nhà chồng. Bà mặc áo ấy đi đến Kỳ-viên-tự để lễ Phật. Thấy áo nặng quá, bà cổi ra, trao cho đứa hầu gái giữ. Sau buổi giảng-pháp, đứa tớ gái quay về, lại bỏ quên chiếc áo ở tu-viện. Bấy giờ, Tôn-giả A-nan có nhiệm-vụ thu-nhặt các vật bỏ quên để hoàn lại. Bà Vi-sa-kha sai đứa ở trở lại và dặn nó rằng: "Nếu Tôn-giả A-nan đã cất chiếc áo, thì đừng xin lại, vì ta muốn cúng-dường cho Tôn-giả." Nhưng Tôn-giả A-nan từ-khước chẳng nhận. Bà Vi-sa-kha liền đem bán chiếc áo để lấy tiền mua thực-phẩm cúng-dường chư Tăng. Chẳng ai có đủ tiền để mua, nên bà Vi-sa-kha mới mua lại với giá chín đồng tiền vàng. Với số tiền to lớn nầy, bà xây ngôi tu-viện Đông-viên, ở về phía Đông chùa Kỳ-viên để dưng-cúng lên Đức Phật và chư Tăng-ni. Tên tu-viện đó bằng tiếng Pali là Pubbàràma.

 

Sau buổi lễ khánh-thành tu-viện Đông-viên, bà Vi-sa-kha bảo với con cháu rằng, mọi ước-nguyện của bà nay đã hoàn-toàn thoả-mãn. Bà hân-hoan và thành-tâm đọc kinh cầu nguyện, đi nhiễu nhiều vòng chung quanh tu-viện. Chư Tăng thấy thế, cho rằng bà Vi-sa-kha đang ca-hát và đến thưa trình với Phật rằng bà Vi-sa-kha tỏ ra rất khác thường, có lẽ bà đang mất trí. Đức Phật bảo: "Tín-nữ Vi-sa-kha, trong nhiều đời, tâm rất rộng-rãi, bố-thí cúng-dường rất nhiều. Bà ta là người làm cho Phật-pháp được hưng-thịnh. Hôm nay, bao nhiêu sự ước-mong cúng-dường Phật-pháp đã hoàn-mãn, nên bà rất hân-hoan, chẳng phải là người mất trí đâu. Đó cũng như người thợ kết tràng hoa khéo-léo, đã khéo chọn số hoa tươi trong đống hoa ngổn-ngang, kết thành một tràng hoa thật đẹp."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Lấy hoa trong đống ngổn-ngang,

Khéo tay, thợ kết nhiều tràng hoa xinh.

Cùng thế ấy, tử-sanh tuy lận-đận.

Khéo biết làm lành, việc thiện cũng tăng.

(Kệ số 053.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

-Các tên được Việt-hoá cho dễ đọc:

 

- Vi-sa-kha: tên thật vị tín-nữ nầy tiếng Pali là Visàkhà.

 

- Mẫn-đà-kha: tên thật vị hào-phú nầy tiếng Pali là Mendaka.

 

- Tần-bà-sa-la: tên thật vị vua nầy là Bimbisàra.

 

- Mỹ-nga-ra: tên thật người giàu-có nầy tiếng Pali là Migàra.

 

- Tín-nữ: Tín =tin-tưởng; nữ = phụ-nữ, đàn-bà, cô gái. Tín-nữ là người phụ-nữ tin-tưởng vào Phật-pháp, tu-hành tại nhà.

 

- Tu-viện: Tu = tu-hành; Viện = ngôi chùa, đền-đài.

 

- Hào-phú: người rất giàu-có.

 

- Du-hành; đi dạo đến.

 

- Quyến-thuộc: Quyến = gia-quyến, người trong nhà. Quyến-thuộc là những người sống trong nhà, trong gia-quyến. Còn gọi là thân-bằng quyến-thuộc.

 

- Trưởng-thành: Trưởng = lớn. Đến tuổi trưởng-thành là đã đến tuổi để lập gia-đình, vào độ hai mươi tuổi.

 

- Kết-hôn: lấy vợ, lấy chồng.

 

- Lờ đi: giả bộ chẳng thấy, chẳng nghe đến.

 

- Trưởng-thượng: Trưởng = lớn; Thượng = trên. Bực trưởng-thượng là những người lớn tuổi, đáng kính-trọng.

 

- Đồ thừa: thức ăn còn dư, chẳng được tươi-tốt.

 

- Phân-trần: nói rõ ra để kẻ khác hiểu được bụng thật của mình.

 

- Thỉnh-cầu: lời yêu-cầu, lời cầu-xin.

 

- Thọ-trai: Thọ = nhận; trai = ăn chay.

 

- Thọ-thực: Thọ = nhận; thực = ăn. Thọ-trai, thọ-thực là tiếng ở chùa chỉ đến việc ăn cơm chay.

 

- Bức rèm: tấm màn mỏng ngăn chia hai phòng trong nhà.

 

- Ngoại-đạo: Ngoại = ngoài; đạo = đạo tu-hành. Danh-từ ngoại-đạo dùng để chỉ các đạo khác với Đạo Phật. Vào thời Đức Phật có sáu ngoại-đạo; trong đó có phái chủ-trương loã-thể ( = chẳng mặc quần-áo) gọi là Ni-kiền-tử ( = phiên-âm chữ Nigantha.)

 

- Người mẹ tinh-thần: Ở đây có nghĩa là bà Vi-sa-kha hiểu biết Phật-pháp nhiều hơn ông Mỹ, nên được ông ta kính-trọng, chẳng xem như con dâu, mà xem như một bực tu-hành đạo-đức cao hơn mình.

 

- Khánh-thành: buổi lễ mừng việc xây cất đã thành công.

 

- Đi nhiễu: đi chầm-chậm xung-quanh ngôi chùa, tháp, để tỏ lòng kính-trọng. Thường các đệ-tử hay đi nhiễu ba vòng chung quanh chỗ Phật ngồi để tỏ lòng kính-trọng Phật.

 

- Hưng-thịnh: khởi-phát lên mạnh-mẽ.

 

- Tử-sanh lận-đận: Tử-sanh là sống chết; lận-đận là khổ-sở. Vì phải tái-sanh, sống đi chết lại nhiều đời-kiếp để chịu khổ-sở, nên bài Kệ mới nói Tử-sanh lận-đận. Tu-hành đến mức được giải-thoát, khỏi phải chịu cảnh Luân-hồi nữa, thì thoát được vòng tử-sanh lận-đận, chứng được cảnh Niết-bàn vô-sanh.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang hai ý-nghĩa: (1) bà Vi-sa-kha chê thái-độ cứ ngồi ăn, lờ đi việc cúng-dường của ông Mỹ là đang ăn đồ thừa; (2) công-đức cúng-dường tu-viện Đông-viên của bà Vi-sa-kha.

 

Bà Vi-sa-kha rất có lý khi bảo ông Mỹ đang ăn đồ thừa, mặc dầu ông ta đang ăn cháo sữa trong chén vàng. Vì chẳng chịu tạo thêm phước mới trong đời nầy, nên chỉ hưởng-dụng phước cũ của đời trước. Phước cũ đó tức là đồ ăn dư-thừa của đời trước. Hưởng hết phước cũ rồi mà chẳng chịu tạo phước mới, bằng cách bố-thí, cúng-dường, thì chẳng còn được sung-sướng về các đời sau.

