Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 19, Phẩm Pháp-trụ - The Dhammapada, Chapter 19, The Just

17 Tháng Mười Hai 201810:41 SA(Xem: 217)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 19, Phẩm Pháp-trụ - The Dhammapada, Chapter 19, The Just

Chapter19-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 19, Phẩm Pháp-trụ
The Dhammapada, Chapter 19, Dhammatthavagga: The Just

(Kệ 256-272 - Verses 256-272)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp256_B
dhp257_B
Verse-Kệ 256-257

(194).- Tích chuyện các vị thẩm-phán - Kệ số 256 và 257

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến các vị thẩm-phán xét-xử chẳng đúng theo luật-pháp.

 

Một hôm, có các vị tỳ-kheo đi khất-thực xong, trở về tịnh-xá, gặp cơn mưa to, mớí đến tạm trú ngoài hàng hiên của một toà-án. Trong khi đó, bên trong phòng án, các vị thẩm-phán đang phân-xử các vụ kiện. Các vị tỳ-kheo nhận thấy rằng, khi phán-quyết, có vị thẩm-phán lại định-đoạt một cách chuyên-chế, xử chẳng công-bằng, vì đã trót nhận tiền hối-lộ của những người kiện-tụng. Khi ra về đến tịnh-xá, các vị tỳ-kheo thưa trình cùng Đức Phật những điều đã nghe thấy tại toà-án. Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, khi phân-xử các mối tranh-chấp, nếu để cho tình-cảm hay tiền-bạc lôi-cuốn, thì đó chẳng phải là những vị thẩm-phán công-minh chánh-trực, chẳng phải là người tuân-phục vào luật-lệ. Chỉ khi nào xét-xử vô-tư, dùng trí thông-minh quyết-đoán đúng theo luật-lệ, bấy giờ mới xứng danh là một vị thẩm-phán công-bằng, an-trú nơi luật-pháp."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Chẳng phải là người an-trụ pháp,

Kẻ nào chuyên-chế phán-xét ai.

Chánh-tà, đen-trắng, cả hai,

Xử-phân rành-rẽ, người tài-trí cao.

(Kệ số 256.)

 

Chẳng chuyên-chế, thật công-bằng

Đúng theo luật-pháp dẫn đường dân đen.

Hộ-trì sáng-suốt nền luật-pháp,

Đấy mới xứng-danh bực Pháp-trụ.

(Kệ số 257.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Pháp-Trụ: Pháp = có hai nghĩa: luật-pháp và giáo-pháp; Trụ = ở yên nơi đó. Người trụ-pháp luôn tuân-phục luật-pháp và giáo-pháp.

 

- Thẩm-phán: quan Toà, người phân-xử các sự tranh-chấp.

 

- Toà-án: nơi xét-xử các cuộc tranh-chấp, ấn-định hình-phạt.

 

- Phán-quyết = quyết-định về phải, quấy, của quan Toà.

 

- Chuyên-chế: Chuyên = nghiêng riêng về một phía; Chế = bó-buộc. Người chuyên-chế bắt kẻ khác phải theo ý riêng của mình.

 

- Kiện-tụng = tranh-cãi nhau phải nhờ Toà-án phân-xử.

 

- Công-minh chánh-trực: Công = ngay-thẳng; Minh = sáng-suốt; Chánh = chơn-chánh, đứng-đắn; Trực = thẳng. Quan Toà công-minh chánh-trực thì xử-đoán công-bằng, phải quấy, chánh tà thật rõ-ràng.

 

- Vô-tư: Vô = chẳng; Tư = riêng, thiên-vị. Người vô-tư là người công-bình, chẳng riêng vị bụng người nào mà bẻ vẹo công-lý.

 

- An-trụ pháp: có hai nghĩa: (1) lúc nào cũng giữ đúng theo luật-pháp trong xã-hội; (2) luôn tuân theo đầy-đủ các giới-luật trong Đạo.

 

- Hộ-trì: Hộ = bảo-vệ; Trì = giữ-gìn. Hộ-trì luật-pháp là giữ cho nền luật-pháp được sáng-tỏ và được mọi người biết tuân-theo.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất đơn-sơ: một nhóm tỳ-kheo nhận-xét cách xét-xử thiếu công-bằng của thẩm-phán nơi toà-án, mớí thưa trình cùng Đức Phật. Đức Phật nhơn đó mới chỉ dạy thế nào là người trụ-pháp. Đức Phật bảo: "Người có nhiệm-vụ phân-xử phải thật công-bằng, chớ nên vì tình-cảm hay vì tiền bạc mà xét đoán thiếu vô-tư. Bực pháp-trụ là người xét-xử đúng theo luật-pháp, chẳng chút nào thiên-vị."

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là ngoài việc tuân-hành các luật-lệ trong xã-hội, còn có việc tuân-phục các giới-luật trong Đạo, các lời chỉ-dạy trong Chánh-pháp nữa. Kẻ tuân theo đầy-đủ, giới-đức thanh-tịnh, mới được gọi là bực pháp-trụ.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 256 và 257:

 

Cả hai bài Kệ, ý-nghĩa rất sáng-tỏ rõ-ràng, nói đến những bực tuân-trì luật-pháp trong xã-hội, để phân-xử các mối tranh-chấp của người dân. Đấy là những người xét-xử vô-tư, chẳng thiên-vị, xứng-đáng với danh-nghĩa là bực Pháp-trụ.

The Story of the Judge

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (256) and (257) of this book with reference to some judges who were corrupt.

One day, some bhikkhus were returning from their round of alms-food when it rained and they went into a law court to take shelter. While they were there, they found out that some judges, having taken bribes, were deciding cases arbitrarily. They reported the matter to the Buddha and the Buddha replied, "Bhikkhus! In deciding cases, if one is influenced by affection or by monetary consideration, he cannot be called 'the just', or 'a judge who abides by the law.' If one weighs the evidence intelligently and decides a case impartially, then he is to be called, 'the just' or 'a judge who abides by the law.'"

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 256: He is not just if he decides a case arbitrarily; the wise man should decide after considering both what is right and what is wrong.

 

Verse 257: The wise man who decides not arbitrarily but in accordance with the law is one who safeguards the law; he is to be called 'one who abides by the law (dhammattho)'.


Dhammapada Verses 256 and 257
Vinicchayamahamatta Vatthu

Na tena hoti dhammattho
yenattham sahasa naye
yo ca attham anatthanca
ubbo niccheyya pandito.

Asahasena dhammena
samena nayati pare
dhammassa gutto medhavi
"dhammattho" ti pavuccati.

