Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 13, Phẩm Thế-gian - The Dhammapada, Chapter 13, The World

11 Tháng Mười Hai 20186:38 SA(Xem: 218)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 13, Phẩm Thế-gian - The Dhammapada, Chapter 13, The World

Chapter13-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 13, Phẩm Thế-gian
The Dhammapada, Chapter 13, Lokavagga: The World

(Kệ 167-178 - Verses 167-178)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp167_B
Verse-Kệ 167

(137).- Tích chuyện một tỳ-kheo trẻ - Kệ số 167

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị tỳ-kheo trẻ tuổi.

 

Thuở ấy, có một tỳ-kheo trẻ tuổi cùng đi với một vị Trưởng-lão đến nhà bà nữ-cư-sĩ Vi-sa-kha để khất-thực. Sau khi nhận phần cháo, vị Trưởng-lão bỏ ra đi, vị tỳ-kheo trẻ tuổi còn nán lại. Bấy giờ, người cháu nội gái của bà Vi-sa-kha đang lọc nước để múc cho khách. Khi trông thấy bóng mình trên mặt nước trong lu, cô lặng-lẽ mỉm cười. Ngẩng đầu lên, thấy vị tỳ-kheo đang nhìn mình lom-lom, miệng lại cười, cô gái mắc-cỡ rồi giận-dỗi, xẵng giọng nói: "A, cái ông đầu cạo trọc nầy, sao lại cười ta?"Nghe nói thế, vị tỳ-kheo trẻ tuổi bỗng nổi cơn giận, chẳng giữ gìn lời nói, mắng lại: "Cô mới bị cạo đầu, cha cô, mẹ cô cũng trọc đầu!"Hai bên cãi qua cãi lại, cô gái bật lên khóc và chạy vào mét với bà Vi-sa-kha. Vừa lúc ấy, vị Trưởng-lão cũng quay lại. Hai vị lớn tuổi dùng lời khuyên-răn đôi bên, nhưng chẳng bên nào chịu im tiếng.

 

Một lát sau, Đức Phật đi tới nơi và nghe tiếng cãi-vã om-sòm. Ngài quán-thấy cơ-duyên đã đến cho vị tỳ-kheo trẻ tuổi được chứng quả-vị Tu-đà-huờn, nên dừng chơn lại trước nhà. Sau khi nghe kể qua sự-việc đáng tiếc, Đức Phật biết vị tỳ-kheo còn đang nóng-giận, mới dùng lời-lẽ dịu-dàng nói: "Nầy tín-nữ Vi-sa-kha, vì lý-do gì mà cô cháu nội gái bà sao lại mắng vị tỳ-kheo nầy là kẻ trọc đầu? Ai đi tu, muốn được gia-nhập Tăng-đoàn cũng đều phải cạo đầu cả, có đúng vậy hay không?" Nghe lời Đức Phật nói, vị tỳ-kheo dịu lại, quì xuống đảnh-lễ Đức Phật và bạch rằng: "Bạch Thế-tôn, chỉ có Ngài mới hiểu được con. Thầy con và bà tín-nữ, chẳng ai hiểu con cả." Bấy giờ Đức Phật biết chắc tâm-trạng của vị Tỳ-kheo đã lắng-dịu lại, sẵn-sàng nghe lời Ngài dạy, mới nói: "Nầy tỳ-kheo, mỉm cười nhìn gái dẹp, tâm khởi lên dục-vọng, là đang có tư-tưởng xấu-xa, cần nên tránh."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó vị tỳ-kheo chứng được quả-vị Tu-đà-huờn:

 

Đừng theo đường ti-tiện

Chớ ôm-ấp tà-kiến,

Chẳng buông-lung và chớ kéo dài

Cuộc sống Luân-hồi cõi trần-ai.

(Kệ số 167.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Vi-sa-kha: tên vị tín-nữ giàu lòng bố-hí, nổi tiếng thời Đức Phật. Bà dưng-cúng tu-viện Đông-viên cho Ni-đoàn. Tên tiếng Pali: Visakha

 

- Nhìn lom-lom = nhìn trân-trân, nhìn quá kỹ chẳng nháy mắt.

 

- Cơ-duyên: Cơ = cơ-hội; Duyên = duyên-cớ. Cơ-duyên là dịp may

 

- Tu-đà-huờn: quả-vị đầu-tiên, thấp nhứt; tiếng Pali là Sotàpatti. Người chứng quả Tu-đà-huờn dứt được (1) thân-kiến, chấp thân làm ngã; (2) nghi, chẳng tin vào Chánh-pháp; (3)giới-cấm-thủ, tin theo nghi-lễ của tà-giáo. Quả Tu-đà-huờn còn gọi là Nhập-Lưu, Thất-Lai.

 

- Đảnh-lễ: quì lạy, tỏ lòng kính-trọng.

 

- Tâm-trạng: Tâm = lòng; Trạng = tình-trạng. Tâm-trạng = cõi lòng

 

- Dục-vọng: Dục = ham-muốn; Vọng = mong-cầu. Chữ dục-vọng chỉ sự ham-muốn thú-vui vật-chất, được dùng theo nghĩa xấu.

 

- Ti-tiện: Ti =thấp; Tiện = hèn-hạ.

 

- Tà-kiến: Tà = xiêng-xéo;Kiến = ý-kiến; Tà-kiến là ý-kiến sái-quấy

 

- Buông-lung = chẳng biết tự kềm-chế mình, lười-nhác.

 

- Luân-hồi: Luân = bánh xe; Hồi = trở lại. Cõi Luân-hồi là cảnh chết đi sống lại qua nhiều đời kiếp. Tiếng Pali là samsàra.

 

- Trần-ai: Trần = bụi-bặm; ai = bi-ai, đau-khổ. Cõi trần-ai là cõi đời đầy đau-khổ nầy ở thế-gian.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc một tỳ-kheo chẳng biết giữ-gìn các giác-quan, nhìn gái đẹp mà mỉm cười, lòng khởi lên dục-vọng. Được Đức Phật chỉ dạy, phải biết điều-phục các căn, vị tỳ-kheo chứng được quả Tu-đà-huờn. Ý-nghĩa của Tích chuyện là phải giữ-gìn các giác-quan, chẳng buông-lung chạy theo cảnh-vật bên ngoài, phải biết thanh-lọc tâm-ý, khiến cho khỏi phải mãi trôi lăn trong cảnh sanh-tử, tử-sanh của vòng Luân-hồi lẩn-quẩn.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 167:

 

Thử phân-tách từng câu của bài Kệ:

 

1) Đừng theo đường ti-tiện: đường ti-tiện là đường thấp-kém, hèn-hạ. Đường nào? Đó là để cho các giác-quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, chạy theo cảnh cám-dỗ bên ngoài mà thoả-mãn các thú-vui vật-chất tạm-bợ và chẳng thanh-cao.

 

2) Chớ ôm-ấp tà-kiến: Tà-kiến là ý-tưởng sái-quấy, như (1)chấp thân nầy thường-còn, là Ta, lo bảo-vệ mà quên phần tinh-thần để đi đến giác-ngộ và giải-thoát; (2) như chấp vào đoạn-kiến, cho rằng chết đi là hết, chẳng có Luân-hồi, quả-báo chi cả, nay còn sống, cứ lo hưởng-thọ trước, kẻo chết thì chẳng còn gì; (3) như chấp vào các thủ-tục cúng-tế của tà-giáo, giết thú-vật cúng tế các tà-thần để cầu phước. - Hễ ôm-ấp tà-kiến thì tâm chẳng thanh-tịnh, bị tà-kiến làm vẩn-đục, chẳng phát-triển được Trí-huệ.

 

3) Chẳng buông-lung và chớ kéo dài cuộc sống Luân-hồi cõi trần-ai: Hai câu nầy khuyên ta nên cố-gắng tu-tập tinh-tấn, để sớm chấm-dứt cuộc sống sướng ít khổ nhiều trên thế-gian. Buông-lung hay Phóng-dật, có nghĩa là lười-nhác, sống buông-trôi, chẳng biết tự-kềm-chế; như thế sẽ cứ phải hết đời nầy sang đời khác chịu nghiệp-báo mà tái-sanh mãi trong vòng lẩn-quẩn của Luân-hồi. Cuộc sống Luân-hồi cõi trần-ai là gì? Đó là phải sanh ra chịu khổ, sống đời sướng ít khổ nhiều, đau bịnh rồi chết, lại phải tái-sanh lại nữa, vì thế mới gọi là cõi trần-ai, cõi đầy bụi-bặm, đầy đau-khổ.

 

Ý-nghĩa của bài Kệ khuyên ta nên sớm tỉnh-ngộ, nhận ra cõi đời nầy là khổ, phải biết cách tu-hành, để được giác-ngộ và giải-thoát khỏi cảnh sanh-tử Luân-hồi.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, ghi nhớ: muốn chẳng kéo dài cuộc sống trần-ai, phải tìm cách ra khỏi Luân-hồi, thân-tâm được giải-thoát.

 

2.- Răn dạy trẻ: chớ chọc người đầu trọc, phải kính bực tu-hành.

The Story of a Young Bhikkhu

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (167) of this book, with reference to a young bhikkhu.

Once, a young bhikkhu accompanied an older bhikkhu to the house of Visakha. After taking rice gruel, the elder bhikkhu left for another place, leaving the young bhikkhu behind at the house of Visakha. The granddaughter of Visakha was filtering some water for the young bhikkhu, and when she saw her own reflection in the big water pot she smiled. Seeing her thus smiling, the young bhikkhu looked at her and he also smiled. When she saw the young bhikkhu looking at her and smiling at her, she lost her temper, and cried out angrily, "You, a shaven head! Why are you smiling at me ?" The young bhikkhu reported, "You are a shaven head yourself; your mother and your father are also shaven heads!" Thus, they quarrelled, and the young girl went weeping to her grandmother. Visakha came and said to the young bhikkhu, "Please do not get angry with my grand daughter. But, a bhikkhu does have his hair shaved, his finger nails and toe nails cut, and putting on a robe which is made up of cut pieces, he goes on alms-round with a bowl which is rimless. What this young girl said was, in a way, quite right, is it not?" The young bhikkhu replied. "It is true but why should she abuse me on that account ?" At this point, the elder bhikkhu returned; but both Visakha and the old bhikkhu failed to appease the young bhikkhu and the young girl.

Soon after this, the Buddha arrived and learned about the quarrel. The Buddha knew that time was ripe for the young bhikkhu to attain Sotapatti Fruition. Then, in order to make the young bhikkhu more responsive to his words, he seemingly sided with him and said to Visakha, "Visakha, what reason is there for your grand daughter to address my son as a shaven head just because he has his head shaven? After all, he had his head shaven to enter my Order, didn't he?"

Hearing these words, the young bhikkhu went down on his knees, paid obeisance to the Buddha, and said, "Venerable Sir! You alone understands me; neither my teacher nor the great donor of the monastery understands me." The Buddha knew that the bhikkhu was then in a receptive mood and so he said, "To smile with sensual desire is ignoble; it is not right and proper to have ignoble thoughts."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 167: Do not follow ignoble ways, do not live in negligence, do not embrace wrong views, do not be the one to prolong samsara (lit., the world).


At the end of the discourse, the young bhikkhu attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 167
Daharabhikkhu Vatthu

Hinam dhammam na seveyya
pamadena na samvase
micchaditthim na seveyya
na siya lokavaddhano.

Verse 167: Do not follow ignoble ways, do not live in negligence, do not embrace wrong views, do not be the one to prolong samsara (lit., the world).


dhp168_B
dhp169_B
Verse-Kệ 168-169

(138).- Tích chuyện vua Tịnh-phạn - Kệ số 168 và 169

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Cây Sung, gần thành Ca-tỳ-la-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Vua Tịnh-phạn là cha của Thái-tử Tất-đạt-ta khi chưa xuất-gia đi tu thành Phật.

 

Thuở ấy, trong một dịp trở về viếng thăm lại thành Ca-tỳ-la-vệ, Đức Phật ngụ tại chùa Cây Sung; nơi đây Ngài đem Chánh-pháp ra giảng-dạy cho thân-nhơn trong dòng họ Thích-ca. Đức Vua Tịnh-phạn nghĩ rằng thế nào Đức Phật cũng đến hoàng-cung, nên chẳng thỉnh Đức Phật, mà lại lo chuẩn-bị thức ăn cho hơn cả ngàn tỳ-kheo, để chờ Đức Phật đến.

 

Sáng sớm hôm ấy, công-chúa Gia-du-đà-la, vợ của Thái-tử Tất-đạt-ta, nhìn qua khung cửa sổ, thấy Đức Phật đang mang bình bát đi khất-thực từng nhà. Công-chúa vội đi báo với Vua Tịnh-phạn. Vua Cha tức-tốc chạy đến bên Đức Phật, bảo rằng, thật là nhục-nhã cho một người dòng Sát-đế-lợi mà phải đi ăn xin từng nhà. Đức Phật đáp lại rằng, khất-thực là một hạnh cao-quí, được tất cả chư Phật trong ba đời thi-hành, nên nay Ngài tuân-theo hạnh đó, là đang giữ đúng truyền-thống đó, có chi đâu là nhục-nhã.

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Hãy hăng-hái và đừng phóng-dật

Mà lãng-xao hạnh khất-sĩ nầy.

Trang-nghiêm chánh-hạnh hành-trì

Thế-gian hưởng lạc đời nầy, đời sau.

(Kệ số 168.)

 

Đừng theo tà-hạnh mà phóng-dật,

Hãy nghiêm-trì hạnh khất-sĩ nầy.

Trang-nghiêm chánh-hạnh hành-trì

Thế-gian hưởng lạc đời nầy, đời sau.

(Kệ số 169.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tịnh-phạn: tên vua cha của Thái-tử Tất-đạt-ta, Pali: Suddhodana

 

- Chùa Cây Sung: tạm dịch chữ Pali là Nigrodhàràma; chữ Nigrodha là một loại cây to như cây da, trái giống trái sung của ta.

 

- Ca-tỳ-la-vệ: thành nầy là nơi Thái-tử Tất-đạt-ta sống khi chưa đi tu, nay thuộc phần đất của Nepal. Tên tiếng Pali là Kapilavatthu.

 

- Gia-du-đà-la: vợ của Thái-tử Tất-đạt-ta, tiếng Pali là Yasodhàra.

 

- Tức-tốc: Tức = lập-tức; Tốc = nhanh.Tức-tốc là thật nhanh.

 

- Sát-đế-lợi = giai-cấp vua quan ở Ấn-độ xưa, tiếng Pali: Khattiya

 

- Truyền-thống: Truyền = trao lại; Thống = nối tiếp theo. Truyền-thống là thông-lệ được truyền lại từ nhiều đời, để tuân theo.

 

- Lãng-xao = xao-lãng, bỏ phế, bỏ quên chẳng làm tiếp nữa.

 

- Khất-sĩ, Khất thực: Khất = đi xin; Sĩ = người; Thực = ăn. Hạnh khất-sĩ là hạnh đi xin ăn, chẳng có nghề riêng để sanh-sống. Đây là giới-luật Phật đặt ra, buộc tu-sĩ phải khuất mình đi xin ăn để nén lòng tự-ái xuống, và có dịp gặp dân-chúng để chỉ-dạy đường-lối tu-hành.

 

- Phóng-dật = lười-biếng, buông trôi, chẳng tha-thiết đến.