 

Bà Vi-sa-kha là người tín-nữ rất nổi tiếng vào thời Đức Phật còn tại thế. Sau khi ông Cấp-cô-độc mua ngôi vườn của Thái-tử Kỳ-đà bằng cách lót vàng lên khu đất, để xây tu-viện Kỳ-viên cúng-dường Phật và chư Tăng, thì bà Vi-sa-kha đã xây cất ngôi tu-viện Đông-viên, cũng rộng lớn cúng-dường Phật và chư Tăng-ni. Hai công-đức cúng-dường nầy rất to-tát, kinh-sách thường nhắc đến.

 

(2) Ý-nghĩa bài Kệ số 053:

 

Bài Kệ có liên-quan đến ý-nghĩa thuú hai của Tích chuyện: công-đức cúng-dường tu-viện cho Tăng-ni.

 

Hai câu đầu: So-sánh với người thợ kết tràng hoa. Giữa đống hoa ngổn-ngang, người thợ khéo tay, biết chọn hoa đẹp kết thành tràng. Cũng như người đang sống trong cảnh khổ, biết tìm cách tạo phước-đức trong đời nầy, khiến cho cuộc sống có ý-nghĩa đẹp như một tràng hoa.

 

Hai câu sau: Tuy còn đang trôi lăn trong cảnh sanh-tử khổ-sở của Luân-hồi, người biết tạo phước lành, khéo tìm cơ-hội làm cho việc thiện của mình tăng lên thêm, do đó sẽ có ngày gặp đủ cơ-duyên để được giác-ngộ và giải-thoát.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ; nhớ đến công-đức bà Vi-sa-kha, để mỗi khi được mời hùn công-đức tu-bổ chùa chiền mà hăng-hái tham-gia vào.

 

2.- Thực-tập việc cúng-dường, bố-thí:

 

- Mỗi khi gặp người nghèo khổ, nên đưa tiền, ít nhiều chẳng kể, cho con cháu đi theo mình, để chính tay nó trao cho người ăn xin, tập cho nó có thói quen bố-thí.

 

- Mỗi tuần vào chùa lễ Phật, nên bảo con cháu đi theo, cầm theo hoa-quả, cung-kính đặt lên bàn Phật, dạy nó xá ba xá trước tượng Phật, để tỏ lòng cung-kính. Chớ nên bảo nó, con lạy Phật để Ngài phò-hộ con học giỏi, thi đậu, v.v. vì như thế làm mất ý-nghĩa cúng-dường đi.

The Story of Visakha

While residing at the Pubbarama monastery in Savatthi, the Buddha uttered Verse (53) of this book, with reference to Visakha, the famous donor of the Pubbarama monastery.

Visakha was the daughter of a rich man of Bhaddiya, named Danancaya, and his wife Sumanadevi, and the granddaughter of Mendaka, one of the five extremely wealthy men of King Bimbisara's dominions. When Visakha was seven years old, the Buddha came on a tour to Bhaddiya. On that occasion, the rich man Mendaka took Visakha and her five hundred companions with him to pay homage to the Buddha. After hearing the discourse given by the Buddha, Visakha, her grandfather and all her five hundred companions attained Sotapatti Fruition.

When Visakha came of age, she married Punnavadahana, son of Migara, a fairly rich man from Savatthi. One day, while Migara was having his meal, a bhikkhu stopped for alms at his house; but Migara completely ignored the bhikkhu. Visakha, seeing this, said to the bhikkhu, "I am sorry, your reverence, my father-in-law only eats leftovers." On hearing this, Migara flew into a rage and told her to leave his house. But Visakha said she was not going away, and that she would send for the eight elderly rich men who were sent by her father to accompany her and to advise her. It was for them to decide whether she was guilty or not. When the elders came, Migara said to them, "While I was having my rice-with-milk in a golden bowl, Visakha said that I was taking only dirt and filth. For this offence, I'm sending her away." Thereupon, Visakha explained as follows: "When I saw my father-in-law completely ignoring the bhikkhu standing for alms-food, I thought to myself that my father-in-law was not doing any meritorious deed in this existence. he was only eating the fruits of his past good deeds. So, I said, 'My father-in-law only eats leftovers.' Now Sirs, what do you think, am I guilty?" The elders decided that Visakha was not guilty. Visakha then said that she was one who had absolute and unshakable faith in the Teaching of the Buddha and so could not stay where the bhikkhus were not welcome; and also, that if she was not given permission to invite the bhikkhus to the house to offer alms-food and make other offerings, she would leave the house. So permission was granted to her to invite the Buddha and his bhikkhus to the house.

The next day, the Buddha and his disciples were invited to the house of Visakha. When alms-food was about to be offered, she sent word to her father-in-law to join her in offering food; but he did not come. When the meal was over, again she sent a message, this time requesting her father-in-law to join her in hearing the discourse that would soon be given by the Buddha. Her father-in-law felt that he should not refuse for a second time. But his ascetic teachers, the Niganthas, would not let him go; however, they conceded that he could listen from behind a curtain. After hearing the Buddha's discourse Migara attained Sotapatti Fruition. He felt very thankful to the Buddha and also to his daughter-in-law. Being so thankful, he declared that henceforth Visakha would be like a mother to him, and Visakha came to be known as Migaramata.

Visakha gave birth to ten sons and ten daughters, and ten sons and ten daughters each were born to everyone of her children and grand-children. Visakha possessed an immensely valuable gem-encrusted cloak given by her father as a wedding present. One day, Visakha went to the Jetavana monastery with her entourage. On arrival at the monastery, she found that her bejeweled cloak was too heavy. So, she took it off, wrapped it up in her shawl, and gave it to the maid to hold it and take care of it. The maid absentmindedly left it at the monastery. It was the custom for the Venerable Ananda to look after the things left by any one of the lay disciples. Visakha sent the maid back to the monastery saying, "Go and look for the bejeweled cloak, but if the Venerable Ananda had already found it and kept it in a place do not bring it back; I donate the bejeweled cloak to the Venerable Ananda." But the Venerable Ananda did not accept her donation. So Visakha decided to sell the bejeweled cloak and donate the sale proceeds. But there was no one who could afford to buy that bejeweled cloak. So Visakha bought it back for nine crores and one lakh. With this money, she built a monastery on the eastern side of the city; this monastery came to be known as Pubbarama.

After the libation ceremony she called all her family to her and on that night she told them that all her wishes had been fulfilled and that she had nothing more to desire. Then reciting five verses of exultation she went round and round the monastery. Some bhikkhus hearing her, thought she was singing and reported to the Buddha that Visakha was not like before, and that she was going round and round the monastery, singing. "Could it be that she had gone off her head?" they asked the Buddha. To this question, the Buddha replied, "Today, Visakha had all her wishes of the past and present existences fulfilled and on account of that sense of achievement, she was feeling elated and contented; Visakha was just reciting some verses of exultation; she certainly had not gone off her head. Visakha, throughout her previous existences, had always been a generous donor and an ardent promoter of the Doctrine of successive Buddhas. She was most strongly inclined to do good deeds and had done much good in her previous existences, just as an expert florist makes many garlands from a collection of flowers."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 53: As from a collection of flowers many a garland can be made by an expert florist, so also, much good can be done (with wealth, out of faith and generosity) by one subject to birth and death.

Dhammapada Verse 53
Visakha Vatthu

Yathapi puppharasimha
kayira malagune bahu
evam jatena maccena
kattabbam kusalam bahum
1.

Verse 53: As from a collection of flowers many a garland can be made by an expert florist, so also, much good can be done (with wealth, out of faith and generosity) by one subject to birth and death.