Verse 256: He is not just if he decides a case arbitrarily; the wise man should decide after considering both what is right and what is wrong.

Verse 257: The wise man who decides not arbitrarily but in accordance with the law is one who safeguards the law; he is to be called 'one who abides by the law (dhammattho).'


dhp258_B
Verse-Kệ 258

(195).- Tích chuyện sáu vị tỳ-kheo ba-hoa. - Kệ số 258

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến thái-độ ăn nói ba-hoa của sáu vị tỳ-kheo.

 

Thuở ấy, có sáu vị tỳ-kheo thường hay gây nên sự xáo-trộn nơi phòng ăn trong tu-viện hay ở làng-mạc. Một hôm, trong khi các vị Sa-di đang thọ-thực, nhóm sáu vị tỳ-kheo đó bước vào trai-đường, nói vang lên: "Nầy các chú Sa-di, các chú phải biết chúng ta đây là bực hiền-trí." Rồi họ lại đẩy bàn, kéo ghế, tranh nhau chỗ ngồi cao, làm mất cả trật-tự và sự yên-lặng nơi phòng ăn. Khi Đức Phật biết được sự-việc ấy, Ngài bảo rằng: ‘Nầy chư tỳ-kheo, Như-Lai chẳng gọi là bực hiền-trí, những kẻ hay ăn nói ba-hoa, chẳng nể-nang kẻ khác, làm mất lòng người chung-quanh. Chỉ những người chẳng đem lòng thù-hận kẻ khác, chẳng hại người, mới xứng-danh là bực hiền-trí."

 

Rồi Đức Phật mơí nói lên bài Kệ sau đây:

 

Chẳng phải trở thành người hiền-trí,

Kẻ đã lắm lời nói ba-hoa.

Chẳng thù, chẳng sợ, an-hoà,

Bực hiền-trí đó mới là xứng-danh.

(Kệ số 258.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ba-hoa: ăn nói xấc-xược, lia lia cái miệng chẳng ngừng.

 

- Sa-di: người mới vào tập-sự tu-hành trong chùa, chưa thọ-giới tỳ-kheo; tiếng Pali là Sàmanera.

 

- Thọ-thực: Thọ = nhận; Thực = ăn. Tiếng nhà chùa nghĩa là ăn cơm

 

- Trai-đường: Trai = bữa ăn chay: Đường: nhà. Trai-đường là phòng ăn trong chùa.

 

- Hiền-trí: Hiền = hiền-lành; Trí = trí-huệ. Hiền-trí là người hiền-lành, có trí thông-minh; theo nghĩa trong Phật-học, đó là người có giới-đức thanh-tịnh, thông-hiểu Chánh-pháp, còn gọi là thiện-tri-thức.

 

- Như-Lai: tiếng Đức Phật tự-xưng khi nói với đệ-tử. Pali là Tathàgata. (Như = như thế, Lai = đến; bực đã đến đây như thế)

 

- An-hoà: An = an-ổn; Hoà = hoà-thuận. Người an-hoà sống yên-ổn, hiền-lành, chẳng gây sự chống-đối với kẻ khác.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại thái-độ ba-hoa của sáu vị tỳ-kheo gây xáo-trộn trong phòng ăn. Đức Phật dạy, muốn xứng-danh là bực hiền-trí, phải là người chẳng thù-hận, an-hoà, chẳng làm hại đến kẻ khác.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 258:

 

Bài Kệ chê thái-độ ba-hoa của kẻ lắm lời và nêu ra ba đức-tánh tốt của bực hiền-trí: chẳng hận-thù, chẳng sợ-hãi và sống an-hoà với mọi người.

The Story of a Group of Six Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (258) of this book, with reference to a group of six bhikkhus.

Once, there was a group of six bhikkhus who made trouble at the place of eating either in the monastery or in the village. One day, while some samaneras were, having their alms-food, the group of six bhikkhus came in and said boastfully to the samaneras, "Look! We only are the wise." Then they started throwing things about, leaving the place of eating in disorder. When the Buddha was told about this, he said, "Bhikkhus! I do not say that one who talks much, abuses and bullies others is a wise man. Only he who is free from hatred, and harms no one is a wise man."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 258: He is not a wise man just because he talks much; only he who is peaceful, free from enmity, and does no harm to others, is to be called 'a wise man'.

Dhammapada Verse 258
Chabbaggiya Vatthu

Na tena pandito hoti
yavata bahu bhasati
khemi averi abhayo
"pandito" ti pavuccati.

Verse 258: He is not a wise man just because he talks much; only he who is peaceful, free from enmity, and does no harm to others, is to be called 'a wise man'.


dhp259_B
Verse-Kệ 259

(196).- Tích chuyện Trưởng-lão Nhứt-Kệ-tụng - Kệ số 259

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị Trưởng-lão chỉ thuộc lòng có mỗi một bài Kệ, nên được biệt-hiệu là tỳ-kheo Nhứt-Kệ-tụng.

 

Thuở ấy, có một vị Tỳ-kheo sống ẩn-cư trong một khu rừng ở xứ Xá-vệ. Vào ngày rằm, vị ấy thường đọc-tụng bài Kệ duy-nhứt mà vị ấy thuộc, cho dân-chúng nghe. Hôm ấy, có hai vị Trưởng-lão rất thông-thạo Chánh-pháp, dẫn một nhóm đông tỳ-kheo vào rừng, để thực-tập Thiền-định. Tỳ-kheo Nhứt-Kệ-tụng mới thỉnh hai vị ấy đăng-đàn thuyết-pháp. Hai vị hỏi, có nhiều người đến nghe chăng; vị tỳ-kheo ẩn-cư đáp, dân-chúng đến nghe cũng khá đông, mà các vị thọ-thần trong khu rừng cũng nhiệt-liệt tán-thưởng nữa. Hai vị liền nhận lời nói pháp. Sau thời pháp, dân-chúng ngồi nghe, giữ im-lặng, còn các thọ-thần trong rừng cũng chẳng thấy tán-thán như thường-lệ. Hai vị Trưởng-lão rất ngạc-nhiên, và mời tỳ-kheo Nhứt-Kệ-tụng thử lên nói pháp xem sao. Vị tỳ-kheo vâng lời, lấy cây quạt che mặt lại và tụng-đọc bài Kệ quen thuộc rồi giảng nghĩa rành-rẽ. Dân-chúng tỏ vẽ rất hài lòng, các thọ-thần cũng tán-thưởng nhiệt-liệt.