 

- Chánh-hạnh = hạnh tu căn-bản, lối tu chơn-chánh nhứt.

 

- Tà-hạnh = trái với chánh-hạnh. Tà-hạnh là hành-động xấu-ác.

 

- Hành-trì: Hành = làm; Trì = giữ-gìn. Hành-trì là chuyên làm theo.

 

- Thế-gian: Thế = đời; Gian = khoảng; Thế-gian ở đây có nghĩa là đời sống bình-thường, có gia-đình, còn chưa đi tu. Xuất-thế-gian có nghĩa là rời cuộc sống thế-tục, đi tu để được giải-thoát.

 

- Hưởng lạc: Lạc = vui sướng. Hưởng lạc = được vui-sướng.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc Đức Phật về đến gần hoàng-cung xưa, mà vẫn đi khất-thực. Vua Cha cho đó là nhục-nhã. Đức Phật bảo, hạnh khất-sĩ cao-quí, nên nghiêm-trì mãi: đó là ý-nghĩa của Tích chuyện.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 168 và 169:

 

Hai bài Kệ giống nhau, nói về hạnh khất-sĩ, khuyên đừng vì phóng-dật, tà-hạnh mà xao-lãng hạnh khất-sĩ. Ngày nay, vì cuộc sống thay-đổi, hạnh nầy ít được thi-hành ở các chùa thuộc Bắc-tông.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc lòng hai bài Kệ, ghi nhớ: hạnh khất-sĩ rất cao-quí, chớ chẳng phải vì lười-biếng chẳng có nghề sanh-sống mà phải đi xin.

The Story of King Suddhodana

While residing at the Nigrodharama monastery, the Buddha uttered Verses (168) and (169) of this book, with reference to King Suddhodana, father of Gotama Buddha.

When the Buddha revisited Kapilavatthu for the first time he stayed at the Nigrodharama monastery. There, he expounded the Dhamma to his relatives. King Suddhodana thought that Gotama Buddha, who was his own son, would go to no other place, but would surely come to his palace for alms-food the next day; but he did not specifically invite the Buddha to come for alms-food. However, the next day, he prepared alms-food for twenty thousand bhikkhus. On that morning the Buddha went on his alms-round with a retinue of bhikkhus, as was the custom of all the Buddhas.

Yasodhara, wife of Prince Siddhattha before he renounced the world, saw the Buddha going on an alms-round, from the palace window. She informed her father-in-law, King Suddhodana, and the King went in great haste to the Buddha. The king told the Buddha that for a member of the royal Khattiya family, to go round begging for food from door to door was a disgrace. Whereupon the Buddha replied that it was the custom of all the Buddhas to go round for alms-food from house to house, and therefore it was right and proper for him to keep up the tradition.

Verse 168: Do not neglect the duty of going on alms-round; observe proper practice (in going on alms-round). One who observes proper practice lives happily both in this world and in the next.

 

Verse 169: Observe proper practice (in going on alms-round); do not observe improper practice. One who observes proper practice lives happily both in this world and in the next.


At the end of the discourse the father of Gotama Buddha attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verses 168 and 169
Suddhodana Vatthu

Uttitthe nappamajjeyya
dhammam sucaritam
1 care
dhammacari sukham seti
asmim loke paramhi ca.

Dhammam care sucaritarm
na nam duccaritam2 care
dhammacari sukham seti
asmim loke paramhi ca.

Verse 168: Do not neglect the duty of going on alms-round; observe proper practice (in going on alms-round). One who observes proper practice lives happily both in this world and in the next.

Verse 169: Observe proper practice (in going on alms-round); do not observe improper practice. One who observes proper practice lives happily both in this world and in the next.


1. dhammam sucaritam: proper practice. The Commentary says that here proper practice means stopping for alms-food at one house after another in the course of the alms-round except where it is not proper to go (such as a courtesan's house).

2. na nam duccaritam: improper practice. Here it means not observing the above rules.


dhp170_B
Verse-Kệ 170

(139).- Tích chuyện các tỳ-kheo quán-tưởng bọt nước - Kệ số 170

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến các tỳ-kheo quán-tưởng về bọt nước.

 

Thuở ấy, có một nhóm khá đông tỳ-kheo được Đức Phật chỉ-dạy cho mỗi người một đề-tài thiền-quán, cùng đi vào rừng để thực-tập thiền-định. Mặc dầu họ đã cố-gắng tinh-tấn tu-hành, nhưng họ chẳng có chút tiến-bộ nào đáng kể. Họ định quay về chùa để thưa hỏi lại Đức Phật và được chỉ dạy thêm. Trên đường về, họ trông thấy một ảo-ảnh và quán-tưởng về ảo-ảnh đó. Đến khi bước chơn vào khuôn viên chùa, trời đổ mưa, nhiều hạt mưa to rơi từ mái ngói xuống vũng nước, bong-bóng nước lóng-lánh nổi lên, phập-phồng, rồi tan-vỡ. Nhìn các bọt nước nổi lên chẳng mấy chốc lại vỡ, họ liền suy-nghĩ sâu-xa: "Tấm thân tứ-đại nầy của ta, cũng chẳng khác chi các bọt nước kia, chẳng bền-vững, thường-còn; năm uẩn nơi thân-tâm nầy, rồi cũng rời nhau ra mà hoại-diệt theo lẽ vô-thường."

 

Bấy giờ, Đức Phật từ nơi hương-phòng, quán-thấy các tỳ-kheo ngoài hiên chùa, đang trầm-ngâm suy-tưởng về lẽ vô-thường, Ngài liền đi đến và bảo: ‘Nầy chư Tăng, các vị đang đi đúng đường-lối quán-tưởng, nhìn bọt nước mà biết được lẽ vô-thường của tấm-thân năm uẩn. Nên tiếp-tục theo con đường đó."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó mà số lớn các tỳ-kheo chứng được quả-vị A-la-hán:

 

Nhìn bọt nước thế nào,

Xem ảo-ảnh ra sao,

Quán thế-gian cũng vậy.

Muốn bắt được người ấy,

Thần Chết tìm chẳng thấy.

(Kệ số 170.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Quán-tưởng: Thiền-quán = suy-tưởng thật sâu-xa khi ngồi Thiền, nhập định. Khi tâm đã an-định, trí hành-giả bắt đầu cứu-xét về đề-tài thiền-quán, tư-tưởng tập-trung vào đề-tài, để phát-hiện lên Sự-thật.

 

- Ảo-ảnh: Ảo = giả, chẳng thật có; Ảnh = hình-bóng. Ảo-ảnh là hình-bóng giả-tạm, tuy mắt trông-thấy, nhưng bóng ấy chẳng thật có. Thí-dụ như lấy tay dụi mắt, nhìn lên thấy có nhiều đóm sáng như ngôi sao, các đóm đó chẳng thật có, nên gọi là ảo-ảnh.

 

- Thân tứ-đại: Tứ = bốn; Đại = lớn. Tứ-đại, trong Phật-học chỉ về bốn chất: đất, nước, gió, lửa; còn có nghĩa là bốn chất cứng, lỏng, hơi, nóng trong thân ta. Thân tứ-đại nầy do các chất đó hoà-hiệp với nhau mà thành, khi bốn chất ấy rời nhau ra, thì chết. Đó là lẽ vô-thường.

 

- Năm uẩn: Uẩn = nhóm họp và che-mờ. Phật-học phân-tách thân-tâm con người ra làm năm phần, gọi là năm uẩn ( = năm ấm): (1)sắc-uẩn ( =thân-thể vật-chất), (2) thọ-uẩn ( =các tình-cảm); (3)tưởng-uẩn ( =các tư-tưởng); (4) hành-uẩn ( = các hành-động); (5)thức-uẩn ( =các sự hiểu-biết). Bốn uẩn sau, thọ, tưởng, hành, thức, thuộc về tâm. Khi quán thấy năm uẩn hoà-hiệp nhau mà thành thân-tâm, hễ chúng rời nhay ra là chết, đó là quán-thấy được lẽ vô-thường của thân năm uẩn.

 

- Hương-phòng: căn phòng có hương thơm dành riêng cho Đức Phật; tiếng Pali là Gandhakutì.

 

- Vô-thường: Vô =chẳng; Thường = thường-còn. Lẽ vô-thường là định-luật thiên-nhiên theo đó, chẳng có vật nào có hình-thể mà chẳng biến-đổi, rồi hư-hoại với thời-gian. Hiểu lẽ vô-thường là biết được sự tạm-bợ của muôn vật trên thế-gian, dứt bỏ sự tham-luyến và tìm về sự hằng-còn của cảnh-giới Niết-bàn an-lạc.

 

- A-la-hán: quả vị thứ tư, cao nhứt, dứt hết phiền-não, chẳng bị tái-sanh trong Luân-hồi nữa. Tiếng Pali là Arahant.

 

- Thần Chết tìm chẳng thấy = hễ Thần Chết tìm chẳng thấy, thì chẳng bị chết nữa, có nghĩa là đã đắc được A-la-hán, vào Niết-bàn.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, chẳng có chi là ly-kỳ cả (!!!): một nhóm tỳ-kheo nhìn ảo-ảnh, bọt nước, mà suy ra lẽ vô-thường của thân-tâm và của muôn vật trên thế-gian. Ý-nghĩa: biết được lẽ vô-thường, liền rời sự tham-luyến, nỗ-lực tu-tập để chứng quả vô-sanh của Niết-bàn.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 170:

 

Bài Kệ chia ra hai phần: (1) cách quán-tưởng bọt nước, ảo-ảnh và thế-gian; (2)hai câu chót nói về kết-quả của việc quán-tưởng đã thành-công, chứng được vô-sanh, chẳng bị chết nữa vì hết tái-sanh.

 

Cách quán-tưởng bọt nước và ảo-ảnh như thế nào? Trước hết, ta phải biết quán-tưởng cho đúng cách. Như đã biết, quán-tưởng là suy-nghĩ thật sâu-xa, tâm nhìn vào bên trong tâm. Tâm nhìn vào bên trong tâm cách nào? Điều nầy có nghĩa là, các giác-quan chẳng hướng về cảnh-vật bên ngoài nữa, mắt tuy có mở nhưng chẳng thấy vật, tai còn đó nghe tiếng nhưng chẳng để-ý đang nghe gì, khiến cho tâm ở yên, vắng-lặng, rồi khởi lên hình-ảnh trong tâm, tâm chỉ nghĩ và chỉ thấy đến đề-tài quán-tưởng, đề-tài đó là bọt nước. Khi tâm nhìn thấy trong tâm, có bọt nước đó, nổi lên, lóng-lánh, phập-phồng, rồi chẳng mấy chốc, bọt nước lại bể phụt mất. Tâm nhìn bọt nầy bể, bọt kia phồng lên rồi bể, nhiều lần như thế, sẽ đi đến kết-luận, bọt nước chẳng bền, có đó rồi mất đó. Khi nghĩ ra được kết-luận đó, tâm đang thấy được lẽ vô-thường của mọi sự-vật) Cách quán ảo-ảnh cũng như thế. Chọn các ảo-ảnh: như bóng trăng rọi xuống mặt hồ nước, như đám mây bay trên trời trông giống hình con vật nào đó, v.v. Quán như trên về các ảo-ảnh vừa nói, để nhận ra sự giả-tạm của ảo-ảnh. Khi nghĩ ra được kết-luận về sự giả-tạm đó, là tâm đã quán đúng cách.

 

Bài Kệ nói: quán bọt nước, ảo-ảnh như thế nào, thì quán thế-gian cũng như thế ấy. Điều nầy có nghĩa là muôn vật có hình-tướng ở thế-gian, đều vô-thường như bọt nước, đều giả-tạm như ảo-ảnh. Vạn vật rất nhiều, trong một lúc chẳng nhìn thấy trong tâm hết cả được. Muốn biết muôn vật đều vô-thường và giả-tạm, tâm ta hãy cố tìm xem, có vật nào trong vũ-trụ nầy, mà tồn-tại mãi mãi không. Câu trả lời là chẳng có, nhờ đó tâm quán thấy thế-gian vô-thường và giả-tạm.

 

Khi ngồi Thiền, quán-tưởng như trên có ích lợi gì? Nhờ quán-tưởng đúng cách, tâm lọc bỏ được các tà-kiến, các phiền-não, để trở nên trong-sạch hơn. Đó là cách thanh-lọc tâm-ý của phép tu tâm.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc bài Kệ, ghi nhớ lẽ vô-thường của muôn vật.

 

2.- Xin đọc lại nhiều lần trang nầy và áp-dụng lối quán-tưởng.

The Story of Five Hundred Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (170) of this book, with reference to five hundred bhikkhus.

On one occasion, five hundred bhikkhus, after taking a subject of meditation from the Buddha, went into the forest to practise meditation. But they made very little progress; so they returned to the Buddha to ask for a more suitable subject of meditation. On their way to the Buddha, seeing a mirage they meditated on it. As soon as they entered the compound of the monastery, a storm broke out; as big drops of rain fell, bubbles were formed on the ground and soon disappeared. Seeing those bubbles, the bhikkhus reflected "This body of ours is perishable like the bubbles", and perceived the impermanent nature of the aggregates (khandhas).

The Buddha saw them from his perfumed chamber and sent forth the radiance and appeared in their vision.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 170: If a man looks at the world (i.e., the five khandhas) in the same way as one looks at a bubble or a mirage, the King of Death will not find him.


At the end of the discourse, those five hundred bhikkhus attained arahatship.

Dhammapada Verse 170
Pancasatavipassakabhikkhu Vatthu

Yatha pubbulakam passe
yatha passe maracikam
evam lokam avekkhantam
1
maccuraja na passati.

Verse 170: If a man looks at the world (i.e., the five khandhas) in the same way as one looks at a bubble or a mirage, the King of Death will not find him.


1. evam jokam avekkhantam: one who looks at the world in the same way, i.e., looks at the world as being impermanent as a bubble and as non-material as a mirage.


dhp171_B
Verse-Kệ 171

(140).- Tích chuyện Vương-tử Vô-uý - Kệ số 171

 

(Tích chuyện nầy giống với Tích chuyện số 115 về vị đại-thần San-tạ-tị.)

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-viên, gần thành Vương-xá, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Vương-tử Vô-úy.

 

Thuở ấy, vương-tử Vô-uý vừa đắc-thắng quân giặc ở biên-cương trở về thành, được vua Tần-bà-sa-la, nước Ma-kiệt-đà, ban-thưởng cho rất trọng-hậu. Món quà quí là một nàng vũ-nữ thật xinh đẹp, múa hát trong bảy ngày đêm để mua vui cùng Vương-tử. Đến đêm thứ bảy, vì quá cố sức, cô vữ -nữ ngã lăn ra chết về bịnh tim. Vương-tử rất đau buồn trước cái chết đột-ngột của người yêu, mới tìm đến Đức Phật để nghe lời an-ủi.

 

Đức Phật bảo Vương-tử Vô-uý rằng: "Nầy Vương-tử, số-lượng nước mắt mà Vương-tử đã khóc các người thân-yêu, trải qua các số-kiếp của Luân-hồi, còn nhiều hơn nước biển các đại-dương. Thế-gian của thân-tâm ngũ uẩn nầy đầy đau-khổ, chỉ có những người còn ngu-muội mới mê-say, chìm-đắm trong đó."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Nào, hãy nhìn cõi thế-gian nầy

Như xe Vua trang-hoàng lộng-lẫy.

Kẻ cuồng-dại đắm chìm cõi ấy,

Người hiền-trí chẳng chút mê-say.