1. kattabbam kusalam bahum: much good may be done. According to the Commentary, it means many deeds of merit should be done with wealth, out of faith and generosity.


dhp054_B
dhp055_B
Verse-Kệ 054-055

(41).- Tích chuyện về câu hỏi của Tôn-giả A-nan - Kệ số 054 và 055

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một câu hỏi của Tôn-giả A-nan.

 

Thuở ấy, vào buổi chiều, Tôn-giả A-nan đang ngồi một mình, ngẫm-nghĩ trong đầu về một việc: "Hương thơm của thân-cây, của bông-hoa, của rễ-cây, các loại hương thơm nầy đều bay theo chiều gió mà lan rộng ra. Chẳng biết có mùi hương nào vừa bay theo chiều gió, lại vừa ngược với chiều gió chăng? Chẳng biết có hương thơm nào toả rộng bát-ngát khắp nơi chăng?" Tôn-giả chẳng tự mình tìm lấy câu trả lời, mà lại đến gần bên Đức Phật, thưa thỉnh Ngài giải-đáp cho.

 

Đức Phật nói: "Nầy A-nan, thí-dụ như có người quy-y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng, hành-trì đầy đủ năm giới tại-gia, tỏ ra rộng-rãi trong việc bố-thí, cúng-dường, chẳng hề rít-róng, người ấy thật có đức-hạnh và đáng khen-ngợi. Danh-tiếng người nầy sẽ lan rộng ra khắp chốn, và các tỳ-kheo, các bà-la-môn, cả những người thường-nhơn, ai ai cũng đều khen ngợi người ấy, dầu người ấy cư-trú ở bất cứ nơi nào."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Hương chiên-đàn, mạt-lỵ, già-la,

Chẳng hương nào ngược gió bay xa.

Chỉ có hương thơm nhà đạo-đức

Ngược gió mà phảng-phất mười phương.

(Kệ số 054.)

 

Hương chiên-đàn cùng hương mạt-lỵ,

Hương già-la với hương vũ-quí,

Giữa những thứ hương nầy,

Giới-hương là vô-nhị.

(Kệ số 055.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Hương: mùi thơm.

 

- Quy-y Tam-Bảo: Quy = trở về; Y = nương-tựa; Tam = ba; Bảo = quí-báu. Quy-y Tam-Bảo là trở vể nương-tực nơi ba ngôi báu: Phật, Pháp và Tăng.

 

- Hành-trì năm giới tại gia: Hành = làm; Trì = giữ; Năm giới: (1)chẳng sát-sanh, (2) chẳng trộm-cắp, (3) chẳng tà-dâm, (4) chẳng nói dối, (5) chẳng uống rượu. Đây là năm giới cấm mà người tu tại-gia phải giữ đúng.

 

- Bà-la-môn: tiếng Pali là Brahmana, giới tu-sĩ Ấn-độ. Theo sự phân-chia giai-cấp ở Ấn-độ, có bốn giai-cấp: Bà-la-môn (tu-sĩ), Sát-đế-lợi (vua, quan), Vệ-xá (buôn-bán) và Thủ-đà-la (nông-dân). Dân cùng-khổ nhứt là hạng Chiên-đà-la, làm các nghề hạ-tiện.

 

- Chiên-đàn: loại gỗ thơm, có mùi như trầm-hương. Tiếng Pali là Gandha.

 

- Mạt-lỵ: loại hoa giống như hoa lài của ta. Tiếng Pali là Mallika.

 

- Già-la: một loại gỗ thơm. Tiếng Pali là Tagara.

 

- Hoa vũ-quí: một loại hoa thơm tựa mùi hoa lài, tiếng Pali là Vassiki.

 

- Mười phương: bốn phương chánh: Đông, Tây, Nam, Bắc; bốn phương bàng: Đông-Nam, Đông-Bắc, Tây-Nam, Tây-Bắc; và hai bên Trên và Dưới, cộng lại là mười phương.

 

- Vô-nhị: Vô = chẳng có; Nhị = hai. Cùng nghĩa với chữ độc-nhứt, nghĩa là chỉ có một, chẳng thể có hai; chẳng có gì sánh bằng được.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị: các mùi hương đều bay theo chiều gió, chỉ có giới-hương mới có thể ngược gió mà phảng-phất khắp mười phương. Đức Phật nêu rõ thế nào là giới-hương: đức-hạnh của người tu-hành, quy-y Tam-Bảo, giữ đúng ngũ-giới, siêng-năng bố-thí, nhờ đó mà danh-thơm, tiếng tốt được mọi người xa gần đều quí-mến.

 

(2) Ý-nghĩa hai bài Kệ số 054 và 055:

 

Hai bài kệ so-sánh các thứ hương thơm, như hương chiên-đàn, mạt-lỵ, già-la, vũ-quí, chẳng thể ngược gió bay xa như hương thơm nhà đạo-đức, tức là giới-hương. Người có đức-hạnh, tu-hành tinh-tấn, sẽ được mọi người gần xa kính mến, nhờ biết quy-y Tam-Bảo và giữ đúng giới-hạnh.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ; ghi nhớ: giới-hương cao-quí hơn tất cả mọi mùi hương.

 

2.- Tập giữ giới cho thật thanh-tịnh: Phật-tử tu tại-gia chỉ có năm giới phải tuân theo, nhưng giữ cho trọn-vẹn chẳng phải là việc dễ. Cần phải thường thường xét lòng mình, đừng dễ-dãi với mình mà vi-phạm.

The Story of the Question Raised by the Venerable Ananda

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (54) and (55) of this book, with reference to a question raised by the Venerable Ananda.

While the Venerable Ananda was sitting by himself one evening, the problem relating to scents and perfumes came to his mind and he pondered: "The scent of wood, the scent of flowers, and the scent of roots all spread with the current of wind but not against it. Is there no scent which would spread with the current of wind as well as against it? Is there no scent which would pervade every part of the world?" Without answering the question himself, the Venerable Ananda approached the Buddha and solicited an answer from him. The Buddha said, "Ananda, supposing, there is one who takes refuge in the Three Gems (the Buddha, the Dhamma, the Samgha), who observes the five moral precepts, who is generous and not avaricious; such a man is truly virtuous and truly worthy of praise. The reputation of that virtuous one would spread far and wide, and bhikkhus, brahmins and laymen all alike would speak in praise of him, wherever he lives."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 54: The scent of flowers cannot go against the wind; nor the scent of sandalwood, nor of rhododendron (tagara), nor of jasmin (mallika); only the reputation of good people can go against the wind. The reputation of the virtuous ones (sappurisa) is wafted abroad in all directions.

 

Verse 55: There are the scents of sandalwood, rhododendron, lotus and jasmin (vassika); but the scent of virtue surpasses all scents.


Dhammapada Verses 54 and 55
Anandattherapanha Vatthu

Na pupphagandho pativatameti
na candanam tagara mallika va
satanca gandho pativatameti
sabba disa sappuriso
1pavayati.

Cadanam tagaram vapi
uppalam atha vassiki
etesam gandhajatanam
silagandho anuttaro.

Verse 54: The scent of flowers cannot go against the wind; nor the scent of sandalwood, nor of rhododendron (tagara), nor of jasmin (mallika)2; only the reputation of good people can go against the wind. The reputation of the virtuous ones (sappurisa) is wafted abroad in all directions.

Verse 55: There are the scents of sandalwood, rhododendron, lotus and jasmin (vassika)3; but the scent of virtue surpasses all scents.


1. sappuriso/sappurisa: good and pious people; virtuous persons. The virtuous are the Noble Ones (the ariyas) and the virtuous worldlings (kalyana puthujjana).

2. mallika: Arabian jasmin.