 

Khi trở về tịnh-xá, các vị tỳ-kheo mới thưa trình sự-việc cùng Đức Phật: "Bạch Thế-tôn, dân-chúng và các thọ-thần trong rừng đã tỏ ra thiên-vị trong việc tán-thán Tỳ-kheo Nhứt-kệ-tụng, mà họ chẳng biết khen-tặng hai vị Trưởng-lão của chúng con là những người rất thông-thạo Chánh-pháp." Đức Phật đáp: ‘Nầy chư tỳ-kheo, Như-Lai chẳng gọi là thông-thạo Chánh-pháp, kẻ nào đã học nhiều và nói lắm về Chánh-pháp. Người thông-thạo Chánh-pháp, mặc dầu chỉ thuộc một bài Kệ duy-nhứt, nhưng thấu-hiểu tường-tận về Tứ-Diệu-đế, luôn luôn tỉnh-thức, đó mới là người trì-pháp thật cao."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Chẳng phải trở thành người trì-pháp,

Kẻ đã lắm lời nói ba-hoa.

Tuy nghe ít nhưng mà trực-chứng,

Chẳng lảng-xao Giáo-pháp chút nào,

Đấy là người trì-pháp thật cao.

(Kệ số 259.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Nhứt-Kệ-tụng: biệt-hiệu nầy, tiếng Pali là Ekudàna (Eka = một; Udàna = bài Kệ nói lên cảm-hứng của Đức Phật, trong Tiểu-Bộ-Kinh)

 

- Ẩn-cư = ở ẩn, sống riêng một mình nơi vắng-vẻ.

 

- Duy-nhứt: chỉ riêng có một mà thôi.(Nhứt = một.)

 

- Thực-tập Thiền-định = tập-luyện việc ngồi Thiền, nhập định.

 

- Đăng-đàn: Đăng = leo lên; Đàn = cái đài cao để làm lễ, hay để nói chuyện với công-chúng. Đăng-đàn là bước lên đài để nói pháp.

 

- Thọ-thần: Thọ = cây to sống lâu năm; Thần = thần-linh. Thọ-thần là thần-linh sống dựa trên cây cổ-thọ.

 

- Tán-thán, tán-thưởng = khen-ngợi.

 

- Hài-lòng = vui lòng, mừng-rỡ.

 

- Thiên-vị = Thiên = nghiêng qua một bên; Vị = vì-nể. Thiên-vị là thiếu sự công-bằng, trọng người nầy hơn người kia.

 

- Tứ-Diệu-Đế: Tứ = bốn; Diệu = nhiệm-mầu; Đế = Chơn-lý. Bốn Chơn-lý nhiệm-mầu: (1) Khổ-đế, đời là khổ; (2) Tập-đế, nguyên-nhơn của Khổ là tham-ái; (3) Diệt-đế, sự chấm-dứt Khổ, tức là Niết-bàn; ...

 

(4) Đạo-đế, con đường Thánh-đạo đưa ta ra khỏi cảnh khổ của cuộc tái-sanh trong Luân-hồi. Con đường đó là Bát-Chánh-đạo.

 

- Tỉnh-thức: Tỉnh = tỉnh-táo, chẳng mê; Thức = biết rõ. Người tỉnh-thức là người luôn luôn chú-tâm, đang làm, nói, nghĩ gì, thì trong tâm biết rõ mình đang làm, nói, nghĩ về điều đó, và chỉ điều đó mà thôi.

 

- Trì-pháp: Trì = giữ-gìn, hộ-trì; Pháp = Chánh-pháp. Trì-pháp ở đây cùng một nghĩa với chữ Pháp-trụ, an-trụ nơi Chánh-pháp.

 

- Trực-chứng: Trực = thẳng, chẳng qua trung-gian của ai hay vật gì; Chứng = chính mình thấy, nghe và biết rõ, chớ chẳng phải chỉ nghe kẻ khác nói rồi tin theo.

 

- Giáo-pháp = giáo-lý, Chánh-pháp, lời giảng-dạy trong Đạo.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc một vị tỳ-kheo chỉ học thuộc có một bài Kệ duy-nhứt, nhưng rất thông-thạo Chánh-pháp, nên được Đức Phật khen là người biết trì-pháp.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là: về Chánh-pháp, chỉ cần hiểu thật thấu đáo nghĩa Tứ-diệu-đế, lòng luôn luôn tỉnh-thức, đó mới thật là người đang trụ-pháp.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 259:

 

Thử phân-tách từng câu bài Kệ:

 

1) Chẳng phải trở thành người trì-pháp, Kẻ đã lắm lời nói ba-hoa: Mặc dầu thông-hiểu Chánh-pháp, nếu nói quá nhiều, để tỏ ra mình hiểu rõ giáo-lý; đó chẳng phải là người trì-pháp mà là người khoe-khoang sự hiểu-biết.

 

2) Tuy nghe ít nhưng mà trực-chứng: nghe ít mà hiểu thấu-đáo, chính mình nhận thấy được sự tu-hành có hiệu-quả tốt đến bổn-thân mình, đó gọi là trực-chứng, tu mà biết mình đang tu thật-sự.

 

3) Chẳng lảng-xao Giáo-pháp chút nào: tâm luôn luôn nhớ đến Chánh-pháp, biết giữ thân, miệng, ý theo đúng giới-luật, đó mới thật là trì-pháp, giữ-gìn pháp mãi trong tâm.

 

4) Đấy là người trì-pháp thật cao: Cao, vì chẳng có lúc nào sơ-hở hay quên Chánh-pháp cả.

The Story of Ekudana the Arahat

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (259) of this book, with reference to a bhikkhu who was an arahat.

This bhikkhu lived in a grove near Savatthi. He was known as Ekudana, because he knew only one stanza of exultation (Udana) by heart. But the thera fully understood the meaning of the Dhamma as conveyed by the stanza. On each sabbath day, he would exhort others to listen to the Dhamma, and he himself would recite the one stanza he knew. Every time he had finished his recitation, the guardian spirits (devas) of the forests praised him and applauded him resoundingly. On one sabbath day, two learned theras, who were well-versed in the Tipitaka, accompanied by five hundred bhikkhus came to his place. Ekudana asked the two theras to preach the Dhamma. They enquired if there were many who wished to listen to the Dhamma in this out of the way place. Ekudana answered in the affirmative and also told them that even the guardian spirits of the forests usually came, and that they usually praised and applauded at the end of discourses.