(Kệ số 171.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Vương-tử Vô-uý: Vương-tử = con cháu của Vua; chữ Vô-úy, có nghĩa là chẳng hề sợ-hãi, được dùng để dịch chữ Abhaya, tiếng Pali. Trọn tên của Vương-tử Vô-uý là Abhayaràjakumàra.

 

- Trúc-viên, Vương-xá: tịnh-xá nầy xây trong vườn Trúc, do Vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara) cúng cho Tăng-đoàn. Tên Pali Truc-viên là Veluvana, thành Vương-xá là Ràjagaha; nước Ma-kiệt-đà là Magadha.

 

- Trọng-hậu = nhiều và quí-báu lắm.

 

- Vũ-nữ = người con gái múa hát, giúp vui cho đàn-ông.

 

- Đột-ngột = quá nhanh và chẳng ngờ được.

 

- Đại-dương = biển lớn, như Thái-bình-dương, Đại-tây-dương.

 

- Thân-tâm ngũ-uẩn: Ngũ = năm. Xin xem lại thân-tâm năm uẩn ở bài trước, trang 439.

 

- Thế-gian: Thế = đời; Gian = khoảng. Nghĩa thông-thường của chữ Thế-gian là nói đến vũ-trụ, vạn-vật; ở đây chữ Thế-gian được Đức Phật dùng theo nghĩa hẹp, chỉ vào thân-tâm, coi như một vũ-trụ nhỏ.

 

- Cuồng-dại = điên-khùng, chẳng có trí-huệ, còn ngu-si.

 

- Hiền-trí: Hiền = hiền-lành; Trí = trí-huệ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc Vương-tử Vô-uý đau-buồn mến tiếc người yêu là cô vũ-nữ xinh-đẹp đã chết đột-ngột. Đức Phật khuyên đừng luyến-tiếc tấm thân năm uẩn nầy, vì nó vô-thường.

 

Ý-nghĩa: đừng đắm-say thế-gian vô-thường, phải tìm cách tu-hành để vượt khỏi cảnh sanh-tử của Luân-hồi đau-khổ.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 171:

 

Hai câu đầu của bài Kệ so sánh thế-gian nầy với chiếc xe Vua được trang-hoàng lộng-lẫy. Sự so-sánh nầy hơi khó hiểu; nhưng nếu ta biết Đức Phật xem thân-tâm nầy như một vũ-trụ nhỏ, một thế-gian thu-hẹp lại, thì sự so-sánh sẽ rõ-ràng. Tại sao trang-hoàng lộng-lẫy? Xe đó của Vua ám-chỉ vào thân-tâm ( = thế-gian), nên thân-tâm ấy được trang-sức đẹp-đẽ, dồi phấn thoa son, v.v.

 

Hai câu chót nêu sự khác-biệt về thái-độ giữa người còn ngu-si với người hiền-trí đã giác-ngộ.

 

Ý-nghĩa của bài Kệ khuyên ta chớ nên tham-luyến vào thân-tâm năm uẩn, tuy nay được chưng-diện đẹp-đẽ, nhưng rồi sẽ bị tan-hoại theo thời-gian.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, ghi nhớ: đừng say-đắm cảnh thế-gian.

 

2.- Thực-tập quán-tưởng về thân bất-tịnh, thân-tâm vô-thường.

The Story of Prince Abhaya

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (71) of this book, with reference to Prince Abhaya (Abhayarajakumara).

On one occasion, Prince Abhaya triumphantly returned after suppressing a rebellion at the frontier. King Bimbisara was so pleased with him that for seven days, Abhaya was given the glory and honour of a ruler, together with a dancing girl to entertain him. On the last day, while the dancer was entertaining the prince and his company in the garden, she had a severe stroke; she collapsed and died on the spot. The prince was shocked and very much distressed. Sorrowfully, he went to the Buddha to find solace. To him the Buddha said, "O prince, the tears you have shed all through the round of rebirths cannot be measured. This world of aggregates (i.e., khandhas) is the place where fools flounder."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 171: Come, look at this world (i.e., the five khandhas), which is like an ornamented royal carriage. Fools flounder in this world of the khandhas, but the wise are not attached to it.

Dhammapada Verse 171
Abhayarajakumara Vatthu

Etha passathimam lokam
cittam rajarathupamam
yattha bala visidanti
nattbi sango vijanatam.

Verse 171: Come, look at this world (i.e., the five khandhas), which is like an ornamented royal carriage. Fools flounder in this world of the khandhas, but the wise are not attached to it.


dhp172_B
Verse-Kệ 172

(141).- Tích chuyện Trưởng-lão Sầm-mạc-gia - Kệ số 172

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Sầm-mạc-gia.

 

Thuở ấy có tỳ-kheo Sầm-mạc-gia cả ngày chỉ lo việc quét tước quanh chùa Kỳ-viên. Cùng tu-tập chung trong chùa có Trưởng-lão Lê-va-ta, trái lại, cả ngày chỉ ngồi Thiền nhập định. Tỳ-kheo Sầm thấy thái-độ của Trưởng-lão Lê, cả ngày chỉ ngồi yên, im-lặng, cho rằng Trưởng-lão đã lãng-phí thời-giờ. Một hôm, tỳ-kheo Sầm đến nói với Trưởng-lão: ‘Nầy ông Lê, cả ngày tôi thấy ông chỉ ngồi yên, chẳng làm gì cả. Như thế là lười-biếng, chỉ biết sống nhờ vào sự tín-thí của các đàn-việt mà thôi." Trưởng-lão Lê đáp: "Nầy đạo-hữu, một vị tỳ-kheo chẳng nên để trọn hết thì-giờ của mình mà quét-tước cả ngày. Vị ấy nên quét dọn vào sáng sớm, xong lên đường đi khất-thực. Trở về, thọ-trai xong, vị ấy hoặc quán-tưởng về thân-tâm năm uẩn nầy, để biết rõ bản-thể của các uẩn ấy, hoặc đọc-tụng kinh-điển cho đến chiều tối. Bấy giờ, nếu muốn, có thể ra quét sân thêm." Tỳ-kheo Sầm nghe kỹ lời dạy đó, chuyên-cần thực-hành theo đúng, nên chẳng bao lâu chứng-đắc được quả-vị A-la-hán.

 

Các vị tỳ-kheo khác nhận thấy dạo nầy, các đống rác quanh chùa chẳng thấy được quét dọn, mới hỏi tỳ-kheo Sầm-mạc-gia, sao bây giờ chẳng còn chăm quét-tước như trước nữa. Tỳ-kheo Sầm đáp: "Ngày trước, tâm tôi còn nhiều phiền-não và vọng-tưởng, thiếu sự tỉnh-giác, nên tôi phải quét cho sạch. Đến ngày nay, tâm tôi thanh-tịnh, lúc nào cũng tỉnh-giác, nên chẳng cần quét nữa." Các vị đồng-tu cho rằng tỳ-kheo chẳng nói đúng sự-thật, tự cho mình đã chứng A-la-hán, mới đến bạch cùng Phật. Đức Phật bảo: " Tỳ-kheo Sầm-mạc-gia đã nói đúng sự-thật, vì đã chứng-đắc được quả-vị A-la-hán."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người trước kia buông-lung, phóng-dật,

Về sau, biết tỉnh-giác chuyên-cần,

Ánh quang-minh soi khắp thế-gian,

Như trăng sáng thoát mây che lấp.

(Kệ số 172.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Sầm-mạc-gia: tên vị tỳ-kheo nầy, tiếng Pali là Sammajjana.

 

- Lê-va-ta: tên vị Trưởng-lão nầy, tiếng pa-li là Revata.

 

- Ngồi Thiền nhập Định: Thiền = chữ Phạn là Thiền-na (Dhyana), có nghĩa là tâm rời cảnh-vật bên ngoài, đang suy-nghĩ thật sâu-xa; Định = dịch chữ Phạn Tam-muội (Samadhi), có nghĩa là tâm an-tịnh, chẳng lay-động, ý dừng lại và chú-tâm vào cảnh vắng-lặng.

 

- Lãng-phí thời-giờ: buông-lung, sống thả trôi, chẳng làm việc chi có ích-lợi cả, làm mất thời-giờ.

 

- Tín-thí: Tín = tin-tưởng; Thí = cho, hiến-tặng. Sự tín-thí là sự bố-thí do lòng tin-tưởng của kẻ tại-gia tặng cho các vị tu-hành xuất-gia.

 

- Đàn-việt: phiên-âm tiếng Phạn Dânapati, dịch nghĩa là thí-chủ, người bố-thí giúp cho kẻ tu-hành.

 

- Đạo-hữu: Đạo = đường-lối tu-hành; Hữu = bạn-bè, bạn-hữu. Chữ đạo-hữu thường dùng để chỉ các người tu chung theo một tôn-giáo.

 

- Thọ-trai: Thọ = nhận; Trai = ăn cơm chay. Thọ-trai là tiếng nhà chùa, có nghĩa là dùng bữa cơm chay.

 

- Quán-tưởng = suy-nghĩ sâu-xa, trong sự an-tịnh, về một đề-tài.

 

- Thân-tâm năm uẩn: Uẩn = Ấm = nhóm họp lại và che-mờ. Thân-tâm năm uẩn là thân và tâm gồm có năm uẩn: (1) sắc-uẩn là tấm thân vật-chất; (2) thọ-uẩn là các tình-cảm; (3) tưởng-uẩn là các tư-tưởng; (4) hành-uẩn là các hành-động; (5) thức-uẩn là các sự hiểu-biết. Bốn uẩn sau: thọ, tưởng, hành, thức nhóm-hợp nhau lại mà thành cái tâm.

 

- Bản-thể của các uẩn: Bản-thể = thể-chất riêng-biệt và thật-sự. Nói "biết rõ bản-thể của các uẩn" là muốn nói, đã biết rõ các uẩn ấy rỗng-rang, vì sự nhóm-họp chung lại mà có, chớ tự chúng chẳng có một bản-thể nào riêng-biệt. Vì tập-hợp lại mà có, nên khi rời nhau ra, thì trở nên không, đó là bản-thể rỗng-rang của năm uẩn.

 

- Quả-vị A-la-hán: Quả-vị = kết-quả của sự tu-tập đã thành-công; A-la-hán: bực Thánh, tu-hành đã dứt hết phiền-não, chẳng còn bị tái-sanh trong Luân-hồi nữa.Tiếng Pali:Phala = quả-vị; Arahant = A-la-hán.

 

- Quét cho sạch: chữ quét ở đây, chẳng những có nghĩa là quét tước cho sạch rác-rến bên ngoài, mà còn có nghĩa quét sạch hết các ý-tưởng vọng-động, lang-bang trong tâm, để tâm được thanh-tịnh.

 

- Tỉnh-giác: Tỉnh = thức-tỉnh, hết mê-mờ; Giác = biết rõ. Tìỉnh-giác là tình-trạng tâm an-tịnh, biết rõ mọi biến-chuyển bên trong, cũng như bên ngoài, luôn luôn giữ được sự chú-ý, chẳng hề lơ-là, xao-lãng.

 

- Phóng-dật: Phóng =buông-thả; Dật = lỗi-lầm. Phóng-dật là buông-trôi theo các lỗi-lầm, chẳng biết tự kềm-chế trong kỷ-luật.

 

- Quang-minh = ánh-sáng.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc một vị tỳ-kheo cả ngày chỉ lo quét tước quanh chùa, đến khi được một vị trưởng-lão dạy phải biết việc ngồi Thiền nhập-định là bổn-phận của kẻ tu-hành, nên mới chuyên-tâm tu-tập mà đắc được quả-vị A-la-hán.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện nằm trong chữ quét, quét cho sạch chẳng những các rác-rến quanh chùa, mà còn là quét cho sạch các vọng-tưởng, phiền-não trong tâm, để cho tâm được thanh-tịnh.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 172:

 

Thử phân-tách bài Kệ ra từng câu:

 

1) Người trước kia buông-lung, phóng-dật: đây là nói về người sống buông trôi, chẳng có định-hướng, chạy theo các thú-vui vật-chất, thỏa-mãn các nhu-cầu tầm-thường, chẳng lo việc tu-tập. Hai chữ buông-lung và phóng-dật đồng nghĩa nhau, thường là làm biếng.

 

2) Về sau biết tỉnh-giác chuyên-cần: đây là nói về người đã thức-tỉnh, nhận ra được sự lỗi-lầm, lười biếng của mình, mà trở nên người tỉnh-giác, tâm biết quay vào bên trong tâm, lo dọn-dẹp sạch-sẽ tâm mình, bỏ vọng-tưởng lang-bang, dứt phiền-não tham, sân, si.

 

3) Ánh quang-minh soi khắp thế-gian, như trăng sáng thoát mây che-lấp: đây là nói ánh-sáng của Trí-huệ đang vẹt bỏ được sự u-tối của si-mê, ví với đám mây đang che mặt trăng sáng.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học thuộc lòng bài Kệ, ghi nhớ: tu là tu tâm, phải quét sạch các vọng-tưởng và phiền-não, để Trí-huệ được phát-triển.

 

2.- Xin ngưng một phút để tự-hỏi lòng mình: đã tỉnh-giác chưa?

The Story of Thera Sammajjana

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (172) of this book, with reference to Thera Sammajjana.

Thera Sammajjana spent most of his time sweeping the precincts of the monastery. At that time, Thera Revata was also staying at the monastery; unlike Sammajjana, Thera Revata spent most of his time in meditation or deep mental absorption. Seeing Thera Revata's behaviour, Thera Sammajjana thought the other thera was just idling away his time. Thus, one day Sammajjana went to Thera Revata and said to him, "You are being very lazy, living on the food offered out of faith and generosity; don't you think you should sometimes sweep the floors or the compound or some other place?" To him, Thera Revata replied, "Friend, a bhikkhu should not spend all his times sweeping. He should sweep early in the morning, then go out on the alms-round. After the meal, contemplating his body he should try to perceive the true nature of the aggregates, or else, recite the texts until nightfall. Then he can do the sweeping again if he so wishes." Thera Sammajjana strictly followed the advice given by Thera Revata and soon attained arahatship.

Other bhikkhus noticed some rubbish piling up in the compound and they asked Sammajjana why he was not sweeping as much as he used to, and he replied, "When I was not mindful, I was all the time sweeping; but now I am no longer unmindful." When the bhikkhus heard his reply they were sceptical; so they went to the Buddha and said, "Venerable Sir! Thera Sammajjana falsely claims himself to be an arahat; he is telling lies." To them the Buddha said, "Sammajjana has indeed attained arahatship; he is telling the truth."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 172: He, who has been formerly unmindful, but is mindful later on, lights up the world with the light of Magga Insight as does the moon freed from clouds.

Dhammapada Verse 172
Sammajjanatthera Vatthu

Yo ca pubbe pamajjit va
pacchi so nappamajjati
so'mam lokam pabhaseti
abbha muttova candima.

Verse 172: He, who has been formerly unmindful, but is mindful later on, lights up the world with the light of Magga Insight as does the moon freed from clouds.


dhp173_B
Verse-Kệ 173

(142).- Tích chuyện Trưởng-lão Vô-não - Kệ số 173

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Vô-não.