3. vassika: Spanish jasmin.


dhp056_B
Verse-Kệ 056

(42).- Tích chuyện Tôn-giả Đại Ca-diếp - Kệ số 056

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến việc Tôn-giả Đại Ca-diếp, vừa xuất diệt-tận-định.

 

Thuở ấy, Tôn-giả Đại Ca-diếp vừa xuất cơn diệt-tận-định liền ôm bình bát đi vào một khu nghèo-khổ nhứt trong thành Vương-xá để khất-thực. Mục-đích của Tôn-giả là khiến cho một người nghèo-khổ nào đó có được cơ-duyên tạo nên phước-đức thật to-lớn vì cúng-dường cho một bực vừa chứng-nhập diệt-tận-định. Lúc bấy giờ, Vua Đế-Thích Sắc-ca trên cõi Trời, nom thấy, muốn tạo nên phước-báu đó, mới cùng với vợ là bà Sử-gia-ta, hoá hình làm hai vợ-chồng già-cả cùng-khổ, làm nghề dệt vải ở thành Vương-xá. Tôn-giả Đại Ca-diếp dừng lại trước cửa nhà, người chồng liền bưng lấy bình bát của Tôn-giả, sớt vào cơm trắng với cà-ri đầy bát, mùi thơm của thức ăn bốc lên bát-ngát cả thành-phố. Bấy giờ, Tôn-giả đoán biết người thí-giả nầy chẳng phải là người thường, liền mở mắt thiên-nhãn ra nhìn, thấy đó chính là Vua Trời Đế-Thích Sắc-ca hoá hình ra. Vua Đế-Thích mới nói thiệt rằng, trước kia ông rất nghèo khổ vì chẳng có cơ-hội tạo phước cúng-dường trong thời Đức Phật. Nói xong, Vua Đế-Thích và phu-nhơn liền kính-cẩn chào Tôn-giả để từ-biệt trở về cung Trời.

 

Nơi tịnh-xá Trúc-lâm, Đức Phật dùng thiên-nhãn, nhìn thấy cảnh-tượng nói trên, mới nói cho các vị tỳ-kheo biết việc cúng-dường của vua trời Đế-Thích. Các vị tỳ-kheo thắc-mắc tại sao vua Đế-Thích lại biết được Tôn-giả Đại Ca-diếp vừa xuất cơn diệt-tận-định, để giáng trần mà cúng-dường. Đức Phật giải-đáp rằng: "Nầy chư tỳ-kheo! Danh-tiếng của một người có đức-hạnh cao-quí như Đại Ca-diếp vang dội xa gần, thấu đến tận cung Trời, khiến cho Vua Đế-Thích biết được mà đến cúng-dường."

 

Bấy giờ Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Hương chiên-đàn, hương già-la còn nhạt,

Chỉ có giới-hương toả ngát cung Trời.

(Kệ số 056.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Tôn-giả Đại Ca-diếp: Tôn-giả = bực đáng kính-trọng; Đại Ca-diếp = tên thật của Tôn-giả bằng tiếng Pali là Mahàkassapa. Tôn-giả Đại Ca-diếp là vị đại-đệ-tử của Phật, tu theo hạnh đầu-đà vào bực nhứt. Ngài kế-tiếp Đức Phật lãnh-đạo Tăng-đoàn và là vị Tổ-sư thứ nhứt của Thiền-tông Ấn-độ.

 

- Diệt-tận-định: Diệt = tiêu-diệt; tận = hết cả, chẳng còn gì; định = tâm-trạng của người tu-thiền, đạt đến mức rỗng-không, chẳng còn bị ngoại-cảnh chi-phối, chẳng còn bị ý-tưởng bên trong trì-níu. Diệt-tận-định là tình-trạng nhập-định cao nhứt, vượt qua bốn cõi Thiền và bốn cõi đại-định, chấm-dứt tạm thời được thọ-uẩn và thức-uẩn, mà chứng-nhập Niết-bàn.

 

- Tịnh-xá Trúc-lâm: tên thật tịnh-xá nầy bằng tiếng Pali là Veluvana, ở ngoài thành Vương-xá, trong rừng tre, nơi Đức Phật thường cư-trú và giảng-pháp. Tînh-xá nầy do vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara) dâng-cúng Đức Phật.

 

- Vương-xá thành: tên thật thủ-đô cũ của nước Ma-kiệt-đà (Magadha), bằng tiếng Pali là Ràjagaha. Gần thành Vương-xá, có ngọn núi Linh-thứu, còn gọi là ngọn Kỳ-xà-quật hay Kê-túc-sơn, tiếng Phạn là Gridhrakùta, hình-thể giống như con chim ó xoè cánh ra. Chính nơi đây, có hương-phòng của Đức Phật, và Kinh Diệu-pháp Liên-Hoa được Đức Phật giảng tại đây.

 

- Sắc-ca: tên của Vua Trời Đế-Thích, tiếng Pali là Sakka.

 

- Sử-gia-ta: tên thật bằng tiếng Pali là Sujàta.

 

- Thiên-nhãn: Thiên = Trời; nhãn = con mắt. Thiên-nhãn chẳng phải là một cặp mắt nào khác, mà chỉ vào khả-năng nhìn được xa, thấy được rõ của bực tu-hành đắc đạo có đức-hạnh cao. Thiên-nhãn có thể thấy xuyên qua các vật ngăn cách.

 

- Giáng-trần: Giáng = đi xuống; trần = ở đây, chỉ cảnh trần-gian của cõi người.

 

- Nhạt = lợt-lạt, chẳng đượm nồng.

 

- Giới-hương: Giới = các điều răn-cấm trong giáo-lý; hương = mùi thơm. Chữ giới-hương có nghĩa là danh-tiếng của người tu-hành giữ giới luật thật đầy-đủ, đức-hạnh thật cao.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc Vua Đế-Thích từ cung Trời hiện xuống để cúng-dường Tôn-giả Đại Ca-diếp, một bực tu-hành đã chứng đắc được diệt-tận-định. Ý-nghĩa của Tích chuyện là giới-hương toả rộng khắp nơi, xa đến tận cung Trời; nói cách khác, danh-tiếng người tu-hành có đức-hạnh cao, tự-nhiên vang-dội đi xa, chẳng cần phải phô-trương chi cả.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 056:

 

Ý-nghĩa cũng giống với hai bài Kệ trước, số 054 và 055.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc lòng bài Kệ, và nhớ lại hai bài Kệ trước về giới-hương.

The Story of Thera Mahakassapa

While residing at the Veluvana monastery in Rajagaha, the Buddha uttered Verse 56 of this book, with reference to Thera Mahakassapa.

Arising from nirodhasamapatti*, Thera Mahakassapa entered a poor section of the city of Rajagaha for alms-food. His intention was to give a poor man an opportunity of gaining great merit as a result of offering alms-food to one who had just come out of nirodhasamapatti. Sakka, king of the devas, wishing to take the opportunity of offering alms-food to Thera Mahakassapa, assumed the form of a poor old weaver and came to Rajagaha with his wife Sujata in the form of an old woman. Thera Mahakassapa stood at their door; the poor old weaver took the bowl from the thera and filled up the bowl with rice and curry, and the delicious smell of the curry spread throughout the city. Then it occurred to the thera that this person must be no ordinary human being, and he came to realize that this must be Sakka himself. Sakka admitted the fact and claimed that he too was poor because he had had no opportunity of offering anything to anyone during the time of the Buddhas. So saying, Sakka and his wife Sujata left the thera after paying due respect to him.