So, the two learned theras took turns to preach the Dhamma, but when their discourses ended, there was no applause from the guardian spirits of the forests. The two learned theras were puzzled; they even doubted the words of Ekudana. But Ekudana insisted that the guardian spirits used to come and always applauded at the end of each discourse. The two theras then pressed Ekudana to do the preaching himself. Ekudana held the fan in front of him and recited the usual stanza. At the end of the recitation, the guardian spirits applauded as usual. The bhikkhus who had accompanied the two learned theras complained that the devas inhabiting the forests were very partial.

They reported the matter to the Buddha on arrival at the Jetavana monastery. To them the Buddha said. "Bhikkhus! I do not say that a bhikkhu who has learnt much and talks much of the Dhamma is one who is versed in the Dhamma, (Dhammadhara)." One who has learnt very little and knows only one stanza of the Dhamma, but fully comprehends the Four Noble Truths, and is ever mindful is the one who is truly versed in the Dhamma."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 259: He is not "one versed in the Dhamma (Dhammadhara)" just because he talks much. He who hears only a little but comprehends the Dhamma, and is not unmindful is, indeed, "one versed in the Dhamma".

Dhammapada Verse 259
Ekudanakhinasava Vatthu

Na tavata dhammadharo
yavata bahu bhasati
yo ca appampi sutvana
dhammam kayena passati
sa ve dhammadharo hoti
yo dhammam nappamajjati.

Verse 259: He is not "one versed in the Dhamma (Dhammadhara)" just because he talks much. He who hears only a little but comprehends the Dhamma, and is not unmindful is, indeed, "one versed in the Dhamma".


dhp260_B
dhp261_B
Verse-Kệ 260-261

(197).- Tích chuyện Trưởng-lão Phát-di-gia - Kệ số 260 và 261

 

Tích Chuyện nầy hơi giống Tích chuyện số (65).

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị Trưởng-lão Phát-di-gia.

 

Thuở ấy, có Trưởng-lão Phát-di-gia tu-hành rất tinh-tấn, chứng-đắc được quả-vị A-la-hán. Vì Trưởng-lão người thấp-lùn, nên thường bị các tỳ-kheo trẻ tuổi gán cho biệt-hiệu là Lakundaka, có nghĩa là người lùn-tịt. Một hôm có ba mươi vị tỳ-kheo ở phương xa đến yết-kiến Đức Phật. Đức Phật quán-thấy đã đủ cơ-duyên cho các vị ấy chứng-đắc được đạo-quả, nên khi họ vừa ngồi xuống bên cạnh, Đức Phật liền hỏi: "Nầy chư tỳ-kheo, khi quí-vị bước vào đại-sảnh, quí-vị có thấy một vị Trưởng-lão nào chăng?" Các vị tỳ-kheo thưa: "Bạch Thế-tôn, khi bước vào đại-sảnh, chúng con chẳng thấy có vị Trưởng-lão nào cả, chỉ thấy một chú Sa-di thấp-lùn mà thôi." Đức Phật bảo: "Nầy chư Tỳ-kheo, vị đó chẳng phải là Sa-di, tuy người thấp-lùn và rất khiêm-tốn, nhưng tu-hành thật tinh-tấn, chứng-đắc quả-vị A-la-hán rồi. Như-Lai chẳng gọi là Trưởng-lão, những ai vì đầu bạc, đạo-mạo trông như một Trưởng-lão; chỉ bực nào thông-suốt Tứ-Diệu-Đế, chẳng hề sanh tâm làm não-hại đến chúng-sanh, Như-Lai mới gọi đó là bực Trưởng-lão".

 

Rồi Đức Phật nói lên hai bài Kệ sau đây, nhờ đó mà các vị tỳ-kheo du-phương chứng được quả-vị A-la-hán:

 

Đâu thành vị tăng Trưởng-Lão,

Chỉ nhờ nay đã bạc đầu.

Dầu cho tuổi hạc đã cao,

Chỉ đáng sắp vào hàng Lão-ngu-tăng.

(Kệ số 260.)

 

Ai thông Chơn-lý Tứ-Diệu-Đế,

Sống theo chánh-hạnh, chẳng hại người

Các căn điều-phục, biết tự-chế,

Lậu-hoặc dứt, trí-huệ sáng ngời,

Mới xứng-danh là bực Trưởng-lão.

(Kệ số 261.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Phát-di-gia: tên của vị Trưởng-lão nầy, tiếng Pali là Bhaddiya.

 

- Tính-tấn: Tinh = tinh-tuý, đẹp-đẽ, trong-sạch; Tấn = tấn-bộ, đi tới. Tu-hành tinh-tấn là tu-hành có tấn-bộ, ngày càng tốt-đẹp hơn.

 

- A-la-hán: quả-vị thứ tư, cao nhứt, vào hàng Thánh, dứt hết các phiền-não, lìa mọi tham-muốn, khỏi phải tái-sanh trong vòng Luân-hồi nữa. Tiếng Pali là Arahant là con người tự-tại.

 

- Biệt-hiệu: Biệt = riêng; Hiệu = tên đặt thêm, gán cho ai, hay tự-gán cho mình.

 

- Lakundaka = lùn-tịt, lùn-xịt; đọc theo giọng Việt: La-cun-đa-ca.

 

- Quán-thấy: nhìn thấy rõ trong tâm, bằng con mắt-tâm.

 

- Cơ-duyên: Cơ =cơ-hội; Duyên = duyên may. Có đủ dịp may.

 

- Đạo-quả: Trong việc tu-hành, biết rõ con đường tu-hành, công-việc phải làm như thế nào, đó là chứng Đạo; khi tu-tập thuần-thục, có kết-quả tốt đến bổn-thân, tánh-tình, tâm-trí mình, đó là chứng Quả. Tiếng Pali: Đạo = Magga; - Quả = Phala.

 

- Đại-sảnh: Đại = lớn; Sảnh = phòng. Đại-sảnh là phòng khách.

 

- Trưởng-lão: Trưởng = lớn tuổi; Lão = già. Ở đây chữ Trưởng-lão được dùng để tạm-dịch chữ Pali Thera, bực tu lâu năm, đã chứng-đắc đạo-quả; thường là bực A-la-hán. Phái-nữ là Theri, Nữ-trưởng-lão.

 

- Sa-di: người mới vào chùa, tập-sự tu, chưa thọ giới tỳ-kheo. Tiếng Pali là Sàmanera. Phía phụ-nữ là Sa-di-ni.

 

- Khiêm-tốn: khiêm-nhường, nhũn-nhặn, chẳng hề phách-lối.

 

- Đạo-mạo: Đạo = đạo-đức; Mạo = dung-mạo, hình-dáng. Người đạo-mạo là người có hình-dung bên ngoài trang-nghiêm, đạo-đức.