 

Thuở ấy ở nước Câu-tát-la, có người con trai của vị quốc-sư trong triều vua Ba-tư-nặc, tên là Vô-não. Chàng trai rất thông-minh, được cha gởi đi học ở thành Ta-xi-la. Vô-não rất siêng-năng và khéo vâng lời thầy dạy, nên rất được lòng thầy thương-mến, khiến cho các bạn đồng-học sanh ra ganh-tị. Họ đặt điều nói xấu, vu-oan cho Vô-não có dan-díu với vợ của thầy. Ban đầu, vị thầy chẳng tin việc đó, nhưng ngày lại ngày, nghe mãi lời ton-hót của bọn học-trò, khiến cho ông ta phải tin theo. Ông ta nghĩ nếu mình giết chết Vô-não thì chẳng những bị tù-tội mà còn bị quả-báo nặng-nề nữa. Ông tìm được một mưu-kế khác, còn tệ-hại hơn là ám-sát Vô-não. Ông liền kêu Vô-não lại và nói riêng: "Thầy có một phép bí-quyết thật cao-thâm, huyền-diệu, muốn truyền lại cho trò, nhưng phép ấy đòi hỏi mạng sống của một trăm người, trò phải giết chết đủ số đó, cả đàn-ông lẫn đàn-bà, đem nộp bằng-cớ cho thầy, thì thầy sẽ dạy cho." Vô-não rất muốn có được bí-quyết đó, nhưng còn ngần-ngại chẳng muốn sát sanh hại mạng. Nhưng về sau, lòng ham-muốn được phép-lực cao-thâm, huyền-diệu thúc-đẩy quá mạnh-mẽ, Vô-não bỏ vào rừng sâu ẩn-núp, rình giết người cho đủ số để nạp cho thầy.

 

Chẳng bao lâu, tiếng-tăm tàn-ác của Vô-não cướp của giết người, chặt lấy ngón tay, kết thành xâu chuỗi đeo ở cổ, khiến dân quá sợ-hãi, gọi Vô-não là tướng cướp Chỉ-man, và tâu-trình lên vua. Vua Ba-tư-nặc liền chỉnh-đốn quân-đội, định đem quân vây bắt Chỉ-man. Bà mẹ của Chỉ-man, vì lòng thương con, sáng hôm ấy, định vào rừng báo tin cho con. Cùng ngày ấy, vào lúc tinh-sương, Đức Phật nhập thiền-định, quán-thấy Vô-não sắp phạm tội ngũ-nghịch vì giết mẹ, rồi sẽ bị sa vào điạ-ngục A-tỳ, nên thương-xót, Ngài liền đi vào rừng để ngăn Chỉ-man. Tên tướng cướp sau một đêm mất ngủ, sáng ra đếm xâu chuỗi ngón tay lại, thấy còn thiếu một mạng nữa là đủ một trăm, mới quyết-tâm hôm nay hễ gặp ai là giết ngay cho đủ số, đem nộp cho thầy. Vừa đến ven rừng, Chỉ-man bỗng thấy Đức Phật đi tới. Anh liền khoa ngọn dao bén nhọn lên chực đâm; bỗng đâu tay chơn bủn-rủn vì mệt-mỏi, hắn ngẩng đầu lên nhìn Đức Phật mà thét lên: "Ớ nầy ông thầy tu, sao ông chẳng dừng lại?" Đức Phật dừng bước: "Này Chỉ-man, ta đã dừng từ lâu rồi, chỉ có anh là chưa chịu dừng đó thôi!" Chỉ-man còn chưa hiểu ý Đức Phật, mới hỏi; Đức Phật đáp: "Nầy Chỉ-man, đã từ lâu ta dừng nghỉ việc sát-hại chúng-sanh; còn anh, anh vẫn còn chưa chịu dừng lại việc giết người, cướp của đó." Nghe lời nói phải, trông dáng mạo trang-nghiêm đẹp-đẽ của người đứng trước mặt mình, Chỉ-man bỗng tỉnh-ngộ, biết đang gặp Đức Phật. Anh liền quăng dao đi, quì xuống xin qui-y cùng Đức Phật. Đức Phật vui-vẻ chấp-nhận và cùng với Vô-não trở về chùa Kỳ-viên.

 

Kể từ ngày gia-nhập Tăng-đoàn, Vô-não chuyên-cần, tinh-tấn tu-hành, nên chẳng bao lâu chứng được quả-vị A-la-hán. Một hôm, vào buổi sáng, đang đi khất-thực, Trưởng-lão Vô-não gặp một đám người đang đánh lộn, quăng đá vào nhau. Một hòn đá lớn va phải đầu của Trưởng-lão, gây thương-tích nặng, nhưng Trưởng-lão cũng ráng về đến chùa. Đức Phật đến thăm hỏi, và nói: "Nầy Vô-não, ngày trước con đã gây nhiều tội-ác giết người, lẽ ra phải sa vào địa-ngục A-tỳ; nhưng nay con đã ăn-năn sám-hối, tinh-tấn tu-hành, vậy con nên nhẫn-nhục mà chịu lấy quả-báo nầy, tránh cho con khỏi phải sa vào nẻo dữ." Trưởng-lão lắng nghe lời Phật dạy, lặng-lẽ nhập Niết-bàn.

 

Các vị tỳ-kheo muốn biết Trưởng-lão Vô-não được tái-sanh về đâu, mới thưa hỏi Phật. Nghe đáp Trưởng-lão đã nhập Niết-bàn, các vị tỳ-kheo rất đổi ngạc-nhiên. Đức Phật nói: "Trước kia, vì mê-lầm, chẳng có bạn hiền, nên Vô-não mới phạm tội ác. Về sau, biết ăn-năn sám-hối, chuyên-tâm tỉnh-giác làm việc thiện, tuân theo Chánh-pháp, tinh-tấn tu-hành, nên nay nhờ cơ-duyên lành của việc thiện chận đứng được ác-báo." Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người trước kia trót gây tội-ác,

Nay sửa sai bằng các hạnh lành,

Ánh quang-minh soi khắp thế-gian,

Như trăng sáng thoát mây che lấp.

(Kệ số 173.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Vô-não, Chỉ-man = tên vị trưởng-lão, cựu tướng cướp nầy, tiếng Pali là Ahimsaka, dịch là Vô-não, Bất-hại, chẳng hại ai; và Angulimàla, phiên-âm là Ưong-quật-ma-la, dịch là Chỉ-man, chùm ngón tay. (Não = não-hại; gây phiền-não; Chỉ = ngón tay; Man = chùm.)

 

- Quốc-sư: Quốc = nước; Sư = thầy; Quốc-sư là thầy dạy Đạo cho cả nước; thầy dạy Đạo cho Vua.

 

- Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la: tên vị vua nầy, tiếng Pali là Pasenadi, cai-trị nước Kosala, giáp ranh với nước Xá-vệ (Savatthi).

 

- Ta-xi-la: tên thị-trấn nầy, tiếng Pali là Taxila.

 

- Ton-hót: đặt điều láo-khoét nói tới nói lui mãi, để hại ai.

 

- Ám-sát: Ám = mờ-ám, lén; Sát = giết; Ám-sát là giết lén.

 

- Bí-quyết: Bí = bí-mật, kín; Quyết = pháp-thuật mầu-nhiệm.

 

- Huyền-diệu = sâu-kín, khéo-léo và nhiệm-mầu.

 

- Chỉnh-đốn = sắp sửa hàng-ngũ cho chỉnh-tề.

 

-Sáng tinh-sương = mờ-mờ sáng, mặt trời chưa lên, còn sương.

 

- Nhập Thiền-định, quán-thấy = ngồi Thiền và thấy rõ trong tâm.

 

- Tội ngũ-nghịch: năm tội lớn sẽ bị đoạ vào Điạ-ngục A-tỳ. Đó là: giết cha, mẹ, A-la-hán, chém Phật và phá sự hoà-hợp Tăng-đoàn.

 

- Điạ-ngục A-tỳ = tên điạ-ngục nầy, tiếng Pali là Avìci, dịch nghĩa là Vô-gián, tức là chịu hình-phạt liên-tục chẳng ngừng-nghỉ.

 

- Khoa dao = giơ cao con dao lên để đâm mạnh.

 

- Tỉnh-ngộ: Tỉnh = thức-tỉnh, hết mê; Ngộ = hiểu rõ; Tỉnh-ngộ là trở nên sáng-suốt, nhận biết mình lầm-lỗi, cần sửa lại.

 

- Qui-y: Qui = quay về; Y =nương-tựa; Qui-y là mình tìm về nương-tựa tinh-thần mình vào ai, hay vào sự-việc gì.

 

- Thương-tích: vết thương, đổ máu, gãy xương, v.v.

 

- Ăn-năn = Sám-hối: chịu nhận lỗi mình, tỏ ra hối-tiếc đã có lỗi và hứa xin chừa chẳng tái-phạm nữa.

 

- Nhẫn-nhục: chịu nhịn, bền gan chịu đựng mà chẳng oán-than.

 

- Quả-báo: Quả = kết-quả, hậu-quả; báo = báo đền,; Quả-báo là sự-việc xảy ra sau, do một hành-động cũ đã có trước làm nguyên-nhơn mà quả-báo là hậu-quả, chiếu theo Luật Nhơn-quả.

 

- Nhập Niết-bàn: lià bỏ xác thân, đi vào cõi tịch-diệt, vắng-lặng.

 

- Cơ-duyên lành = điều may-mắn tốt. Vì tu-hành, làm việc thiện nên được hưởng cơ-duyên lành.

 

- Ác-báo: Ác = xấu, dữ; Báo = quả-báo. Ác-báo là quả-báo xấu.

 

- Sửa sai = sửa đổi điều sai-lầm, theo con đường chơn-chánh.

 

- Hạnh lành = các hành-động tốt, giúp đỡ người khác.

 

- Ánh quang-minh = ánh-sáng rực-rỡ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện mang nhiều ý-nghĩa:

 

1) Nghe hoài lời ton-hót, rồi cũng tin theo: đây là một lỗi-lầm, cần tránh, bằng cách phải điều-tra sự-thật, khi nghe lời dèm.

 

2) Mưu-kế để hại Vô-não bằng cách xúi đi giết người, người bầy mưu có bị quả-báo không? Có, phải chịu quả-báo như chính mình đi giết vậy. Trong Kinh: cấm giết và cấm xúi, bảo giết.

 

3) Sao chẳng dừng lại? Chỉ-man hiểu chữ dừng là dừng bước; còn Đức Phật nói dừng là ý muốn nói, thôi chẳng làm tiếp-tục nữa; tức là, từ-khước chẳng làm điều ác nữa. Đây là ý-nghĩa quan-trọng nhứt của Tích chuyện: mặc dầu đã trót làm điều dữ, nhưng biết dừng lại, thôi chẳng làm ác nữa, và làm điều thiện, thì quả-báo xấu chẳng có đủ cơ-duyên để trỗ quả, nhờ đó mà tạm-thời tránh được. Trong trường-hợp của Chỉ-man, nhờ biết ăn-năn tội-ác và quay về con đường lành, nên mới bị trúng đá mà chết, khỏi phải sa vào địa-ngục A-tỳ. Tích chuyện cho thấy, việc tu-hành chơn-chánh cải-đổi được nghiệp-báo; vì thế, nên siêng làm lễ sám-hối và gắng làm việc thiện.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 173:

 

Bài Kệ nầy giống bài Kệ trước, số 172, ở hai câu chót, nói về hiệu-quả tốt của sự bỏ điều quấy mà theo điều lành. Ý-nghĩa cũng giống bài trước: khuyên ta nên sớm cải tà qui chánh, ăn-năn tội-lỗi và siêng làm lành lánh dữ để cải-thiện nghiệp-lực của mình.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc lòng bài Kệ, ghi nhớ: có thể sửa được mạng-vận xấu, bằng cách siêng năng làm việc thiện và từ-khước hẳn việc ác.

The Story of Thera Angulimala

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (173) of this book, with reference to Thera Angulimala.

Angulimala was the son of the Head Priest in the court of King Pasenadi of Kosala. His original name was Ahimsaka. When he was of age, he was sent to Taxila, a renowned university town. Ahimsaka was intelligent and was also obedient to his teacher. So he was liked by the teacher and his wife; as a result, other pupils were jealous of him. So they went to the teacher and falsely reported that Ahimsaka was having an affair with the teacher's wife. At first, the teacher did not believe them, but after being told a number of times he believed them; and so he vowed to have revenge on the boy. To kill the boy would reflect badly on him; so he thought of a plan which was worse than murder. He told Ahimsaka to kill one thousand men or women and in return he promised to give the boy priceless knowledge. The boy wanted to have this knowledge, but was very reluctant to take life. However, he agreed to do as he was told.

Thus, he kept on killing people, and not to lose count, he threaded a finger each of everyone he killed and wore them like a garland round his neck. In this way, he was known as Angulimala, and became the terror of the countryside. The king himself heard about the exploits of Angulimala, and he made preparations to capture him. When Mantani, the mother of Angulimala, heard about the king's intention, out of love for her son, she went into the forest in a desperate bid to save her son. By this time, the chain round the neck of Angulimala had nine hundred and ninety-nine fingers in it, just one finger short of one thousand.

Early in the morning on that day, the Buddha saw Angulimala in his vision, and reflected that if he did not intervene, Angulimala who was on the look out for the last person to make up the one thousand would see his mother and might kill her. In that case, Angulimala would have to suffer in niraya endlessly. So out of compassion, the Buddha left for the forest where Angulimala was.

Angulimala, after many sleepless days and nights, was very tired and near exhaustion. At the same time, he was very anxious to kill the last person to make up his full quota of one thousand and so complete his task. He made up his mind to kill the first person he met. Suddenly, as he looked out he saw the Buddha and ran after him with his knife raised. But the Buddha could not be reached while he himself was completely exhausted. Then, looking at the Buddha, he cried out, "O bhikkhu, stop! stop!" and the Buddha replied, "I have stopped, only you have not stopped." Angulimala did not get the significance of the words of the Buddha, so he asked, "O Bhikkhu! Why do you say that you have stopped and I have not stopped?"

The Buddha then said to him, "I say that I have stopped, because I have given up killing all beings, I have given up ill-treating all beings, and because I have established myself in universal love, patience, and knowledge through reflection. But, you have not given up killing or ill-treating others and you are not yet established in universal love and patience. Hence, you are the one who has not stopped." On hearing these words from the mouth of the Buddha, Angulimala reflected, "These are the words of a wise man. This bhikkhu is so very wise and so very brave ; he must be the ruler of the bhikkhus. Indeed, he must be the Buddha himself! He must have come here specially to make me see the light." So thinking, he threw away his weapon and asked the Buddha to admit him to the Order of the bhikkhus. Then and there, the Buddha made him a bhikkhu.

Angulimala's mother looked for her son everywhere in the forest shouting out his name, but failing to find him she returned home. When the king and his men came to capture Angulimala, they found him at the monastery of the Buddha. Finding that Angulimala had given up his evil ways and had become a bhikkhu, the king and his men went home. During his stay at the monastery, Angulimala ardently and diligently practised meditation, and within a short time he attained arahatship.

Then, one day, while he was on an alms-round, he came to a place where some people were quarrelling among themselves. As they were throwing stones at one another, some stray stones hit Thera Angulimala on the head and he was seriously injured. Yet, he managed to come back to the Buddha, and the Buddha said to him, "My son Angulimala! You have done away with evil. Have patience. You are paying in this existence for the deeds you have done. These deeds would have made you suffer for innumerable years in niraya." Soon afterwards, Angulimala passed away peacefully; he had realized parinibbana.