The Buddha, from his monastery, saw Sakka and Sujata leaving and told the bhikkhus about Sakka offering alms-food to Thera Mahakassapa. The bhikkhus wondered how Sakka knew that Thera Mahakassapa had just come out of nirodhasamapatti, and that it was the right and auspicious time for him to make offerings to the thera. This question was put up to the Buddha, and the Buddha answered, "Bhikkhus, the reputation of a virtuous one as my son, Thera Mahakassapa, spreads far and wide; it reaches even the deva world. On account of his good reputation, Sakka himself has come to offer alms-food to him."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 56: The scents of rhododendron and of sandal wood are very faint; but the scent (reputation) of the virtuous is the strongest; it spreads even to the abodes of the deva.


* Nirodhasamapatti: sustained deep mental absorption following the attainment of nirodha, i.e., temporary cessation of the four mental khandhas.

Dhammapada Verse 56
Mahakassapatthera Vatthu

Appamatto ayam gandho
yayam tagaracandani
yo ca silavatam gandho
vati devesu uttamo.

Verse 56: The scents of rhododendron and of sandal wood are very faint; but the scent (reputation) of the virtuous is the strongest; it spreads even to the abodes of the deva.


dhp057_B 
Verse-Kệ 057

(43).- Tích chuyện Trưởng-lão Cơ-thi-ca - Kệ số 057

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Tînh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Cơ-thi-ca, người chứng-đắc được quả-vị A-la-hán, trước khi nhập-diệt.

 

Thuở ấy ở nước Ma-kiệt-đà, có Trưởng-lão Cơ-thi-ca tu-hành rất tinh-tấn, thường ngồi Thiền trên một phiến đá ở núi Isigili. Nhưng rủi thay, mỗi khi vào cơn đại-định, Trưởng-lão lại bị bịnh-hoạn hoành-hành, khiến cho việc tu-tập bị trở-ngại. Với chí cương-quyết, Trưởng-lão nỗ-lực hành-trì, nhưng mỗi lần đều bị gián-đoạn vì cơn đau, khiến cho sự tiến-bộ bị ngưng-trệ. Đến lần thứ bảy, Trưởng-lão quyết-tâm, thà chết chớ chẳng chịu ngả lòng. Trưởng-lão toan dùng dao cạo cắt lấy yết-hầu để tự-sát, thì chứng đắc được quả-vị A-la-hán. Sau đó, Ngài nhập-diệt.

 

Lúc bấy giờ, Ma-vương hay biết Trưởng-lão đã từ-trần, mới tìm cách xem Trưởng-lão thác-sanh về đâu. Ma-vương tìm hoài chẳng thấy, mới hoá hình ra một chàng thanh-niên đến yết-kiến Đức Phật để thưa hỏi, chẳng biết Trưởng-lão Cơ-thi-ca, nay đi về đâu. Đức Phật bảo Ma-vương: "Nầy Ma-vương, ông đừng cố tìm biết nơi thác-sanh của Cơ-thi-ca chi cho vô-ích vì Trưởng-lão Cơ-thi-ca đã chứng-đắc được quả-vị A-la-hán, sau khi gột sạch tất cả lậu-hoặc và nhập Niết-bàn. Với tất cả quyền-lực của một vị Ma-vương, ông chẳng thể nào tìm được nơi thác-sanh của những bực đã chứng quả vô-sanh như Cơ-thi-ca."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người hằng sống trong lòng tỉnh-thức;

Giới-hạnh cao, đạo-đức vẹn-toàn,

Bằng Chánh-trí, giải-thoát xong lậu-hoặc;

Ác-ma muốn bắt, biết đâu mà tìm.

(Kệ số 057.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Trưởng-lão: Trưởng = lớn, lớn tuổi; lão = già. Chữ Trưởng-lão, trong Phật-học chỉ vào các bực tu-hành lâu năm, đức-hạnh vẹn-toàn.

 

- Cơ-thi-ca: tên thât của vị Trưởng-lão bằng tiếng Pali là Godhika.

 

- Quả-vị A-la-hán: đây là quả-vị thư tư, cao nhứt trong hàng Thanh-văn. Người chứng được quả-vị nầy chẳng còn phải tái-sanh trong cõi Luân-hồi nữa, nên gọi là quả vô-sanh, hằng sống an-vui trong cảnh tịch-diệt của Niết-bàn.

 

- Isigili: tên một ngọn núi thuộc nước Ma-kiệt-đà (Magadha).

 

- Đại-định: tâm-trạng của người ngồi Thiền đạt đến cảnh-giới vắng-lặng, rỗng-không.

 

- Hoành-hành: Hoành = tung-hoành, tàn-phá; hành = làm. Bị hoành-hành là bị hành-hạ khổ-sở.

 

- Ngưng-trệ: bị dừng lại, chẳng tiến lên thêm được.

 

- Yết-hầu: cổ họng.

 

- Tự-sát: mình giết mình, tự-tử.

 

- Nhập-diệt: chết.

 

- Từ-trần: chết.

 

- Thác-sanh: sanh trở lại nữa.

 

- Yết-kiến: đến gặp người cao-quí.

 

- Lậu-hoặc: Lậu = rỉ chảy; hoặc = điều sai-lầm. Chữ lậu-hoặc là danh-từ chuyên-môn Phật-học, trỏ vào các thói xấu của con người chẳng có tu-hành. Lậu-hoặc được ví với các chất bẩn-thỉu rỉ chảy từ bên trong ra. Đó là các món độc như tham, sân, si, mạn( =kiêu-căng), nghi, tà-kiến.

 

- Vô-sanh: Vô = chẳng có; sanh = sanh trở lại nữa, theo vòng Luân-hồi. Chứng được quả vô-sanh thì chẳng phải chịu cảnh chết đi sống lại và sự khổ-sở của Luân-hồi. Đừng tưởng-lầm vô-sanh là chẳng sanh nữa, tiêu-diệt luôn; trái lại, người chứng quả vô-sanh hằng sống mãi trong cảnh tịch-diệt an-vui của Niết-bàn.

 

- Chánh-trí: Chánh = chơn-chánh, đứng-đắn; Trí = trí-huệ. Đồng một nghĩa với chữ Trí-huệ Bát-nhã Ba-la-mật, cái trí của bực tu-hành đã đến được bờ bên kia, nghĩa là được giác-ngộ và giải-thoát.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện đề-cao ý-chí cương-quyết của một vị Trưởng-lão tinh-tấn hành Thiền, khuất-phục được cơn đau, để chứng được quả-vị A-la-hán.

 

Tích chuyện còn nêu lên việc Ma-vương muốn tìm bắt Trưởng-lão Cơ-thi-ca khi Ngài từ-trần, nhưng chẳng được. Đó là một cách nói trong Kinh-sách, để giải-thích sự vô-sanh: vì chẳng còn phải tái-sanh nữa, sống an-vui trong cảnh Niết-bàn, nên sự cám-dỗ của Ma-vương chẳng có cách nào phá-hại được nữa.

 

(2) Ý-nghĩa của Bài Kệ số 057:

 

Bài Kệ ghi lại con đường tu-tập để tiến lên mục-tiêu đắc được đạo-quả vô-sanh, nghĩa là thoát khỏi được vòng sanh-tử Luân-hồi, chứng-nhập cảnh-giới Niết-bàn an-vui.