 

- Tứ-Diệu-Đế = bốn Chơn-lý nhiệm mầu, trong Đạo Phật. Đó là: Khổ-đế, Tập-đế, Diệt-đế và Đạo-đế. Xin xem lại bài trước, trang 581.

 

- Não-hại: Não = gây ra phiền-não; Hại = gây ra tai-hại.

 

- Chúng-sanh: Chúng = số đông; Sanh = có mạng sống. Chữ chúng-sanh chỉ tất cả sanh-vật, có mạng sống, như Trời, thần-linh, người, thú-vật, những kẻ còn trôi lăn trong vòng sanh-tử Luân-hồi. Trong Phật-học, chúng-sanh đối nghĩa với Thánh-hiền, bực giải-thoát.

 

- Du-phương: Du = đi đó đây; Phương = phương-hướng. Các vị tỳ-kheo du-phương đi đó đi đây, để tìm học thêm ở các vị tu-hành khác.

 

- Tăng: nam-tu-sĩ Phật-giáo, chữ Phạn Sangha, đọc là Tăng-già.

 

- Tuổi hạc = tuổi sống lâu như con chim hạc già.

 

- Lão-ngu-tăng: tiếng khinh-khi những kẻ già đời tu-hành mà chẳng biết đạo-pháp, chẳng chút trí-huệ, dốt-nát về kinh-kệ.

 

- Chánh-hạnh: Chánh = chơn-chánh, đứng-đắn; Hạnh = tánh-hạnh.

 

- Các căn điều-phục: Có sáu căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Điều-phục là kềm-chế, giữ cho đàng-hoàng. Điều-phục các căn là giữ-gìn các giác-quan, chẳng ham chạy theo các thú-vui của cảnh vật bên ngoài, chẳng để cho ý bên trong dắt tâm đi lang-thang, mất cả sự chú-tâm. Đó còn gọi là tự-chế, tự mình kềm-chế lấy mình.

 

- Lậu-hoặc: Lậu = rỉ chảy ra; Hoặc = điều sái-quấy. Chữ Lâu-hoặc trong Phật-học, chỉ các phiền-não tham, sân, si, mạn, nghi, ác-kiến, chợt nổi lên trong tâm, rỉ chảy ra, bộc-lộ ra bằng lời nói thô-cọc hay bằng hành-động xấu-ác, để mình bị ràng-buộc.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc các vị tỳ-kheo du-phương lầm nhận Trưởng-lão Phát-di-gia là một chú Sa-di, vì dáng-vóc thấp-lùn của Trưởng-lão. Đức Phật cho biết Trưởng-lão đã chứng được quả-vị cao nhứt là A-la-hán, dứt sạch các phiền-não, sống khiêm-tốn, chẳng hề làm tổn-não ai. Nhơn đây, Đức Phật nêu rõ vài đức-tánh của môt bực Trưởng-lão: thông-suốt Tứ-Diệu-Đế, từ-bi đối với mọi chúng-sanh.

 

(2) Ý-nghĩa hai bài Kệ số 260 và 261:

 

Bài Kệ số 260 nói đến các vị tu-hành lâu năm, tuổi đã cao mà trí-huệ vẫn chưa phát-triển, được Đức Phật xếp vào hàng Lão-ngu-tăng.

 

Bài Kệ số 261 nêu rõ các đức-tánh của một vị Trưởng-lão:

 

- (1) thông-suốt bốn Chơn-lý Nhiệm-mầu, biết đời là khổ, biết khổ do tham-ái mà ra; biết sự diệt khổ trong cảnh-giới Niết-bàn và biết con đường thánh-đạo (Bát-Chánh-đạo) đưa đến sự diệt-khổ;

 

- (2) sống theo giới-hạnh;

 

- (3) chẳng não-hại chúng-sanh;

 

- (4) tự-chế để điều-phục các căn;

 

- (5) dứt-trừ hết mọi lậu-hoặc;

 

- và (6) nhứt là trí-huệ sáng ngời trong sự giác-ngộ và giải-thoát.

The Story of Thera Bhaddiya

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (260) and (261) of this book, with reference to Thera Bhaddiya. He was also known as Lakundaka Bhaddiya because he was very short in stature.

One day, thirty bhikkhus came to pay obeisance to the Buddha. The Buddha knew that time was ripe for those thirty bhikkhus to attain arahatship. So he asked them whether they had seen a thera as they came into the room. They answered that they did not see a thera but they saw only a young samanera as they came in. Whereupon, the Buddha said to them, "Bhikkhus! That person is not a samanera, he is a senior bhikkhu although he is small-built and very unassuming. I do say that one is not a thera just because he is old and looks like a thera; only he who comprehends the Four Noble Truths and does not harm others is to be called a thera."

Verse 260: He is not a thera just because his head is grey; he who is ripe only in years is called "one grown old in vain".

 

Verse 261: Only a wise man who comprehends the Four Noble Truths and the Dhamma, who is harmless and virtuous, who restrains his senses and has rid himself of moral defilements is indeed called a thera.


At the end of the discourse those thirty bhikkhus attained arahatship.

Dhammapada Verses 260 and 261
Lakundakabhaddiyatthera Vatthu

Na tena thero so hoti
yenassa palitam siro
paripakko vayo tassa
"moghajinno" ti vuccati.

Yamhi saccanca dhammo ca
ahimsa samyamo damo
sa ve vantamalo
1 dhiro
"thero
2" iti pavuccati.

Verse 260: He is not a thera just because his head is grey; he who is ripe only in years is called "one grown old in vain".

Verse 261: Only a wise man who comprehends the Four Noble Truths and the Dhamma, who is harmless and virtuous, who restrains his senses and has rid himself of moral defilements is indeed called a thera.


1. vantamalo: lit., has vomited impurities.

2. thero: an Elder, i.e., a senior member of the Buddhist Order; but often applied to bhikkhus in general.


dhp262_B
dhp263_B
Verse-Kệ 262-263

(198).- Tích chuyện các tỳ-kheo ganh-tị - Kệ số 262 và 263

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến các vị tỳ-kheo hay ganh-tị.