Other bhikkhus asked the Buddha where Angulimala was reborn, and when the Buddha replied "My son has realized parinibbana", they could hardly believe it. So they asked him whether it was possible that a man who had killed so many people could have realized parinibbana. To this question, the Buddha replied, "Bhikkhus! Angulimala had done much evil because he did not have good friends. But later, he found good friends and through their help and good advice he had been steadfast and mindful in his practice of the dhamma. Therefore, his evil deeds have been overwhelmed by good (i e., Arahatta Magga).

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 173: He who overwhelms with good the evil that he has done lights up this world (with the light of Magga Insight), as does the moon freed from clouds.

Dhammapada Verse 173
Angulimalatthera Vatthu

Yassa papam katam kammam
kusalena1 pidhiyati
so'mam lokam pabhaseti

abbha muttova candima.

Verse 173: He who overwhelms with good the evil that he has done lights up this world (with the light of Magga Insight), as does the moon freed from clouds.


1. kusalena: with good deed; the good in this context means Arahatta Magga, the fourth and final Path knowledge. (The Commentary)


dhp174_B
Verse-Kệ 174

(143).- Tích chuyện cô gái quay tơ - Kệ số 174

 

Vào một thời kia, Đức Phật du-hành đến xứ Anh-huy, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một cô gái quay tơ.

 

Dạo ấy, sau buổi lễ trai-tăng ở Anh-huy, Đức Phật có giảng-pháp cho dân-chúng nghe. Hôm ấy, Ngài giảng-dạy về sự vô-thường của thân-tâm năm uẩn. Ngài nói: "Cuộc sống của ta thì vô-thường, còn sự chết lại là thường. Chắc-chắn rồi đây có ngày ta sẽ chết, đời ta chấm-dứt bằng sự chết-chóc. Cho nên, sống là vô-thường, còn chết là thường vậy." Đức Phật khuyên mọi người nên nhận rõ bản-thể chơn-thật của năm uẩn, chúng tạm-thời hoà-hiệp nhau mà thành sự sống, đến khi chúng rời nhau ra là cái chết đã tới nơi. Ngài nhấn mạnh: "Như một người cầm trong tay một cây gậy hay một ngọn chỉa nhọn sẵn-sàng đối-phó với kẻ thù, hay với một con rắn độc, người đời phải luôn luôn tỉnh-giác và trầm-tĩnh để đối-diện với cái chết. Có như thế, đến lúc ra đi vĩnh-viễn, mới chọn theo được đường lành." Lời giảng-dạy đó của Đức Phật chỉ được một số ít người lưu-tâm đến, trong số nầy, có một cô gái mười sáu tuổi, chuyên việc quay tơ cho cha dệt lụa. Sau buổi thuyết-pháp, Đức Phật lên đường trở về chùa Kỳ-viên.

 

Bẵng đi ba năm, một hôm Đức Phật nhập-định, quan-sát khắp pháp-giới, Ngài quán-thấy đã đủ cơ-duyên cho cô gái quay tơ năm xưa chứng được quả-vị Tu-đà-huờn. Ngài liền lên đường trở lại xứ Anh-huy, để giảng Chánh-pháp một lần nữa. Hay tin Đức Phật đến xứ mình, cô gái quay tơ muốn đến ngay để nghe pháp; nhưng còn phải mang ba cuộn tơ đến xưởng dệt cho cha cô đang chờ.Trên đường đến xưởng, cô đi ngang qua nơi giảng-pháp, dừng lại, ngồi xuống phiá ngoài, tai lắng nghe lời Đức Phật. Đấng Thế-tôn nhìn thẳng vào cô gái, Ngài vừa quán-thấy cô gái sẽ tử-nạn ngay sau khi gặp cha, nếu chờ đến bận quay về thì lỡ mất cơ-hội để nghe được Chánh-pháp. Ngài liền ngưng nói, ngẩng nhìn chăm-chú vào cô gái. Cô gái liền bạo-dạn lách đám đông, đặt giỏ tơ xuống đất, quì trước Đức Phật mà đảnh-lễ. Đức Phật liền hỏi cô bốn câu và cô lễ-phép đáp ngay như sau:

 

1. Hỏi: Cô từ đâu tới?

 

Đáp: Con chẳng biết.

 

2) Hỏi: Cô đi về đâu?

 

Đáp: Con chẳng biết.

 

3) Hỏi: Cô biết không?

 

Đáp: Vâng, con có biết.

 

4) Hỏi: Cô biết được không?

 

Đáp: Không, con chẳng biết được.

 

Nghe lời đối-đáp của cô gái quay tơ, Đức Phật tỏ vẻ hài-lòng, nhưng các người ngồi nghe pháp lại chẳng hiểu ý-nghĩa thâm-sâu của bốn câu hỏi và bốn câu trả lời. Đức Phật liền bảo cô gái giải-thích, cô đã hiểu ra sao mà trả lời như thế.

 

Cô gái thưa: "Bạch Thế-tôn, về câu hỏi thứ nhứt, Ngài đã biết con từ nhà con mà tới đây, mà còn hỏi con, từ đâu tới?, con nghĩ ý Ngài muốn hỏi con, từ kiếp nào mà tới đây?, vì thế mà con đã thưa, con chẳng biết. Về câu hỏi thứ hai, con nghĩ khi hỏi con đi về đâu là ý Ngài muốn hỏi con có biết chăng, kiếp sau đi về đâu?, nên con thưa, con chẳng biết. Về câu hỏi thứ ba, Ngài hỏi con có biết không?, con nghĩ ý Ngài muốn hỏi con có biết mình sẽ chết không?, nên con mới đáp, Vâng, con có biết. Về câu chót, Ngài hỏi, có biết được không?, con nghĩ ý Ngài muốn hỏi con có biết được lúc nào sẽ chết không?, nên con mới trả lời, con chẳng biết được."

 

Đức Phật khen-ngợi cô gái quay tơ đã đáp rõ-ràng các câu hỏi đúng theo ý Phật, Ngài liền nói với các người ngồi nghe: "Trong số quí vị ngồi đây, cũng có ít người đã hiểu thấu ý-nghĩa sâu-xa các lời giải-đáp của cô thiếu-nữ quay tơ nầy. Những ai còn mê-mờ chẳng biết thì đang sống trong cảnh tối-tăm như kẻ mù-loà."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó mà cô gái quay tơ chứng được quả-vị Tu-đà-huờn:

 

Thế-gian nầy đầy người mù-quáng;

Biết trông xa, loáng-thoáng vài người.

Như bầy chim, ít con thoát lưới,

Thật hiếm người lên tới Thiên-đàng.

(Kệ số 174.)

 

Sau đó, cô gái quay tơ lên đường đến xưởng dệt lụa. Cha cô chờ lâu đang ngủ gục bên khung cửi, nghe tiếng cô gọi, giựt mình thức dậy, tay quờ-quạng đụng nhằm chốt cửi, đánh bật văng con thoi ra, trúng mạnh vào ngực cô. Cô té xuống đất và thở hơi cuối cùng, đúng như lời tiên-đoán tai-nạn của Đức Phật. Cha cô hoảng-hốt đỡ con lên, nhưng chậm mất rồi. Ông khóc nức-nở, rồi bỏ nghề, vào chùa xin làm tỳ-kheo. Chẳng bao lâu, ông chứng được quả-vị A-la-hán.

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Xứ Anh-huy: tên phần đất nầy, tiếng Pali là àlavì.

 

- Trai-tăng: dưng cơm chay lên cho các vị Tăng.

 

- Vô-thường: Vô = chẳng; Thường = thường-hằng, thường còn hoài. Lẽ Vô-thường có nghĩa là sự biến-đổi chẳng thể tránh được của muôn sự-vật có hình-tướng, để về sau trở thành hư-hoại.

 

- Thân-tâm năm uẩn: Uẩn = Ấm = nhóm họp lại và che-mờ. Có năm uẩn hợp lại thành thân-tâm nầy: (1) sắc-uẩn, phần vật-chất, là Thân; (2) thọ-uẩn, các tình-cảm; (3) tưởng-uẩn, các ý-tưởng; (4) hành-uẩn, các hành-động; (5) thức-uẩn, các sự hiểu-biết; bốn uẩn sau lập thành Tâm. Năm uẩn khi hợp nhau lại thì có sự sống; khi rời nhau ra thì chết. Vì năm uẩn chỉ tạm-thời họp lại, mới gọi chúng là vô-thường

 

- Bản-thể chơn-thật của năm uẩn: Bản-thể = chỗ cội-rễ của một sự-vật; nguyên-thể; chơn-thật = thật sự, có thiệt. Tìm hiểu bản-thể của năm uẩn là phân-tách năm uẩn ra từng phần nhỏ, bỏ đi, xem lại coi còn chất nào, sự nào, việc nào chẳng bị tách ra được nữa, nếu có thì chất ấy là bản-thể; nhưng khi phân-tách năm uẩn ra, ta thấy thân-tâm chẳng còn gì nữa, nên mới gọi bản-thể chơn thật của năm uẩn là không, là rỗng-rang, vì thế mà chẳng thường-còn, nên mới nói rằng thân-tâm năm uẩn nầy là vô-thường.

 

- Tỉnh-giác = luôn luôn chú-ý biết mọi sự biến-chuyển trong và ngoài tâm. Trái với tỉnh-giác là lơ-là, vô-ý, vô-tâm, thiếu sự chú-tâm, phóng-dật, buông-lung.

 

- Đối-diện = thấy hiện có ở trước mặt. Chữ đối-diện ở đây có nghĩa là đương-đầu, đối-phó với.

 

- Ra đi vĩnh-viễn = chết, lià thân-xác. (Vĩnh-viễn = mãi mãi.)

 

- Chọn theo được đường lành: Sau khi chết đời nầy, sẽ sanh vào đời sau, ở một trong sáu đường. Ba đường dữ: (1)địa-ngục,(2)ngạ-quỉ ( = quỉ đói);(3) súc-sanh( = thú-vật). Ba đường lành: (4)cõi người; (5) cõi A-tu-la( =Asura, thần-linh); (6) cõi Trời.

 

- Lưu-tâm = để-ý đến và hiểu rõ.

 

- Pháp-giới: thế-giới, vũ-trụ. Tiếng thường gọi là thế-giới; tiếng chuyên-môn Phật-học gọi là pháp-giới, cảnh-giới của toàn-thể sự-vật trong trời đất, trong vũ-trụ.

 

-Nhập-định, quán-thấy: khi ngồi Thiền, tâm an-định nhìn thấy rõ trong tâm. (Tâm an-định = nhập-định; thấy rõ trong tâm = quán-thấy.)

 

- Cơ-duyên: Cơ = cơ-hội; duyên = duyên-do. Cơ-duyên, ở đây, chỉ cho cơ-hội may-mắn.

 

- Quả-vị Tu-đà-huờn: khi tu thành-công, gọi là chứng quả-vị. Có bốn quả-vị: (1)Tu-đà-huờn ( = Sotàpatti, còn gọi là Nhập-Lưu, Thất-Lai); (2)Tư-đà-hàm ( =Sakadàgàmin, còn gọi là Nhứt-Lai); (3) A-na-hàm ( =Anàgàmin, còn gọi là Bất-Lai); (4) A-la-hán ( = Arahant). Ba quả-vị trước còn phải tái-sanh, nên được gọi là bực Hiền; quả A-la-hán, cao nhứt, chứng được vô-sanh ( = hết bị tái-sanh) là bực Thánh.

 

- Tử-nạn: Tử = chết; Nạn = tai-nạn; Tử-nạn = bị tai-nạn mà chết.

 

- Đảnh-lễ = qùi xuống lạy để làm lễ ra mắt.

 

- Hài lòng = ưng ý, vừa bụng, vui lòng.

 

- Giải-thích = cắt nghĩa rõ ra.

 

- Thế-tôn: Thế = thế-gian; Tôn = tôn-kính; Thế-tôn là bực được cả thế-gian tôn-kính. Đệ-tử gọi Phật là Thế-tôn, Phật tự-xưng là Như-lai.

 

- Kiếp: nghĩa thông-thường là đời sống; có kiếp trước, kiếp sau. Nhưng nghĩa chuyên-môn trong Phật-học, một kiếp (kalpa = kiếp-ba) dài đến một triệu năm ( = bá vạn niên).

 

- Mù-loà = cặp mắt bị hư, chẳng thấy ánh-sáng.

 

- Mù-quáng = ở đây, nghĩa bóng là chẳng thấy biết con đường tu

 

- Loáng-thoáng = thưa-thớt, chẳng được bao nhiêu.

 

- Hiếm = rất ít.

 

- Thiên-đàng: cảnh sung-sướng trên cõi Trời. Trái với điạ-ngục.

 

- Khung cửi = máy bằng gỗ, đạp bằng chơn, dùng để dệt vải, lụa.

 

- Con thoi = ống chỉ bằng đồng chạy qua, chạy lại trên khung cửi.

 

- Tiên-đoán = Tiên = trước; Tiên-đoán là đoán biết trước được.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện có hai ý-nghĩa: lời Phật dạy về lẽ vô-thường của thân-tâm năm uẩn, và bốn câu hỏi của Phật nêu ra để chỉ về cái chết.

 

Về ý-nghĩa thứ nhứt, lẽ vô-thường của thân-tâm năm uẩn, trước ta phải biết năm uẩn là gì, mỗi uẩn gồm có những gì, kết-hợp với các uẩn khác ra sao, sau đó xét đến khi thiếu một uẩn thì thân-tâm trở nên thế nào, mà suy ra sự chẳng bền-vững của thân-tâm năm uẩn. Vì chẳng bền-vững, nên vô-thường; vì vô-thường, nên bất- toại-nguyện, chẳng vừa ý; vì bất-toại-nguyện, nên sanh ra đau-khổ; vì đau-khổ, nên tìm về sự tu-hành để giải-thoát. Đó là các chặn-đường quán-chiếu về thân-tâm vô-thường. Để dễ ghi nhớ lẽ vô-thường, nên thường thường quán-chiếu ảo-ảnh, bọt nước, sương mai, điện-chớp và thân bất-tịnh.

 

Về ý-nghĩa thứ hai của Tích chuyện là sự chết, Đức Phật nêu ra bốn câu hỏi: câu (1) về kiếp trước; câu (2) về kiếp sau; câu (3) về sự ai cũng phải chết; câu (4) về biết lúc nào sẽ chết. Hiểu rõ hai câu đầu về kiếp trước và kiếp sau là hiểu được cuộc sanh-tử trong vòng lẩn-quẩn của Luân-hồi, nên mới có các đời trước, đời nầy và các đời sau. Hiểu rõ hai câu sau về cái chết và chết đến lúc nào là hiểu được thân-phận của con người chẳng trốn được cái chết. Khi hiểu rõ cả bốn câu, ta mới tự-hỏi, vậy có cách nào để khỏi phải chết, khỏi phải bị tái-sanh lẩn-quẩn mãi chăng? - Có cách, cách đó được dạy trong Chánh-pháp, ai biết tu-tập theo đúng sẽ được giải-thoát khỏi Luân-hồi.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 174:

 

1.- Hai câu đầu: Thế-gian nhiều người mù-quáng, chẳng hiểu rõ lẽ sống-chết, mà lại ít có người biết trông xa, thấy rõ cảnh Luân-hồi.