 

Thử phân-tách bài Kệ:

 

- Người hằng sống trong lòng tỉnh-thức: đây là đường-lối tu-tâm, luôn luôn giữ chánh-niệm, tỉnh-giác, khiến cho vọng-niệm chẳng thể khởi lên lôi kéo tâm theo còn đường quấy;

 

- Giới-hạnh cao, đạo-đức vẹn-toàn: trì giữ giới-hạnh thật thanh-tịnh, tránh điều dữ, siêng làm việc lành, vừa tạo thêm phước, vừa chuyển-đổi được nghiệp-quả xấu của các đời trước;

 

- Bằng Chánh-trí, giải-thoát xong lậu-hoặc: về mặt tích-cực, phát-triển Trí-huệ Bát-nhã (Chánh-trí) bằng cách siêng tu Thiền-định; về mặt tiêu-cực, tận-diệt các lậu-hoặc, nhứt là ba món độc tham, sân, si.

 

- Ác-ma muốn bắt, biết đâu mà tìm: chứng được quả vô-sanh, chẳng còn bị sự tham-ái lôi kéo vào con đường sanh-tử nữa.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, để tự nhắc nhở lấy con đường tu-tập.

 

2.- Tập ngồi Thiền: buổi đầu nên tập ngồi tĩnh-tâm, yên lặng theo dõi từng hơi thở ra vào, hơi đi tới đâu, tâm theo dõi đến đấy. Thử tập trong mười hơi thở, nghỉ một lát, tập tiếp. Nhớ đừng nghĩ gì cả, khi thở.

The Story of Thera Godhika

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (57) of this book, with reference to Thera Godhika.

Thera Godhika was, on one occasion, diligently practising Tranquillity and Insight Development, on a stone slab on the side of Isigili mountain in Magadha. When he had achieved one-pointedness of the mind (jhana) he became very ill; that impaired the effectiveness of his practice. In spite of his sickness, he kept on striving hard; but every time he was making some progress he was overcome by sickness. He was thus inflicted for six times. Finally, he made up his mind to overcome all obstacles and attain arahatship even if he were to die. So, without relaxing he continued to practise diligently; in the end he decided to give up his life by cutting his throat; at the point of death he attained arahatship.

When Mara learned that Thera Godhika had died, he tried to find out where the thera was reborn but failed to find him. So, assuming the likeness of a young man, Mara approached the Buddha and enquired where Thera Godhika was. The Buddha replied to him, "It will be of no benefit to you to learn of the destination of Thera Godhika; for having been freed of moral defilements he became an arahat. One like you, Mara, for all your power will not be able to find out where such arahats go after death."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 57: Mara cannot find the path taken by those who are endowed with virtue, who live mindfully and have been freed from moral defilements by Right Knowledge.

Dhammapada Verse 57
Godhikattheraparinibbana Vatthu

Tesam sampannasilanam
appamadaviharinam
sammadanna vimuttanam
Maro maggam na vindati.

Verse 57: Mara cannot find the path taken by those who are endowed with virtue, who live mindfully and have been freed from moral defilements by Right Knowledge.1


1. Arahats having eradicated moral defilements are no longer subject to rebirths; so Mara, for all his power, cannot find out where such arahats go after death. (The Commentary)


dhp058_B
dhp059_B
Verse-Kệ 058-059

(44).- Tích chuyện hai người bạn khác đạo - Kệ số 058 và 059

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Kỳ-viên-tự, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến hai người bạn khác đạo nhau và phép mầu hoa sen.

 

Thuở ấy, ở nước Xá-vệ có hai người bạn thân nhau, một người tên là Sĩ-di-cúc, một người tên là Hạ-đinh-nha. Sĩ-di-cúc là một Phật-tử tại-gia rất thuần-thành, còn Hạ-đinh-nha thì theo ngoại-đạo là nhóm loã-thể Ni-kiền-tử. Nhóm ngoại-đạo nầy chống-đối với Đức Phật. Đã nhiều lần, anh Hạ nghe theo lời bọn Ni-kiền-tử, thường khuyên bạn mình nên bỏ đạo Phật mà đi theo nhóm loã-thể. Anh Hạ nói: "Nầy bạn, bạn nên theo học đạo với chúng tôi. Các vị thầy của tôi có được quyền-năng mạnh-mẽ, biết được cả việc quá-khứ, việc hiện-tại và việc tương-lai. Các Ngài còn đọc được tư-tưởng của các người khác nữa!" Anh Sĩ nghe nói thế, muốn biết được sự-thật, nên mới thỉnh nhóm Ni-kiền-tử đến nhà mình để dâng cơm cúng-dường.

 

Anh Sĩ cho đào một hố sâu trước sân, che rạp lại; bên dưới hố để đầy phân và các chất bẩn-thỉu, bên trên lót ván mỏng, kê ghế ngồi. Anh sắp nhiều chậu, chất lá chuối ở dưới, còn bên trên thì để cơm và cà-ri. Khi các người Ni-kiền-tử đến, anh Sĩ mời họ xếp hàng đi vào từng người một, theo thứ-tự đứng trước ghế của mình, rồi cùng ngồi xuống một lượt. Vừa ngồi xuống, thì ghế bật ngả, cả bọn Ni-kiền-tử lọt vào hố phân, la chí-choé. Anh Sĩ to tiếng nói: "Các ông thường khoe là biết cả việc quá-khứ, hiện-tại và vị-lai, đoán rõ được tư-tưởng của người khác, sao lại chẳng biết mình sẽ rơi vào hầm phẩn?" Cả bọn Ni-kiền-tử giận-dữ, vừa nguyền-rủa, vừa bẽn-lẽn, bò lên, bỏ ra về.

 

Thấy những người đồng-đạo của mình bị nhục như thế, anh Hạ rất căm-phẫn; trong hai tuần, chẳng thèm nói chuyện với anh Sĩ. Sau nghĩ được mưu-kế trả thù, anh giả bộ làm lành, đến nhờ anh Sĩ tới cung-thỉnh Đức Phật và chư Tăng đến nhà anh, để anh dâng cơm cúng-dường. Anh Sĩ đến trình Phật việc anh gạt bọn Ni-kiền-tử khi trước, và thưa-thỉnh Ngài nên xét xem có nên nhận lời đến nhà anh Hạ chăng? Đức Phật quán-thấy đã đến cơ-duyên khiến cho đôi bạn Hạ và Sĩ cùng chứng-đắc được đạo-quả Tu-đà-huờn, nên nhận lời, hôm sau đến thọ-thực ở nhà anh Hạ.

 

Để báo thù, anh Hạ cũng đào hố sâu, bên dưới để than hồng, bên trên lót ván, trải thảm và kê ghế ngồi. Các chậu đựng thức ăn cũng chứa đầy lá chuối bên dưới, có chút ít cơm và cà-ri phủ bên trên. Khi Đức Phật và Tăng-đoàn đến nhà, bước lên tấm thảm, thì lạ thay, than hồng dưới hố đều biến mất, và năm trăm cành hoa sen thơm ngát đang vươn lên cao, nở rộng ra, làm toà ngồi cho Đức Phật và các đệ-tử. Trông thấy phép mầu đó, anh Hạ hoảng-hốt đến bên anh Sĩ, nói nhỏ: "Nầy bạn ơi! Làm sao bây giờ? Tôi đã lỡ nhét lá chuối bên dưới các chậu đựng thức ăn, làm sao mà có thực-phẩm để dưng-cúng Phật?" Anh Sĩ bảo bạn, nên xem lại, thì lại lạ-lùng thay, mỗi chậu đựng đầy các thức ăn thơm ngon cả.

 

Sau buổi ngọ-trai, Đức Phật giảng-pháp, nói về hạnh bố-thí; cả hai người bạn thấu hiểu được Chánh-pháp, nên đắc được đạo-quả Tu-đà-huờn. Đức Phật bảo họ: "Các phàm-phu tục-tử chẳng biết các đức-hạnh cao-quí của ngôi Tam-Bảo là Phật, Pháp, Tăng. Họ cũng như những người mù, chỉ có bực hiền-trí, đầy đủ Trí-huệ, như người sáng mắt."