 

Thuở ấy ở chùa Kỳ-viên, có thông-lệ là các vị Sa-di trẻ tuổi thường phục-vụ, hầu-hạ các vị Trưởng-lão là thầy dạy Đạo cho họ. Họ làm những việc lặt-vặt để giúp cho thầy, như rửa bát, giặt quần-áo, sắp-xếp giường chiếu, v.v. Có một nhóm tỳ kheo trung-niên thấy thế, sanh lòng ganh-tị, cũng muốn được hầu-hạ, bàn tính cùng nhau, đến trình với Đức Phật, xin hãy bảo các Sa-di đến học-hỏi kinh-nghiệm tu-tập và Giáo-lý nơi họ, vì họ cũng có tài hùng-biện, thông-suốt về giáo-pháp, diễn-giảng rất giỏi. Đức Phật quán-thấy tâm-địa ích-kỷ của họ, muốn được phục-vụ như các vị Trưởng-lão, nên bác-bỏ đề-nghị ấy. Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, Như-lai chẳng gọi là bực hiền-thiện, kẻ nào tự cho mình có tài hùng-biện, thuyết-pháp giỏi. Chỉ những ai đã diệt sạch được lòng ganh-tị, bụng ích-kỷ, chứng được đạo-quả A-la-hán, Như-Lai mới gọi đó là các bực hiền-thiện."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Nào phải do tài hùng-biện,

Chẳng vì đẹp-đẽ sắc-diện,

Mà thành được người hiền-thiện,

Nếu tâm còn ganh, ích-kỷ, kiêu-căng.

(Kệ số 262.)

 

Ai là người cắt được tâm ấy,

Góc rễ đào lên đem diệt hết,

Trí-huệ sáng ngời trừ sân-hận,

Mới xứng là người hiền-thiện vậy.

(Kệ số 263.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ganh-tị: ghen-ghét, đòi hơn kẻ khác, cà-nanh.

 

- Thông-lệ: Thông = thông-thường, thường thấy; Lệ: tục-lệ.

 

- Phục-vụ: Phục = làm tròn; Vụ = công-việc. Phục-vụ là hầu-hạ.

 

- Thầy dạy Đạo = tiếng trong chùa gọi là thầy bổn-sư, vị thầy dạy đạo-lý tu-hành cho mình. (Bổn = gốc, Sư = thầy; vị thầy gốc của mình.)

 

- Trung-niên: Trung = giữa, Niên = năm, tuổi. Trung-niên là tuổi vào khoảng bốn, năm mươi.

 

- Sa-di: Xin nhắc lại: người mới tập-sự tu, chưa thọ-giới tỳ-kheo, trong chùa thường gọi là chú tiểu. Tiếng Pali là Sàmanera.

 

- Hùng-biện: Hùng = hùng-hồn; Biện = biện-luận. Tài hùng-biện là tài ăn nói khéo, hay, khiến người nghe dễ tin theo.

 

- Tâm-địa: Tâm = lòng; Điạ = đất. Nghĩa bóng, tâm-địa là tâm-trạng, bụng-dạ thật-sự ra sao; tiếng bình-dân gọi là... đúng tim-đen.

 

- Ích-kỷ:Ích = có lợi;Kỷ =chính mình. Kẻ ích-kỷ chỉ biết lợi cho mình

 

- Hiền-thiện: Hiền = hiền-lành, Thiện = lành. Ở đây, chữ Hiền-thiện được dùng để chỉ những người tu-hành cao, tánh hiền-hoà, có trí

 

- Sắc-diện: Sắc = hình-sắc; Diện = khuôn mặt. Sắc-diện = vẻ mặt.

 

- Sân-hận: Sân = giận; Hận = hờn, thù. Sân thì giận-dữ, quát-tháo một lúc rồi thôi; còn Hận, hờn, thì căm-tức, để ngầm lâu trong bụng, dai hơn, khó trị tận gốc hơn.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại các tỳ-kheo ganh-tị với các vị Trưởng-lão; họ bàn nhau trình Đức Phật, bảo các Sa-di đến học ở họ, để họ được hầu-hạ như các vị Trưởng-lão. Đức Phật biết rõ tâm-địa ích-kỷ, ganh-tị của họ nên bác-bỏ. Ngài dạy thêm rằng, bực thầy hiền-thiện là người đã dứt-bỏ hẳn sự ganh-ghét và lòng ích-kỷ.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 262 và 263:

 

Bài Kệ số 262 nêu rõ: tài hùng-biện, vẻ mặt đẹp-đẽ, là bề ngoài; chỉ khi tâm hết ganh-ghét, ích-kỷ, mới làm nên bực hiền-thiện.

 

Bài Kệ số 263 tiếp theo ý bài Kệ trước, quan-trọng là câu: Gốc-rễ đào lên đem diệt hết. Gốc-rễ của ganh-tị, ích-kỷ là gì? Đó là cái Ta, cái Tự-kỷ, cái Ngã, ở trong tâm, lúc nào cũng muốn Mình hơn kẻ khác. Bỏ dứt hẳn được cái Ta đó, gọi là Vô-ngã, mới là người hiền-thiện. Việc tu-tâm quan-trọng chính là ở đó: dẹp bỏ tận rễ cái Ngã.

The Story of Some Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (262) and (263) of this book, with reference to some bhikkhus who were very envious of other bhikkhus.

At the monastery, young bhikkhus and samaneras were in the habit of attending on older bhikkhus who were their teachers. They washed and dyed the robes, or else performed other small services for their teachers. Some bhikkhus noticing these services envied those senior bhikkhus, and so they thought out a plan that would benefit them materially. Their plan was that they would suggest to the Buddha that young bhikkhus and samaneras should be required to come to them for further instruction and guidance even though they had been taught by their respective teachers. When they went to the Buddha with this proposal, the Buddha, knowing full well their motive, turned it down. To them the Buddha said, "Bhikkhus I do not say that you are good-hearted just because you can talk eloquently. Only he who has got rid of covetousness and all that is evil by means of Arahatta Magga is to be called a good-hearted man."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 262: Not by fine talk, nor by good looks could one be a good-hearted man, if he were envious, miserly and crafty.

 

Verse 263: A wise man who has cut off, uprooted and removed these and has rid himself of moral defilements is indeed called a good-hearted man.


Dhammapada Verses 262 and 263
Sambahulabhikkhu Vatthu

Na vakkaranamattena
vannapokkharataya va
sadhurupo naro hoti
issuki macchari satho.

Yassa cetam samucchinnam
mulaghaccam samuhatam
sa vantadoso medhavi
"sadhurupo" ti vuccati.

Verse 262: Not by fine talk, nor by good looks could one be a good-hearted man, if he were envious, miserly and crafty.

Verse 263: A wise man who has cut off, uprooted and removed these and has rid himself of moral defilements is indeed called a good-hearted man.


dhp264_C
dhp265_B
Verse-Kệ 264-265

(199).- Tích chuyện tỳ-kheo Hạt-tha-ca - Kệ số 264 và 265

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị tỳ-kheo tên là Hạt-tha-ca.