 

2.- Hai câu chót: Chim thoát lưới ví cho những người thoát khỏi cảnh sanh-tử, tử sanh của vòng Luân-hồi khổ-đau lẩn-quẩn.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc lòng bài Kệ, ghi nhớ về thân-phận sống-chết của mọi chúng-sanh trong vòng lẩn-quẩn, đầy đau-khổ của cõi Luân-hồi.

The Story of the Weaver-Girl

While residing at the monastery near Aggavala shrine in the country of Alavi, the Buddha uttered Verse (174) of this book, with reference to a young maiden, who was a weaver.

At the conclusion of an alms-giving ceremony in Alavi, the Buddha gave a discourse on the impermanence of the aggregates (khandhas). The main points the Buddha stressed on that day may be expressed as follows:

"My life is impermanent; for me, death only is permanent. I must certainly die; my life ends in death. Life is not permanent; death is permanent."

The Buddha also exhorted the audience to be always mindful and to strive to perceive the true nature of the aggregate. He also said,"As one who is armed with a stick or a spear is prepared to meet an enemy (e.g. a poisonous snake), so also, one who is ever mindful of death will face death mindfully. He would then leave this world for a good destination (sugati)." Many people did not take the above exhortation seriously, but a young girl of sixteen who was a weaver clearly understood the message. After giving the discourse, the Buddha returned to the Jetavana monastery.

After a lapse of three years, when the Buddha surveyed the world, he saw the young weaver in his vision, and knew that time was ripe for the girl to attain Sotapatti Fruition. So the Buddha came to the country of Alavi to expound the dhamma for the second time. When the girl heard that the Buddha had come again with five hundred bhikkhus, she wanted to go and listen to the discourse which would be given by the Buddha. However, her father had also asked her to wind some thread spools which he needed urgently, so she promptly wound some spools and took them to her father. On the way to her father, she stopped for a moment at the outer fringe of the audience, who had come to listen to the Buddha.

Meanwhile, the Buddha knew that the young weaver would come to listen to his discourse; he also knew that the girl would die when she got to the weaving shed. Therefore, it was very important that she should listen to the Dhamma on her way to the weaving shed and not on her return. So, when the young weaver appeared on the fringe of the audience, the Buddha looked at her. When she saw him looking at her, she dropped her basket and respectfully approached the Buddha. Then, he put four questions to her and she answered all of them. The questions and answers are as given below.

Questions   Answers
(1) Where have you come from?   (1) I do not know.
(2) Where are you going?   (2) I do not know.
(3) Don't you know?   (3) Yes, I do know.
(4) Do you know?   (4) I do not know, Venerable Sir.


Hearing her answers, the audience thought that the young weaver was being very disrespectful. Then, the Buddha asked her to explain what she meant by her answers, and she explained.

"Venerable Sir! Since you know that I have come from my house, I interpreted that, by your first question, you meant to ask me from what past existence I have come here. Hence my answer, 'I do not know.' The second question means, to what future existence I would be going from here; hence my answer, 'I do not know.' The third question means whether I do not know that I would die one day; hence my answer, 'yes, I do know.' The last question means whether I know when I would die; hence my answer, 'I do not know.

The Buddha was satisfied with her explanation and he said to the audience, "Most of you might not understand clearly the meaning of the answers given by the young weaver. Those who are ignorant are in darkness, they are just like the blind."

The Buddha then spoke in verse as follows:

Verse 174: Blind are the people of this world: only a few in this world see clearly (with Insight). Just as only a few birds escape from the net, so also, only a few get to the world of the devas, (and Nibbana).


At the end of the discourse, the young weaver attained Sotapatti Fruition.

Then, she continued on her way to the weaving shed. When she got there, her father was asleep on the weaver's seat. As he woke up suddenly, he accidentally pulled the shuttle, and the point of the shuttle struck the girl at her breast. She died on the spot, and her father was broken-hearted. With eyes full of tears he went to the Buddha and asked the Buddha to admit him to the Order of the bhikkhus. So, he became a bhikkhu, and not long afterwards, attained arahatship.

Dhammapada Verse 174
Pesakaradhita Vatthu

Andhabhuto ayam loko
tanuke'ttha vipassati
sakuno jalamuttova

appo saggaya gacchati.

Verse 174: Blind are the people of this world: only a few in this world see clearly (with Insight). Just as only a few birds escape from the net, so also, only a few get to the world of the devas, (and Nibbana).





dhp175_B
Verse-Kệ 175

(144).- Tích chuyện ba mươi tỳ-kheo đắc thần-thông - Kệ số 175

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến ba mươi vị tỳ-kheo đắc được thần-thông.

 

Thuở ấy, có ba mươi vị tỳ-kheo đến đảnh-lễ Đức Phật. Lúc bấy giờ, Tôn-giả A-nan đang hầu-cận bên Đức Phật, thấy Đức Phật có khách, nên mới bước ra ngoài, chờ đợi. Một hồi lâu sau, Tôn-giả A-nan trở vào trong, chẳng trông thấy các vị tỳ-kheo nữa, mới hỏi Đức Phật các vị ấy bây giờ đang ở đâu. Đức Phật bảo: "Nầy A-nan, các tỳ-kheo đó, sau khi nghe Ta giảng-pháp, đã chứng-đắc được quả-vị A-la-hán, nên họ mới dùng thần-thông phi giữa không-gian mà ra đi."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Thiên-nga bay theo đường mặt nhựt,

Bực thần-thông phi giữa không-gian.

Hàng hiền-trí thoát khỏi thế-gian,

Nhờ thắng Ma-vương và quyến-thuộc.

(Kệ số 175.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Thần-thông: nhờ định-lực tâm-thần cao mà có được các quyền-năng siêu-nhiên, như bay trên không, biến-hoá, v.v.

 

- Đảnh-lễ: quì lạy để làm lễ ra mắt.

 

- Hầu-cận = hầu-hạ ở gần bên cạnh.

 

- Chứng-đắc quả-vị = tu-hành đã thành-công. (Chứng-đắc = đuợc; Quả-vị: Quả = kết-quả; Vị = ngôi-vị, điạ-vị.)

 

- A-la-hán: quả-vị cao nhứt trong hàng Thanh-văn( =đệ-tử sống bên Phật, nghe giảng Kinh mà tu-tập), diệt hết các phiền-não, chứng được vô-sanh( = hết bị tái-sanh trong Luân-hồi). Tiếng Pali là Arahant.

 

- Phi giữa không-gian = bay lên trên không-gian.

 

- Thiên-nga = ngỗng trời, lông màu trắng.

 

- Mặt nhựt = mặt trời.

 

- Hiền-trí: Hiền = hiền-lành; Trí = trí-huệ. Bực Hiền-trí là bực hiền-lành có trí-huệ sáng-suốt, thấm-nhuần Chánh-pháp.

 

- Ma-vương = vua loài Ma; còn gọi là Ma Ba-tuần.

 

- Quyến-thuộc = họ-hàng, bà-con. Ma-vương và quyến-thuộc, ở đây, ám chỉ các sự cám-dỗ, quyến-rũ, xúi-dục làm điều quấy.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất đơn-sơ, kể lại việc ba mươi vị tỳ-kheo nhờ nghe Đức Phật giảng-pháp mà chứng-đắc được đạo-quả A-la-hán. Theo Tích chuyện, các vị ấy sau khi đắc quả, dùng thần-thông, bay lên không-gian mà ra về, khiến cho Tôn-giả A-nan chẳng nhìn thấy được.

 

Vấn-đề đặt ra cho chúng ta ngày nay là: việc đắc thần-thông, bay lên trên không, có thật hay không? Xét theo lý, việc chưa thấy tận mắt, nghe tận tai, ta chẳng nên vội tin ngay; nhưng chính mình chưa thấy, chưa nghe, mình vẫn chẳng chưa có quyền quả-quyết là việc ấy chẳng có. Tại sao? Vì có thể việc ấy có thật mà mình còn chưa đủ điều-kiện để thấy nghe được. Thái-độ đứng-đắn là đối với các sự-việc có vẻ siêu-nhiên, ta nên tỏ ra dè-dặt: chớ vội tin theo, mà cũng chớ vội bác-bỏ, hãy dè-dặt mà chẳng nghi-ngờ, giữ thái-độ chờ và xem.

 

Việc chứng-đắc thần-thông vào thời Đức Phật, theo trong Kinh sách, chẳng phải là chẳng có. Nhưng điều ta phải tin, là tin vào lời Phật dạy. Về thần-thông, Phật dạy thế nào? Ngài thường nhắc-nhở các tỳ-kheo mong-cầu sớm đắc thần-thông rằng, việc chứng-đắc thần-thông, tự nó sẽ đến, khi tu-tập đàng-hoàng, giữ giới-đức vẹn-toàn, thân-tâm hoàn-toàn thanh-tịnh, chớ mong-cầu được sớm đắc thần-thông. Thiển-nghĩ, còn mong-cầu đắc thần-thông sớm, là còn tham, còn chưa dẹp sạch cái tham muốn có thần-thông để hơn người.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 175:

 

Ý-nghĩa của bài Kệ nằm trong hai câu chót: thoát khỏi thế-gian nhờ thắng Ma-vương. Thoát khỏi thế-gian, chẳng phải là bay trên trời, mà là dứt hết các phiền-não ở thế-gian. Thắng được Ma-vương, chẳng phải là dùng thần-thông đánh lộn với Ma, mà là tự thắng được sự cám-dỗ trong lòng mình. Dẹp hết các phiền-não, thắng được sự cám-dỗ, đó chưa phải là thần-thông hay sao?

The Story of Thirty Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (175) of this book, with reference to thirty bhikkhus.

Once, thirty bhikkhus came to pay homage to the Buddha. When they came in, the Venerable Ananda, who was then attending on the Buddha, left the room and waited outside. After some time, Thera Ananda went in, but he did not find any of the bhikkhus. So, he asked the Buddha where all those bhikkhus had gone. The Buddha then replied, "Ananda, all those bhikkhus, after hearing my discourse, had attained arahatship, and with their supernormal powers, they let travelling through space."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 175: Swans travel in the sky; those with supernormal powers travel through space; the wise having conquered Mara together with his army, go out of this world (i.e., realize Nibbana).

Dhammapada Verse 175
Timsabhikkhu Vatthu

Hamsa diccapathe yanti
ikase yanti iddhiya
niyanti dhira lokamha

jetva maram savahinim.

Verse 175: Swans travel in the sky; those with supernormal powers travel through space; the wise having conquered Mara together with his army, go out of this world (i.e., realize Nibbana).


dhp176_B
Verse-Kệ 176

(145).- Tích chuyện bà Chỉnh-ca-mã - Kệ số 176

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến bà Chỉnh-ca-mã đã phao-vu tội dâm cho Đức Phật.

 

Thuở ấy, các nhóm tu-sĩ khổ-hạnh ngoại-đạo rất ghen-ghét Đức Phật vì các tín-đồ của họ càng ngày càng bỏ họ mà quy-y với Đức Phật. Họ bàn mưu để làm mất danh-dự của Phật. Họ kêu một người nữ-đồ-đệ rất trung-thành với họ là bà Chỉnh-ca-mã đến và nói: "Nầy tín-nữ, vì quyền-lợi chung của giáo-phái chúng ta, tín-nữ nên làm như thế nầy, để nhục-mạ Sa-môn Cồ-đàm..." Bà Chỉnh vâng lời làm theo.

 

Mỗi buổi chiều, vào lúc chạng-vạng, bà Chỉnh, tay cầm bó hoa, đi hướng về chùa Kỳ-viên. Gặp ai hỏi đi đâu, bà đáp, đi vào ngủ trong chùa. Đến lúc trời tối, bà Chỉnh lẻn sang lều của các tu-sĩ khổ-hạnh ngoại-đạo. Sáng sớm ra, bà đi về, ai có hỏi đi đâu mà về sớm thế, bà đáp, vừa từ hương-phòng của Phật ra, sau một đêm ở đấy. Cứ như thế, bà Chỉnh đi đi về về trong bốn tháng. Sau đó, bà lấy khăn quấn bụng, độn to u-u lên, làm như đang có thai. Bảy, tám tháng sau, bà lấy nhiều vải bọc một miếng gỗ mỏng, buộc trước bụng to phồng lên, dùng thuốc thoa tay chơn sưng-vù lên, trông giống như người đàn-bà sắp đến kỳ sanh-đẻ. Bà giả-bộ mệt-mỏi, lê bước tới chùa Kỳ-viên, vào lúc xế chiều khi Đức Phật còn đang giảng-pháp cho các tỳ-kheo và thiện-nam, tín-nữ nghe. Bà ong-óng miệng nói to: "Ớ nầy ông Sa-môn Cồ-đàm! Ông ngồi êm trên bồ-đoàn kia, sướng quá hả, sao ông chẳng giúp đỡ gì cho người đàn-bà mà ông cho mang bầu là tôi đang sắp sanh đây? Ông chỉ biết hưởng thú-vui xác-thịt với tôi mà chẳng chịu nhận lấy trách-nhiệm với người mà ông đã ôm-ấp." Đức Phật ngưng giảng, ôn-tồn bảo: "Nầy chị, chỉ có chị với tôi mới biết rõ là chị có nói đúng sự-thật hay không." Bà Chỉnh tru-tréo: "Ừ! Phải đó, chuyện giữa hai ta, ai vào đó mà biết được?"

 

Bấy giờ, vua Trời Đế-Thích nhìn xuống, biết chuyện gay-cấn đang diễn ra tại chùa Kỳ-viên. Ngài liền sai bốn vị thiên-nam, biến hình thành bốn con chuột lắt, cắn đứt mấy sợi dây quấn bụng bà Chỉnh, khiến cho tấm ván mỏng rơi tuột xuống. Sự-thật được phơi-bày ra, dân chúng đang ngồi nghe, nổi giận lên, tống cổ bà Chỉnh ra khỏi chùa. Sượng-sùng, bà Chỉnh vừa ra khỏi cổng chùa, đất nứt ra, hút sâu bà sa vào điạ-ngục.

 

Tối hôm ấy, các vị tỳ-kheo bàn-tán về tấn bi-hài-kịch buổi xế, Đức Phật đi ngang qua, nghe thấy, mới bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, một người đã chà-đạp Sự-thật như thế, còn có điều ác nào mà y chẳng dám làm, chẳng hề nghĩ đến ác-báo vào kiếp sau."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Kẻ nào Chơn-lý mà vi-phạm,

Dùng lời vọng-ngữ nói rêu-rao,

Bác bỏ rằng chẳng có đời sau,

Còn có ác nào, hắn chẳng dám?

(Kệ số 176.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Chỉnh-ca-mã: tên người đàn-bà nầy, tiếng Pali là Cincamànavika

 

- Phao-vu: đặt điều nói xấu rêu-rao cho kẻ khác.

 

- Khổ-hạnh = đưòng-lối tu-hành ép-xác như nhịn đói khát, luôn ngồi xổm chẳng nằm, loã-thể, v.v.

 

- Tín-đồ: Tín = tin-tưởng theo; Đồ = đồ-đệ, học-trò đạo, đệ-tử.

 

- Quy-y: Quy = quay về, Y =nương-tựa; Quy-y là tìm về nương-tựa

 

- Chạng-vạng = lúc gần chiều tối, mờ mờ.

 

- Hương-phòng = căn phòng có hương thơm, dành riêng cho Đức Phật; tiếng Pali là Gandhakutì.

 

- Ong-óng, Tru-tréo = lên cao giọng nói hỗn-hào, vô-lễ.