 

Rồi Đức Phật thốt lên hai bài Kệ sau đây:

 

Giữa hố rác dơ bên đại-lộ,

Hoa sen thơm nở, đẹp lòng người.

Cùng thế ấy, giữa chợ đời phàm-tục,

Kẻ mê-mù còn nhung-nhúc nơi nơi.

Nhô lên cao, với trí-huệ sáng ngời,

Người đệ-tử chơn-thành của Đức Phật.

(Kệ số 058 và 059.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa CHỮ:

 

- Phép mầu: phép lạ, các quyền-năng siêu-phàm của người đắc-đạo mà người thường chẳng có được.

 

- Sĩ-di-cúc: tên thật người Phật-tử nầy bằng tiếng Pali là Sirigutta.

 

- Hạ-đinh-nha: tên thật người nầy bằng tiếng Pali là Garahadinna.

 

- Thuần-thành: rất tin-tưởng và trung-thành với Đạo.

 

- Loã-thể: Loã = loã-lồ, chẳng mặc quần-áo; Thể = thân-thể. Phái loã-thể chủ-trương chẳng mặc quần-áo, mính trần, đóng khố che phiá dưới. Nhóm nầy được gọi là Ni-kiền-tử, phiên-âm tiếng Pali là Nigantha.

 

- Quyền-năng = sức-lực, tài-phép.

 

- Siêu-nhiên: Siêu = vượt lên trên; Nhiên = tự-nhiên. Quyền-năng siêu-nhiên là có sức làm những việc khác thường, như bay bổng, đi trên mặt nước, v.v.

 

- Quá-khứ: Quá = đã qua; Khứ = đi; Quá-khứ hay dĩ-vãng là việc đã qua rồi; việc xưa.

 

- Tương-lai: Tương = gần, sắp; Lai = đến; Tương-lai hay vị-lai là việc sắp xãy đến.

 

- Rạp: cái mái lợp che phiá trước nhà, để đón khách.

 

- Căm-phẫn: căm giận lắm.

 

- Cơ-duyên: Cơ =cơ-hội, dịp; Duyên = duyên-cớ. Chữ Cơ-duyên trong Phật-học có nghĩa là dịp tốt, giúp ta thành-tựu được việc gì.

 

- Thọ-thực: Thọ = nhận; Thực = ăn.

 

-Toà ngồi: ghế ngồi. Chỗ Phật ngồi gọi là toà ngồi.

 

- Ngọ-trai: Ngọ = đúng trưa, mười hai giờ trưa; Trai = ăn chay.

 

-Phàm-phu tục-tử: người thường, ít học.

 

- Đại-lộ: Đại = lớn; Lộ = đường đi. Đại-lộ là đường cái, rộng lớn.

 

- Nhung-nhúc = đông-nghẹt.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang hai ý-nghĩa: (1) chê nhóm loã-thể Ni-kiền-tử khoác-lác khoe biết được việc quá-khứ, vị-lai; (2) khen-ngợi người tu-hành có trí-huệ sáng-suốt, biết tin-tưởng ngôi Tam-Bảo.

 

Vấn-đề có thể gây thắc-mắc cho người đọc Kinh là quyền-năng siêu-nhiên của Đức Phật, biến than hồng thành hoa sen để làm toà ngồi. Chẳng có chi đáng trách trong việc nghi-ngờ về phép lạ cả, vì ngày nay, ta chẳng chứng-kiến được việc đó để tin theo. Nhưng vấn-đề có phép lạ hay không, chẳng liên-quan gì với Chánh-pháp mà Đức Phật dạy ta cả. Tại sao? Vì lời dạy của Ngài rất thiết-thực cho đời sống hằng ngày của chúng ta, biết đường ngay, nẻo phải, mà thi-hành theo để khỏi phải chịu khổ-sở mãi trong cuộc sống nơi cõi Luân-hồi. Vả lại, Ngài đã được anh Sĩ-di-cúc báo trước việc trả thù của anh Hạ-đinh-nha, tất nhiên Ngài sẽ đề-phòng, tránh được cạm-bẫy. Việc hoá các hoa sen làm chỗ ngồi cũng thế, giả-dụ Phật nói cho anh Hạ biết rằng Ngài đã biết mưu-kế của anh để hại Ngài, thì chắc anh Hạ cũng sẽ phải nhắc ghế cao mời Ngài ngồi, nào có khác chi là các toà hoa sen.

 

Đọc Kinh-sách, do người sau chép lại, đôi khi có thêm nhiều chi-tiết lạ-thường, để thu-hút những người nhẹ da, mê-tín, ta cần phân-biệt rõ ý-nghĩa sâu-xa của lời Kinh, chớ vội tin theo, hoặc chê bỏ, vì các chi-tiết khác thường đó. Ý-nghĩa quan-trọng ở đây là sự sáng-suốt của người tin theo Chánh-pháp, chẳng bị lừa gạt vì lời khoe-khoang của bọn ngoại-đạo, tự-bảo mình biết việc quá-khứ, vị-lai, biết được tư-tưởng của người khác.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 058 và 059:

 

Hai bài kệ nêu lên hình-ảnh rất đẹp của hoa sen bát-ngát hương thơm giữa hố rác bên đường, để ví với người đệ-tử chơn-thành của Đức Phật. Giữa đám người còn mê-mờ, chạy theo danh-lợi, tranh-giành nhau trong cuộc sống, người đệ-tử Phật sáng-suốt tuân theo Chánh-pháp, trì-giữ giới-hạnh, khiến cho tiếng tốt vang xa, nào có khác chi hương thơm bát-ngát của đoá hoa sen, toả rộng ra, vượt lên khỏi chỗ bẩn-thỉu của hố rác bên đường.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng hai bài Kệ.

 

2.- Tập bỏ các thói mê-tín dị-đoan:

 

- Đi chùa để xin Xâm: đây là thói mê-tín cần dẹp bỏ. Phải tự-nhũ rằng: việc sẽ đến, thế nào cũng đến; chắc gì cây xâm đoán đúng. Chỉ cần biết giữ lòng thành, làm lành lánh dữ, việc hung-hiểm rồi sẽ qua đi; mình sẵn-sàng để đối-phó, cần gì lời tán-tỉnh của thầy bói.,

 

- Đừng nhẹ dạ tin lời đồn-đãi rằng thầy nầy có phép thần-thông, cô kia có tài biến-hoá, mà chạy theo để nhờ cứu-độ cho. Phật độ chúng-sanh, chẳng phải bằng cách hoá phép đưa mọi người đến Niết-bàn, mà Ngài chỉ chỉ cách tu-tập cho mọi người tự-tu để chứng Niết-bàn.

The Story of Garahadinna

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (58) and (59) of this book, with reference to a rich man named Garahadinna and the miracle of the lotus flowers.

There were two friends named Sirigutta and Garahadinna in Savatthi. Sirigutta was a follower of the Buddha and Garahadinna was a follower of the Niganthas, the ascetics who were hostile to the Buddhists. At the instance of the Niganthas, Garahadinna often said to Sirigutta, "What benefit do you get by following the Buddha? Come, be a follower of my teachers." Having been told thus many times, Sirigutta said to Garahadinna, "Tell me, what do your teachers know?" To this, Garahadinna replied that his teachers knew everything; with their great power they knew the past, the present and the future and also the thoughts of others. So, Sirigutta invited the Niganthas to his house for alms-food.