 

Thuở ấy, có vị tỳ-kheo Hạt-tha-ca thường hay tranh-luận với các du-sĩ ngoại-đạo, nhưng vì đuối lý nên chẳng thắng được họ. Tỳ-kheo Hạt liền hẹn với họ, sẽ gặp nhau lại ở một nơi khác. Đến gần giờ hẹn, ông Hạt liền đến sớm, chưa thấy các du-sĩ tới nơi, mới vênh-váo bảo mọi người là bọn ngoại-đạo đã chịu thua tài biện-luận của mình, nên chẳng đến nơi hẹn. Mánh-lới nầy đến tai Đức Phật. Ngài liền cho gọi tỳ-kheo Hạt-tha-ca đến và bảo: "Nầy tỳ-kheo Hạt-tha-ca, tại sao ông lại có thái-độ giả-dối như thế? Chẳng phải cạo trọc đầu mà có được danh-nghĩa Sa-môn. Kẻ đã dứt trừ xong mọi ác-ý mới là Sa-môn."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Cạo đầu chưa hẳn là Sa-môn,

Nếu hay nói dối, thiếu giới-hạnh,

Tham-dục, luyến-ái vẫn còn mạnh,

Sao được xứng-danh là Sa-môn.

(Kệ số 264.)

 

Ai khắc-phục, hoàn-toàn lìa bỏ,

Hành-động ác, cả lớn lẫn nhỏ,

Đã vượt qua hết các điều tà,

Mới xứng-danh là bực Sa-môn.

(Kệ số 265.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Hạt-tha-ca: tên vị tỳ-kheo nầy, tiếng Pali là Hatthaka.

 

- Tranh-luận: cãi nhau về nghĩa-lý. Còn gọi là biện-luận.

 

- Du-sĩ ngoại-đạo: tu-sĩ đi lang-thang, chẳng theo đạo Phật.

 

- Đuối lý = thiếu lý-lẽ để tranh hơn với kẻ khác khi cãi nhau.

 

- Vênh-váo: vẻ phách-lối, tự cho mình là tài-giỏi, nói oang-oang.

 

- Mánh-lới: mưu-kế gian-xảo.

 

- Sa-môn: tu-sĩ Phật-giáo; tiếng Pali là Samana. Sa-môn có ba nghĩa:(1) dứt sự ác; (2) siêng việc thiện; (3) cam-chịu nghèo-khó để tu

 

- Cạo đầu: theo giới-luật nhà Phật, khi bước vào đường tu, phải cạo đầu, cắt hết râu tóc; tiếng Hán là thế-phát (thế =cắt; phát = tóc.)

 

- Giới-hạnh: Giới = các điều răn-cấm trong Đạo; Hạnh = đức-hạnh.

 

- Tham-dục: Tham = ham quá chừng; Dục = muốn.

 

- Luyến-ái: Luyến = mê-luyến, tríu-mến; ái = thương, thích.

 

- Khắc-phục = thắng được, dẹp bỏ được.

 

- Điều tà = điều sái-quấy; Tà là xiêng-xéo, chẳng chơn-chánh.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc tỳ-kheo Hạt-tha-ca thường đuối lý khi tranh-luận với các du-sĩ ngoại-đạo. Hạt-tha-ca dùng mánh-lới gian-xảo, hẹn gặp lại họ để cãi tiếp, nhưng lại đến trước giờ hẹn, rồi tuyên-bố láo là họ chịu thua chẳng dám đến. Đức Phật quở thái-độ gian-dối đó của tỳ-kheo Hạt-tha-ca, và dạy rằng: "Cạo đầu chưa phải hẳn là Sa-môn; đó chỉ là bề ngoài; còn bên trong tâm, phải dứt hết mọi ác-ý, gian-xảo, mới xứng-danh là Sa-môn."

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 264 và 265:

 

Bài Kệ số 264 kể ra những thiếu-sót và lỗi-lầm của một tu-sĩ còn chưa xứng-đáng là một Sa-môn: (1) nói dối, đây là giới cấm thứ tư trong ngũ-giới ( = năm giới của người tu tại-gia); (2) thiếu giới-hạnh, chẳng tuân theo giới-luật; (3) tham-dục, ham muốn điều sái-quấy; (4) luyến-ái, bấu-víu, bám chặt vào các thú-vui.

 

Xét cho kỹ, các điều thiếu-sót nầy bắt nguồn từ ý-nghĩ quá tôn-trọng cái Ta, muốn mình hơn kẻ khác, tham muốn và bấu-víu vào các thú-vui vật-chất. Một vị Sa-môn xứng với danh-nghĩa, bên trong phải gột rửa dứt sạch cái Ta, cũng như bên ngoài đã cạo hết râu tóc vậy.

 

Bài Kệ số 265, tiếp-tục ý-nghĩa thanh-tịnh-hoá thân-tâm của bài Kệ trước, khuyên ta nên vượt qua hết mọi điều tà, mới xứng-danh là Sa-môn. Như ba nghĩa căn-bản của chữ Sa-môn đã dạy rõ: (1) cần-giả là siêng làm điều thiện; (2) tức-giả là dứt bỏ hết các điều ác; (3) bần-giả là cam chịu sự nghèo-khó để tu-hành, câu "Hoàn-toàn lìa bỏ các hành-động ác, cả lớn lẫn nhỏ", đó chính là ý-nghĩa thứ hai của chữ Sa-môn.

The Story of Bhikkhu Hatthaka

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (264) and (265) of this book, with reference to a bhikkhu named Hatthaka.

Bhikkhu Hatthaka was in the habit of challenging ascetics of non-Buddhist faiths to meet him in a certain place to debate on religious matters. He would then go out by himself to the self-appointed place. When nobody appeared he would boast, "Look, those wandering ascetics dare not meet me, they have been beaten by me!", and such other things. The Buddha called Hatthaka to him and said, "Bhikkhu! Why do you behave in this way? One who says such things cannot become a samana in spite of his shaven head. Only one who has rid himself of all evil is to be called a samana."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 264: Not by a shaven head does a man become a samana, if he lacks morality and austere practices and tells lies. How could he who is full of covetousness and greed be a samana?

 

Verse 265: He who has totally subdued all evil, great and small, is called a samana because he has overcome all evil.


Dhammapada Verses 264 and 265
Hatthaka Vatthu

Na mundakena samano
abbato alikam bhanam
icchalobhasamapanno
samano kim bhavissati.