 

- Sa-môn: tu-sĩ, phiên-âm chữ Phạn là Sramana, có ba nghĩa: (1) cần-giả ( = siêng làm điều thiện); (2) tức-giả ( = ngưng bỏ các điều ác); (3) bần-giả ( = cam chịu thiếu-thốn).

 

- Cồ-đàm = họ của Đức Phật Thích-ca, tiếng Pali là Gotama.

 

- Bồ-đoàn = nệm để ngồi Thiền.

 

- Mang bầu: nghĩa bóng là có con trong bụng chưa sanh.

 

-Thiên-nam: Thiên = Trời; Nam = đàn-ông.

 

- Địa-ngục: Địa = đất; Ngục = nhà giam tù. Theo sự tin-tưởng trong Phật học, kẻ làm tội-ác dữ đời nầy sẽ phải chịu hình-phạt khổ-sở trong địa-ngục, khi chết về cõi âm.

 

- Tấn bi-hài-kịch: Tấn kịch = vở tuồng; Bi = buồn; hài = vui-cười. Tấn bi-hài kịch là màn đóng kịch vừa buồn, vừa tức cười.

 

- Ác-báo: Ác = dữ-ác; Báo = quả-báo, báo trả; Ác-báo là việc dữ xảy ra, do vì một tội ác trước đã qua làm nguyên-nhơn, nên nay sanh ra hậu-quả xấu là ác-báo.

 

- Chơn-lý = Sự-Thật.

 

- Vi-phạm = làm sai, phạm vào điều cấm.

 

- Vọng-ngữ: Vọng = giả-dối; Ngữ = lời nói. Vọng-ngữ là nói dối.

 

- Rêu-rao = nói lớn lên nhiều lần cốt để mọi người nghe mình.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc bà Chỉnh-ca-mã vu-oan tội dâm cho Đức Phật. Chuyện bà độn bụng, bị lộ, thật buồn cười, nhưng sau đó bà bị đất nứt, sa vào địa-ngục.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là ngoài việc kẻ nào đặt điều nói láo để hại người khác, thì sẽ bị sa vào địa-ngục; lại còn có sự ngu-ác chẳng chịu tin-tưởng theo giáo-lý là có kiếp sau của Luân-hồi, cứ tưởng-lầm, hễ chết đi là hết (đó gọi là đoạn-kiến, vốn là một tà-kiến.)

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 176:

 

Bài Kệ dạy rằng, kẻ nào rêu-rao chê-bai chẳng có đời sau hay kiếp sau là vi-phạm vào Chơn-lý, vào Sự-Thật của việc tái-sanh trong vòng Luân-hồi. Đối với kẻ ấy, chẳng có điều ác nào làm cho y sợ-hãi, vì y cho rằng chỉ có một đời thôi, hãy cứ hưởng-thọ điều sung-sướng, hãy cứ dùng mọi cách, tốt xấu chẳng hề gì, miễn là mình được lợi mà thôi, nào có quả-báo Luân-hồi chi ở đời sau mà lo.

 

Hậu-quả của tà-kiến nầy, cho rằng hễ chết là hết cả, là sẽ sa vào địa-ngục chịu hình-phạt khổ-sở để đền tội.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc bài Kệ, ghi nhớ: quả-báo, nhơn-quả, trải qua ba đời: các đời trước, đời nầy và các đời sau.

The Story of Cincamanavika

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (176) of this book, with reference to Cincamanavika.

As the Buddha went on teaching the Dhamma, more and more people came flocking to him, and the ascetics of other faiths found their following to be dwindling. So they made a plan that would harm the reputation of the Buddha. They called the very beautiful Cincamanavika, a devoted pupil of theirs, to them and said to her, "If you have our interests in your heart, please help us and put Samana Gotama to shame." Cincamanavika agreed to comply.

That same evening, she took some flowers and went in the direction of the Jetavana monastery. When people asked her where she was going, she replied, "What is the use of you knowing where I am going?" Then she would go to the place of other ascetics near the Jetavana monastery and would come back early in the morning to make it appear as if she had spent the night at the Jetavana monastery. When asked, she would reply, "I spent the night with Samana Gotama at the Perfumed Chamber of the Jetavana monastery." After three or four months had passed, she wrapped up her stomach with some cloth to make her look pregnant. Then, after eight or nine months, she wrapped up her stomach with a round piece of thin wooden plank; she also beat up her palms and feet to make them swollen, and pretended to be feeling tired and worn out. Thus, she assumed a perfect picture of a woman in an advanced stage of pregnancy. Then, in the evening, she went to the Jetavana monastery to confront the Buddha.

The Buddha was then expounding the Dhamma to a congregation of bhikkhus and laymen. Seeing him teaching on the platform, she accused the Buddha thus: "O you big Samana! You only preach to others. I am now pregnant by you, yet you do nothing for my confinement. You only know how to enjoy your self!" The Buddha stopped preaching for a while and said to her, "Sister, only you and I know whether you are speaking the truth or not," and Cincamanavika replied, "Yes, you are right, how can others know what only you and I know?"

At that instant, Sakka, king of the devas, became aware of the trouble being brewed at the Jetavana monastery, so he sent four of his devas in the form of young rats. The four rats got under the clothes of Cincamanavika and bit off the strings that fastened the wooden plank round her stomach. As the strings broke, the wooden plank dropped, cutting off the front part of her feet. Thus, the deception of Cincamanavika was uncovered, and many from the crowd cried out in anger, "Oh you wicked woman! A liar and a cheat! How dare you accuse our noble Teacher!" Some of them spat on her and drove her out. She ran as fast as she could, and when she had gone some distance the earth cracked and fissured and she was swallowed up.

The next day, while the bhikkhus were talking about Cincamanavika, the Buddha came to them and said. "Bhikkhu;, one who is not afraid to tell lies, and who does not care what happens in the future existence, will not hesitate to do any evil."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 176: For one who transgresses the Truth, and is given to lying, and who is unconcerned with the life hereafter, there is no evil that he dare not do.

Dhammapada Verse 176
Cincamanavika Vatthu

Ekam dhammam atitassa
musavadissa jantuno
vitinnaparalokassa

natthi papam akariyam.

Verse 176: For one who transgresses the Truth, and is given to lying, and who is unconcerned with the life hereafter, there is no evil that he dare not do.


dhp177_B
Verse-Kệ 177

(146).- Tích chuyện công-đức Đại-bố-thí - Kệ số 177

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến công-đức Đại-Bố-thí của vua Ba-tư-nặc, xứ Câu-tát-la.

 

Thuở ấy, vua Ba-tư-nặc có cung-thỉnh Đức Phật và chư Tăng đến hoàng-cung để làm đại-lễ trai-tăng bố-thí. Các vị quan đại-thần cũng tranh nhau cúng-dường Đức Phật và Tăng-đoàn, để thi-đua với nhà Vua. Theo đề-nghị của Hoàng-hậu Mạt-lợi, vua Ba-tư-nặc cho dựng lên một căn lều vĩ-đại, trang-hoàng rực-rỡ, có năm trăm cái lọng bằng tơ trắng, giương ra, được năm trăm con voi trắng cầm, để che mát cho năm trăm vị tỳ-kheo thọ-thí. Ngay giữa lều, mười chiếc đại-thuyền chở đầy hương-hoa thơm ngát; lại có hai trăm năm mươi nàng công-chúa trẻ đẹp cầm quạt, đứng quạt hầu cho các vị tỳ-kheo. Các quan trong triều chẳng tìm đâu ra đủ số lọng trắng, voi trắng và các nàng công-chúa nào, nên đành chịu thua.

 

Đến ngày đại-lễ, quan đại-thần Dung-hạ nhìn quang-cảnh tráng-lệ, hết lời khen ngợi nhà Vua và tỏ ra rất vui-mừng thấy Vua thực-hiện được công-đức bố-thí vĩ-đại đó. Ông nghĩ rằng công-đức vô-lượng của việc đại-bố-thí nầy, nhà vua sẽ hồi-hướng cho chúng-sanh mọi miền, và chính ông cũng được dự hưởng.Trái lại, quan đại-thần Khả-la thì nghĩ khác; ông cho rằng chỉ trong một ngày mà nhà Vua đã tiêu-phí đến hàng vạn tiền vàng để tổ-chức bố-thí. Theo ông, đó là một sự phí-phạm lớn, làm hao-tổn công-quỹ, các vị tỳ-kheo nên lãnh phần ăn rồi ra về chùa tụng kinh xong đi ngủ là tốt nhứt. Đức Phật quán-thấy tâm-trạng bủn-xỉn của quan Khả-la, Ngài nghĩ rằng, nếu nay Ngài giảng một bài pháp dài để tán-thán công-đức nhà Vua, thì quan đại-thần Khả-la sẽ bất-mãn, và hậu-quả là đời sau, ông ấy sẽ đoạ vào các đường dữ. Vì thế, Đức Phật chỉ giảng một bài pháp thật vắn-tắt, rồi ra về. Vua Ba-tư-nặc thất-vọng, tưởng rằng trong khi cúng-dường, mình có sơ-sót điều chi, nên ngày hôm sau, vua đến yết-kiến Đức Phật.

 

Vừa trông thấy vua Ba-tư-nặc đến, Đức Phật liền nói: "Hôm qua, nhà vua đã tổ-chức một cuộc đại-bố-thí vô cùng trọng-thể, thật là công-đức vô-biên. Mọi người đều khen-ngợi, chỉ trừ có quan đại-thần Khả-la chẳng thích việc bố-thí, xem đó như lãng-phí tiền-của. Nếu Như-lai thuyết-giảng dài-dòng, ông ta sẽ bất-mãn và trong tâm sẽ nổi lên sự chê-bai việc bố-thí; điều đó khiến cho đời nầy, ông ta chẳng được sung-sướng, mà đời sau lại càng khổ-sở. Vì lẽ ấy mà hôm qua Như-lai chỉ nói vắn-tắt vài lời mà thôi." Đức Phật lại nói tiếp: "Nầy Đại-vương, kẻ ngu-dại chẳng hề khen-ngợi sự bố-thí rộng-rãi của người khác, y sẽ sanh vào cõi dữ. Còn người hiền-trí biết tán-thán lòng từ-thiện của kẻ khác, biết tuỳ-hỉ công-đức, chia xẻ được lợi-lạc cùng người thí-giả và sẽ sanh lên cõi Trời vào đời sau."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Kẻ bủn-xỉn chẳng được sanh Thiên,

Người ngu-dại chẳng khen bố-thí.

Vui với lòng từ-thiện, bực hiền

Đời sau hưởng hạnh-phước vô-biên.

(Kệ số 177.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Đại-Bố-thí: Đại = lớn; Bố = rộng lớn, cùng khắp; Thí = cho. Đại-bố-thí là lễ hiến-tặng thực-phẩm, của-cải thật lớn lao cho nhiều người.

 

- Vua Ba-tư-nặc xứ Câu-tát-la: Xin nhắc lại, đây là vị vua rất tôn-sùng đạo Phật. Tiếng Pali: vua Pasenadi, nước Kosala.

 

- Thi-đua = tranh hơn.

 

- Mạt-lợi: hoàng-hậu rất sùng đạo Phật nầy, tiếng Pali là Mallikà.

 

- Lọng = cây dù lớn và cao, bên trên mặt bằng, giương ra che mát, trông rất trang-nghiêm, để đón-tiếp các bực quí-trọng.

 

- Dung-hạ: tên vị quan-lớn nầy, tiếng Pali là Junha.

 

- Công-đức vô-lượng = hành-động thiện rất rộng lớn. (Công-đức = hành-động thiện-lành, đem lại phước-báu cho người làm; Vô-lượng = chẳng thể tính-toán hết nổi, vì quá rộng lớn.)

 

- Hồi-hướng: Hồi = quay trở về; Hướng = hướng về, chiếu về; Hồi-hướng là tâm nghĩ đến việc chia xẽ lợi-lạc của công-đức đến kẻ khác.

 

- Công-quỹ: kho tiền của nhà-nước.

 

- Bủn-xỉn = keo-kiệt, kẹo, rít-róng, chẳng chịu tốn tiền của mình.

 

- Khả-la = tên vị đại-thần nầy, tiếng Pali là Kàla.

 

- Bất-mãn: Bất = chẳng; Mãn = thoả-mãn, vừa lòng. Bất-mãn là chẳng vừa ý, chẳng vui lòng.

 

- Đường dữ: dịch tiếng Hán-Việt là ác-đạo. Theo Phật-học, chúng-sanh sẽ sanh lại vào một trong sáu đường, ba đường ác ( =ác-đạo) và ba đường lành ( =thiện-đạo). Xin nhắc lại: Ba ác-đạo: (1) điạ-ngục, (2)ngạ-quỉ ( = quỉ đói); (3) súc-sanh ( =thú-vật). Ba thiện-đạo là: (4) cõi người;(5)cõi A-tu-la (Asura, thần-linh);(6) cõi Trời( = sanh Thiên)

 

- Tán-thán = khen ngợi.

 

- Từ-thiện: Từ = thương và giúp người; Thiện = lành; Từ-thiện, ở đây, trỏ vào lòng thương người và siêng-năng làm việc bố-thí.

 

- Tuỳ-hỉ công-đức: Tùy = theo; hỉ = vui. Tuỳ-hỉ công-đức là khi thấy người khác làm việc thiện, mình tỏ lòng vui-mừng cùng với người ấy, mà chẳng hề ganh-ghét. Đây cũng là một công-đức lành cho người biết tuỳ-hỉ, được chia-xẻ phước-báu với kẻ làm việc thiện.

 

- Vô-biên = chẳng có bờ bến nào, vì quá lớn (Biên = bờ ranh).

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại công-cuộc đại-bố-thí của Vua Ba-tư-nặc, một vị đại-thần biết ngợi-khen công-đức và biết tuỳ-hỉ công-đức ấy. Trái lại quan Khả-la lại chê-bai việc bố-thí, Đức Phật bảo ông ta chẳng được sung-sướng trong đời nầy, và đời sau, sẽ tái-sanh vào đường dữ.

 

Ý-nghĩa quan-trọng của Tích chuyện là việc Tuỳ-hỉ công-đức. Đây là một trong mười hạnh của Bồ-tát Phổ-Hiền, vui mừng khi thấy có người làm việc thiện. Khi tuỳ-hỉ, ta diệt được lòng ganh-ghét kẻ khác khi thấy họ làm được việc khó làm, có ích lợi cho chúng-sanh. Khi tuỳ-hỉ, ta chia-xẻ được phước-báu với người đang làm việc thiện: người ấy vui vì làm được việc thiện, ta cũng vui vì thấy người khác thành-công.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 177:

 

Ý-nghĩa bài Kệ cũng giống với ý-nghĩa Tuỳ-hỉ của Tích chuyện.

 

HỌC TẬP:

 

- Học thuộc bài Kệ, đọc lên để nhắc-nhở những kẻ bủn-xỉn, đã chẳng bố-thí, lại chẳng biết tuỳ-hỉ công-đức bố-thí của kẻ khác.

The Story of the Unrivalled Alms-Giving

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (177) of this book, with reference to the unrivalled alms-giving of King Pasenadi of Kosala.