Sirigutta wanted to find out the truth about the Niganthas, whether they really possessed the power of knowing other people's thoughts, etc. So he made a long, deep trench and filled it up with excreta and filth. Seats were then placed precariously over the trench; and big empty pots were brought in and covered up with cloth and banana leaves to make them appear as if they were full of rice and curries. When the Niganthas arrived, they were requested to enter one by one, to stand near their respective seats, and to sit down simultaneously. As all of them sat down, the flimsy strings broke and the Niganthas fell into the filthy trench. Then Sirigutta taunted them, "Why don't you know the past, the present and the future? Why don't you know the thoughts of others?" All the Niganthas then fled in terror.

Garahadinna naturally was furious with Sirigutta and refused to talk to him for two weeks. Then, he decided that he would have his revenge on Sirigutta. He pretended that he was no longer angry, and one day asked Sirigutta to invite, on his behalf, the Buddha and his five hundred disciples to partake of alms-food. So Sirigutta went to the Buddha and invited him to the house of Garahadinna. At the same time, he told the Buddha about what he had done to the Niganthas, the teachers of Garahadinna. He also expressed his fear that this invitation might be a reprisal and so the invitation should be accepted only after due consideration.

The Buddha, with his supernormal power, knew that this would be the occasion for the two friends to attain Sotapatti Fruition, and therefore accepted the invitation. Garahadinna made a trench, filled it with live coals and covered it with mats. He also kept some empty pots covered with cloth and banana leaves to make them appear as if filled with rice and curries. The next day, the Buddha came followed by five hundred bhikkhus in single file. When the Buddha stepped on the mat over the trench, the mat and live coals miraculously disappeared, and five hundred lotus flowers, each as large as a cart wheel, sprang up for the Buddha and his disciples to sit upon.

Seeing this miracle, Garahadinna was very much alarmed and he said rather incoherently to Sirigutta, "Help me, dear friend. Out of my desire for revenge, I have truly done a great wrong. My bad designs have had no effect at all on your Teacher. The pots in my kitchen are all empty. Please help me." Sirigutta then told Garahadinna to go and look at the pots. When Garahadinna found all the pots filled with food he was astounded and at the same time very much relieved and very happy. So the food was offered to the Buddha and his disciples. After the meal, the Buddha expressed his appreciation (anumodana) of the meritorious act and then said, "Ignorant worldlings, lacking in knowledge, do not know the unique qualities of the Buddha, the Dhamma and the Samgha and so they are like the blind; but the wise, having knowledge, are like people with sight."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verses 58 - 59: As a sweet-smelling and beautiful lotus flower may grow upon a heap of rubbish thrown on the highway, so also, out of the rubbish heap of beings may appear a disciple of the Buddha, who with his wisdom shines forth far above the blind (ignorant) worldlings.


At the end of the discourse, both Garahadinna and Sirigutta attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verses 58 and 59
Garahadinna Vatthu

Yatha sankaradhanasmim
ujjhitasmim mahapathe
padumam tattha jayetha
sucigandham manoramam.

Evam sankarabhutesu1
andhabhute puthujjane2
atirocati pannaya
sammasambuddhasavako.

Verses 58 - 59: As a sweet-smelling and beautiful lotus flower may grow upon a heap of rubbish thrown on the highway, so also, out of the rubbish heap of beings may appear a disciple of the Buddha, who with his wisdom shines forth far above the blind (ignorant) worldlings.



1. sankarabhutesu: rubbish heap of beings.

2. andhabhute puthujjane: blind worldlings. The worldlings are like the blind because they are lacking in knowledge.

End of Chapter Four: Flowers (Pupphavagga)

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 583)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 341)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 371)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 302)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 327)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 384)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1125)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 605)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 423)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1300)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 831)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4104)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8320)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1278)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 557652)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
22 Tháng Ba 201811:06 CH(Xem: 1713)
Mấy hôm trước khi nghe pháp Sư giảng lần đầu tiên, con đã rất hỷ lạc suốt mấy ngày liền vì con tin là mình đã tìm được một vị minh sư. Tối hôm qua, khi nghe đến bài " Ai làm cho mình khổ", con lại khóc rất nhiều. Con không ngờ những bài pháp Sư giảng lại tác động mạnh mẽ đến tâm thức con như vậy.
20 Tháng Ba 20188:38 CH(Xem: 730)
Ngày hôm qua, con gặp lại bạn cũ học ĐH và add FB của bạn. Sau khi xem một vài hình ảnh chồng & con lai của bạn (con rất thích con lai) thì tâm con lại bị bấn loạn. Rất nhiều câu hỏi hiện ra trong đầu con như: sao mình như vầy (có công việc tốt, ngoại hình ko quá tệ...) mà ko quen được người tử tế? Làm sao để có được một em bé con lai dễ thương như vậy? ...
06 Tháng Ba 201810:35 CH(Xem: 932)
Lần đầu tiên tôi nghe câu chuyện về võ thuật tôi yêu thích nầy, khi tôi mới bắt đầu học võ karate. Giờ đây tôi kể lại chuyện nầy cho những người học trò của tôi, và chẳng có gì là ngạc nhiên, khi tôi kể lại chuyện nầy cho các khách-hàng qua sự trình diễn cá nhân của tôi và khách-hàng doanh nghiệp của tôi. Đấy không phải là những chuyện nhiều kịch tính,
27 Tháng Hai 20188:42 CH(Xem: 824)
Tôi có quen một ông bạn, ông ta nói rằng ông ta thường xuyên quên chỗ để cây bút, và ông cũng thường xuyên mất bút. Vì thế, ông chỉ xử dụng những cây bút rẻ tiền, để ông ta khỏi phải phiền muộn về chuyện mất bút. Ông lo lắng về thói quen bất cẩn nầy.
14 Tháng Hai 20188:00 SA(Xem: 1228)
* Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi, mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi. Người thương gia lợi tức, người công nhân ấm no. Thoát ly đời gian lao nghèo khó. * Á a a a. Nhấp chén đầy vơi chúc người, người vui. Á a a a. Muôn lòng xao xuyến duyên đời.
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1020)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1829)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1300)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 408)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2569)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
18 Tháng Mười Hai 20187:12 SA(Xem: 408)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 635)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 329)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript
31 Tháng Năm 201810:49 SA(Xem: 1563)
Ngài Thiền Sư Pháp Minh là một trong những vị Cao Tăng, chân tu, thực hành Hạnh Đầu đà vô cùng tinh tấn của Hệ phái Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài ra đi nhưng Ngài vẫn còn sống mãi với hình ảnh là một bậc chân tu khả kính, thực hành Giới-Định-Tuệ, in đậm nét trong tâm trí của toàn thể chư Tăng, Tu nữ và hàng Phật tử gần xa.
08 Tháng Tư 20189:32 CH(Xem: 875)
"Từ kiếp nầy sang kiếp kia, những hạt giống tiếp tục được gieo trồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thần mưa tiếp tục tưới rải nước mưa như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, người nông dân tiếp tục trồng trọt trên cánh đồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thực phẩm tiếp tục tăng trưởng trong cõi người như thế;
30 Tháng Giêng 20181:00 CH(Xem: 4078)
"Một bản chú giải thật sinh động được lưu truyền qua bao thế hệ trên đảo Tích Lan. Nhưng vì tác phẩm viết bằng thổ ngữ địa phương nên sự lợi lạc chẳng đến được các xứ xa xôi. Không chừng tác phẩm sẽ góp phần đắc lực trong việc mang lại an lạc cho hết thảy nhân loại".