Once, the king offered alms to the Buddha and other bhikkhus on a grand scale. His subjects, in competition with him, organized another alms-giving ceremony on a grander scale than that of the king. Thus, the king and his subjects kept on competing in giving alms. Finally, Queen Mallika thought of a plan; to implement this plan, she asked the king to have a grand pavilion built. Next, she asked for five hundred white umbrellas and five hundred tame elephants; those five hundred elephants were to hold the five hundred white umbrellas over the five hundred bhikkhus. In the middle of the pavilion, they kept ten boats which were filled with perfumes and incense. There were also two hundred and fifty princesses, who kept fanning the five hundred bhikkhus. Since the subjects of the king had no princesses, nor white umbrellas, nor elephants, they could no longer compete with the king. When all preparations were made, alms-food was offered. After the meal, the king made an offering of all the things in the pavilion, which were worth fourteen crores.

At the time, two ministers of the king were present. Of those two, the minister named Junha was very pleased and praised the king for having offered alms so generously to the Buddha and his bhikkhus. He also reflected that such offerings could only be made by a king. He was very glad because the king would share the merit of his good deeds with all beings. In short, the minister Junha rejoiced with the king in his unrivalled charity. The minister Kala, on the other hand, thought that the king was only squandering, by giving away fourteen crores in a single day, and that the bhikkhus would just go back to the monastery and sleep.

After the meal, the Buddha looked over at the audience and knew how Kala the minister was feeling. Then, he thought that if he were to deliver a lengthy discourse of appreciation, Kala would get more dissatisfied, and in consequence would have to suffer more in his next existence. So, out of compassion for Kala, the Buddha delivered only a short discourse and returned to the Jetavana monastery. The king had expected a lengthy discourse of appreciation, and so he was very sad because the Buddha had been so brief. The king wondered if he had failed to do something which should have been done, and so he went to the monastery.

On seeing the king, the Buddha said, "Great King! You should rejoice that you have succeeded in making the offering of the unrivalled charity (asadisadana). Such an opportunity comes very rarely; it comes only once during the appearance of each Buddha. But your minister Kala had felt that it was a waste, and was not at all appreciative. So, if I had given a lengthy discourse, he would get more and more dissatisfied and uncomfortable, and in consequence, he would suffer much more in the present existence as well as in the next. That was why I preached so briefly."

Then the Buddha added, "Great King! Fools do not rejoice in the charities given by others and go to the lower worlds. The wise rejoice in other people's charities and through appreciation, they share in the merit gained by others and go to the abode of the devas".

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 177: Indeed, misers do not go to the abode of the devas; fools do not praise charity; but the wise rejoice in charity and so gain happiness in the life hereafter.

Dhammapada Verse 177
Asadisadana Vatthu

Na ve kadariya devalokam vajanti
bala have nappasamsanti danam
dhiro ca danam anumodamano

teneva so hoti sukhi parattha.

Verse 177: Indeed, misers do not go to the abode of the devas; fools do not praise charity; but the wise rejoice in charity and so gain happiness in the life hereafter.


 dhp178_B
Verse-Kệ 178

(147).- Tích chuyện con trai ông Cấp-cô-độc - Kệ số 178

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến ngưòi con trai của ông Cấp-cô-độc, tên là Khả-la.

 

Ông Cấp-cô-độc là một người đệ-tử tu tại-gia rất thuần-thành của Đức Phật. Ông rất chăm làm việc bố-thí, cứu-giúp kẻ nghèo-khó, cô-đơn, nên được người đời tặng cho danh-hiệu là Cấp-cô-độc. Chính ông đã đem vàng ra trải lên mặt đất để mua khu vườn của Thái-tử Kỳ-đà, cất chùa Kỳ-viên, dưng-cúng Đức Phật và Tăng-đoàn. Nhưng ông có người con trai, tên là Khả-la, lại chẳng chịu nghe Chánh-pháp, mỗi khi Đức Phật đến nhà thuyết-pháp, thì cậu ta lại bỏ đi chơi. Ông Cấp-cô-độc nghĩ ra một cách để cho con mình biết trọng Chánh-pháp. Biết chàng thiếu-niên nầy muốn có tiền riêng để tiêu-phí, ông Cấp-cô-độc liền bảo rằng: "Nầy Khả-la, nếu con chịu vào chùa thọ Bát-quan-trai trong một ngày, cha sẽ cho con mười đồng tiền vàng." Khả-la bằng lòng, vào chùa, trong hai mươi bốn tiếng, phần lớn là ngồi ngủ gục, chẳng nghe Đức Phật giảng-pháp. Hôm sau về nhà, trước khi ăn cháo buổi sáng Khả-la đã ngửa tay ra đòi tiền ... công đi tu!

 

Cách đó mấy ngày, ông Cấp-cô-độc bảo con: "Nầy con, cha muốn nghe một bài Kệ của Đức Phật, con hãy vào chùa ngồi nghe giảng-pháp và học thuộc lòng một bài Kệ về đọc lại cho cha nghe, cha sẽ thưởng con hai mươi đồng tiền vàng." Khả-la thích tiền nhiều hơn kỳ trước, đi ngay vào chùa, thưa với Đức Phật xin nghe giảng pháp và học một bài Kệ. Đức Phật giảng một bài pháp ngắn và đọc lên bốn cây Kệ. Nghe xong, Khả-la đọc nhẩm lại trong đầu, nhưng chẳng nhớ hết. Được Phật nhắc lại, Khả-la ráng học thuộc, đọc đi đọc lại nhiều lần cho nhuần, rồi chạy thẳng về nhà, đọc lên vanh-vách, và đòi ... tiền công.

 

Trong vòng nửa tháng, Khả-la lãnh được nhiều tiền mà trong tâm cũng thuộc được nhiều bài Kệ. Nhờ đọc đi đọc lại nhiều lần cho thật thuộc để nhắc lại cho cha nghe, nên tâm-trí Khả-la bắt đầu hiểu được nghĩa sâu-xa của các bài Kệ, tồi từ đó mà lần lần mến-thích Đạo-pháp. Chẳng bao lâu, Khả-la chứng được quả-vị Tu-đà-huờn.

 

Hôm ấy, Khả-la thọ Bát ở chùa xong, liền tháp-tùng cùng chư Tăng, theo Đức Phật, trở về nhà, vì ông Cấp-cô-độc đang sửa-soạn thực-phẩm để cúng-dường. Khả-la vào nhà, liền ra ngồi nghiêm-chỉnh lắng nghe bài thuyết-pháp của Đức Phật, lòng nghĩ thầm: "Cầu mong cha ta đừng đem tiền ra thưởng ta trước mặt Đức Phật, ta chẳng muốn Ngài biết rằng ta đi thọ Bát chỉ để lãnh tiền công tu." Nhưng sau thời pháp, ông Cấp-cô-độc mang tiền ra cho con, ngạc-nhiên thấy Khả-la từ-chối chẳng nhận. Ông liền bạch Phật: "Sao bây giờ, thằng Khả-la của con, tánh-tình lại đổi khác như thế? Mấy tháng nay, hễ nó vào chùa học thuộc được bài Kệ nào, đọc lại cho con nghe, thì được thưởng tiền, nay số tiền nầy lên đến cả ngàn, sao nó lại chê?" Đức Phật vui-vẻ bảo; ‘Khả-la nay đã chứng được quả-vị Tu-đà-huờn, lòng đã dứt được sự tham-luyến tiền-của. Đắc được quả-vị Tu-đà-huờn còn quí hơn là ngai vàng của vị bá-chủ hoàn-cầu, của chư Thiên và của các Phạm-thiên."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Hơn quyền bá-chủ hoàn-cầu,

Hơn ngôi Thiên-chủ trên bầu Trời xanh;

Chủ-tể càn-khôn tranh chưa nổi,

Chính là quả-vị Tu-đà-huờn.

(Kệ số 178.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

-Cấp-cô-độc: tên vị cư-sĩ nổi-danh nầy, tiếng Pali: Anàthapindika

 

- Thuần-thành = rất mộ-đạo và chăm chỉ tu-hành.

 

- Cô-đơn, Cô-độc = ở một mình chẳng có cha-mẹ, bà-con giúp.

 

- Thọ Bát-quan-trai: Xin nhắc lại: thọ Bát là vào chùa tu trong 24 giờ, tuân theo 8 điều giới-cấm.

 

- Tu-đà-huờn: tiếng Pali là Sotapatti, dịch là Nhập-Lưu, nghĩa là được bước vào dòng nước Thánh ( = đã tu đúng đường rồi), còn gọi là Thất-Lai, nghĩa là chỉ còn phải tái-sanh bảy lần nữa, mới chứng quả Thánh, khỏi phải sanh-tử trong cảnh Luân-jồi khổ-đau và lẩn-quẩn.

 

- Tham-luyến = tham-lam và luyến-tiếc, chẳng dứt bỏ đi được.

 

- Ngai vàng = cái ghế bằng vàng dành cho Vua ngồi.

 

- Bá-chủ hoàn-cầu: vị chúa-tể cai trị cả hoàn-cầu ( = trái đất.)

 

- Thiên-chủ = vua Trời.

 

- Càn-khôn = vũ-trụ, hoàn-cầu, thế-giới.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại việc dạy con theo Đạo-pháp, rất khôn-khéo của ông Cấp-cô-độc: dùng sự tưởng-thưởng để từ từ khuyến-khích con đi theo con dường đạo-đức.

 

Ta có thể ứng-dụng cách dạy con nầy vào việc sửa đổi lần lần tánh-nết của con:

 

- tập cho con tánh có trật-tự và sạch-sẽ: mỗi khi chúng chơi xong, nhắc chúng dọn-dẹp đồ chơi lại cho có thứ-tự, rồi thưởng cho một món đồ chơi mà nó thích.

 

- Mừng ngày Sinh-nhựt của mẹ, bảo trẻ đọc một bài Kệ ngắn, gọi là đền ơn mẹ, v.v.

 

(2) Ý-nghĩa của Bài Kệ số 178:

 

Bài Kệ nêu lên sự quí-báu của quả-vị Tu-đà-huờn là quả-vị đầu-tiên trong hàng Thanh-văn. Tại sao lại quí-báu:

 

- quí hơn ngôi bá-chủ hoàn-cầu, vì, vị bá-chủ đó khi hưởng hết phước làm bá-chủ sẽ phải tái-sanh lại, có thể sa vào các đường dữ, nếu trong khi còn sống chẳng làm lành. Còn vị đã chứng quả Tu-đà-huờn khi tái-sanh lại bảy lần, đều sanh vào ba đường lành.

 

- quí hơn các bực Trời, các vị chủ-tể càn-khôn, vì, các bực Trời, các bực chủ-tể, khi hưởng hết phước, tái-sanh lại có thể được làm người hay phải sa vào đường dữ.

 

Điểm quí-báu nhứt của quả-vị Tu-đà-huờn là đã đi đúng con đường Thánh-đạo, tiếp-tục đi tới chẳng thoái chuyển, sau bảy đời sẽ chứng quả vô-sanh của bực Thánh, an-nhàn trong cõi Niết-bàn.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Học kỹ bài Kệ, ghi nhớ: sự quí-báu của quả-vị Tu-đà-huờn.

 

2.- Khuyến khích sắp nhỏ theo bà ngoại đi chùa, về nhà sẽ khen.

The Story of Kala, son of Anathapindika

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (178) of this book, with reference to Kala, son of Anathapindika, the well renowned rich man of Savatthi.

Kala, son of Anathapindika, always kept away whenever the Buddha and his company of bhikkhus came to their house. Anathapindika was afraid that if his son kept on behaving in this way, he would be reborn in one of the lower worlds (apayas). So, he enticed his son with the promise of money. He promised to give one hundred if the youth consented to go to the monastery and keep sabbath for one day. So, the youth went to the monastery and returned home early the next day, without listening to any religious discourses. His father offered him rice gruel, but instead of taking his food, he first demanded to have the money.

The next day, the father said to his son, "My son, if you learn a stanza of the Text from the Buddha I will give you one thousand on your return." So, Kala went to the monastery again, and told the Buddha that he wanted to learn something. The Buddha gave him a short stanza to learn by heart; at the same time he willed that the youth would not be able to memorize it. Thus, the youth had to repeat a single stanza many times, but because he had to repeat it so many times, in the end, he came to perceive the full meaning of the Dhamma and attained Sotapatti Fruition.

Early on the next morning, he followed the Buddha and the bhikkhus to his own house. But on that day, he was silently wishing, "I wish my father would not give me the one thousand in the presence of the Buddha. I do not wish the Buddha to know that I kept the sabbath just for the sake of money." His father offered rice gruel to the Buddha and the bhikkhus, and also to him. Then, his father brought one thousand, and told Kala to take the money but surprisingly he refused. His father pressed him to take it, but he still refused. Then, Anathapindika said to the Buddha, "Venerable Sir, my son is quite changed; he now behaves in a very pleasant manner." Then he related to the Buddha how he had enticed the youth with money to go to the monastery and keep sabbath and to learn some religious texts. To him the Buddha replied, "Anathapindika! Today, your son has attained Sotapatti Fruition, which is much better than the riches of the Universal Monarch or that of the devas or that of the brahmas."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 178: Far better than sovereignty over the earth, or far better than going to the abodes of the devas, or far better than ruling supreme over the entire universe, is (the attainment of) Sotapatti Fruition.


Dhammapada Verse 178
Anathapindikaputtakala Vatthu

Pathabya ekarajjena
saggassa gamanena va
sabbalokadhipacce na

sotapattiphalam varam.


Verse 178: Far better than sovereignty over the earth, or far better than going to the abodes of the devas, or far better than ruling supreme over the entire universe, is (the attainment of) Sotapatti Fruition.


End of Chapter Thirteen: The World (Lokavagga)


__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Giêng 201910:04 CH(Xem: 168)
Ăn uống: Sử dụng nhiều rau xanh hàng ngày để bổ sung chất xơ cho đường tiêu hóa giúp làm nhuận tràng, hạn chế thực phẩm giàu béo, hạn chế dầu mỡ, thực phẩm chiên rán, hạn chế dùng chất kích thích như chè, café, bia rượu, chất cay, đắng, nóng. Uống đủ nước hàng ngày. – Vận động: Tránh béo phì, thường xuyên vận động
26 Tháng Giêng 20199:51 CH(Xem: 228)
Có một cậu sinh viên và một người Thầy lớn tuổi đang trao đổi với nhau về sự hoàn hảo. Chàng thanh niên với sức khỏe và lòng nhiệt huyết luôn muốn đi tìm cho mình mọi sự hoàn hảo. Người Thầy đã chú ý lắng nghe và thấu hiểu cậu sinh viên. Với bao nhiêu năm sống và hiểu biết bao chuyện xảy ra, ông nhẹ nhàng nói với cậu sinh viên:
21 Tháng Giêng 201910:37 CH(Xem: 203)
Từ trước khi được làm mẹ, tôi đã gặp chẳng ít những người mẹ đau khổ, luôn tự hỏi một câu: Tại sao mình đã hy sinh cho con tất cả, mà vẫn chẳng thể có được đứa con như mình mong muốn? Đứa con ấy có thể đã hỗn hào với mẹ, có thể đã cưới người vợ không hợp ý mẹ, đã lựa chọn một nghề nghiệp mà người mẹ kịch liệt phản đối,
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 257)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 485)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 860)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 878)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 697)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 488)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 551)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 602)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1455)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 834)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 627)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1649)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 1085)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4423)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8559)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1646)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 656401)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 494)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1413)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 2257)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 1051)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 1025)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 3106)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 163)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 542)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 658)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 3959)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
24 Tháng Giêng 20194:07 CH(Xem: 321)
Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Nhiều Tác Giả - Many Authors)
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 319)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,