Yo ca sameti papani
anumthulani sabbaso
samitatta hi papanam
"samano" ti pavuccati.

Verse 264: Not by a shaven head does a man become a samana, if he lacks morality and austere practices and tells lies. How could he who is full of covetousness and greed be a samana?

Verse 265: He who has totally subdued all evil, great and small, is called a samana because he has overcome all evil.


dhp266_B
dhp267_B
Verse-Kệ 266-267

(200).- Tích chuyện người Bà-la-môn tự nhận là tỳ-kheo - Kệ số 266 và 267

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một người Bà-la-môn đi khất-thực, tự-nhận mình là Tỳ-kheo.

 

Thuở ấy, có một người thuộc giai-cấp Bà-la-môn thường đi khất-thực. Ông ta nghĩ rằng, mình đi khất-thực cũng như những tu-sĩ Phật-giáo, vậy mình cũng là một tỳ-kheo. Ông đến gặp Đức Phật và nói lên ý ấy. Đức Phật bảo: "Nầy Bà-la-môn, ta chẳng gọi ông là Tỳ-kheo chỉ vì ông đi khất-thực. Kẻ nào còn mang tà-kiến ngoại-đạo trong tâm, chẳng phải là một tỳ-kheo. Tỳ-kheo còn phải luôn luôn quán-chiếu thâm-sâu về Chơn-lý: muôn pháp đều vô-thường, khổ, vô-ngã."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Tỳ-kheo đâu chỉ mang bình-bát

Đi lang-thang khất-thực từng nhà.

Tuân-hành Chánh-pháp cần thông-đạt,

Mới xứng-danh Khất-sĩ Tăng-già.

Chỉ ăn xin, đó là hành-khất.

(Kệ số 266.)

 

Người vượt lên trên ác cùng thiện,

Phạm-hạnh hoàn-toàn đang thực-hiện,

Bước đường đời, thẩm-sát và suy-tư,

Mới thật xứng danh là bực Tỳ-kheo.

(Kệ số 267.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Bà-la-môn: giai-cấp tu-sĩ trong xã-hội xưa ở Ấn-độ; tiếng Pali là Brahmana.

 

- Khất-thực: Khất = xin; Thưc = ăn. Theo giới luật nhà Phật, tỳ-kheo chẳng được phép có nghề riêng để sanh-sống, phải hạ mình xuống đi xin ăn (để dẹp lòng tự-ái của cái Ta) và cũng có dịp gặp dân-chúng để giảng-dạy đạo-lý cho họ. Tỳ-kheo còn gọi là Khất-sĩ.

 

- Tà-kiến: Tà = xiêng-xéo, chẳng chơn-chánh; Kiến = ý-kiến. Tà-kiến có rất nhiều, thường kể ra hai tà-kiến nầy: (1)thường-kiến: tin rằng con người có linh-hồn bất-diệt, dầu có làm tội-ác gì, linh-hồn cũng tái-sanh làm người mãi; (2) đoạn-kiến: tin rằng, chết đi là hết, chẳng còn có gì; chẳng tin theo luật Nhơn-quả, lý Luân-hồi. Các phái ngoại-đạo vào thời Đức Phật thường mắc vào hai tà-kiến đó.

 

- Quán-chiếu = giữ tâm cho an-ổn rồi suy-nghĩ thật sâu-xa về một đề-tài có liên-quan đến Chơn-lý.

 

- Chơn-lý = Sự-Thật.

 

- Vô-thường: Vô = chẳng; Thường = còn mãi. Lẽ vô-thường cho rằng tất cả mọi sự-vật có hình-tướng đều phải biến-đổi rồi tiêu-diệt, chẳng thể nào thuờng còn mãi mãi được.

 

- Vô-ngã: Vô = chẳng; Ngã = ta. Thuyết Vô-ngã cho rằng muôn sự-vật đều là sự kết-hợp tạm-thời của nhiều yếu-tố khác nhau, chẳng có một linh-hồn, chẳng có một cái Ngã, chẳng có cái chi làm chủ nơi sự-vật ấy cả; hễ nhơn-duyên thôi kết-hợp, sự-vật ấy sẽ tiêu-diệt mất.

 

- Tăng-già: Giáo-hội Phật-giáo, tiếng Pali là Sangha.

 

- Hành-khất: Hành = đi; Khất = xin ăn. Xin phân-biệt rõ sự khác nhau và hơn kém nhau giữa hai danh-từ: Khất-sĩ và hành-khất. Khất-sĩ là tu-sĩ Phật-giáo, lấy hạnh khất-thực làm giới-luật; còn hành-khất là kẻ ăn-mày, vì thiếu-thốn mà đi xin ăn, chẳng có tu-hành chi cả.

 

- Phạm-hạnh: Phạm = Phạn, tiếng Pali là Brahma, phiên-âm là Bà-la-môn; Hạnh = đức-hạnh, hạnh-kiểm. Phạm-hạnh là đức-hạnh tu-hành của giai-cấp Bà-la-môn; theo nghĩa rộng, là đức-hạnh đáng quí.

 

- Thẩm-sát: Thẩm = kỹ, rõ; Sát = xét. Thẩm-sát là suy-xét thật rõ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc một người Bà-la-môn đi khất-thực, tự-nhận mình là tỳ-kheo. Đức Phật bảo, cầm bình-bát đi khất-thực từng nhà, chưa đủ để thành một tỳ-kheo, khi trong tâm còn chứa tà-kiến. Một tỳ-kheo đúng theo danh-nghĩa khất-sĩ, còn phải thông-hiểu Chánh-pháp, quán-chiếu thâm-sâu về Vô-thường, Khổ và Vô-ngã.

 

Nếu chỉ đi khất-thực suông, đó chỉ là hành-khất, chớ chẳng phải là Khất-sĩ.

 

(2) Ý-nghiã của hai bài Kệ số 266 và 267:

 

Thử phân-tách từng câu mỗi bài Kệ:

 

Về bài Kệ số 266:

 

1) Tỳ-kheo đâu chỉ mang bình-bát, đi lang-thang khất-thực từng nhà: Tỳ-kheo đâu chỉ đi khất-thực suông, còn có dịp gặp dân-chúng để chỉ-dạy họ thêm về giáo-lý.

 

2) Tuân-hành Chánh-pháp cần thông-đạt, mới xứng-danh Khất-sĩ Tăng-già: tuân theo Chánh-pháp, hiểu rõ Giáo-lý, giữ gìn Giới-luật, đó là phần tu-tập trên thân-tâm, mới xứng-danh là Tỳ-kheo, là Khất-sĩ của Giáo-hội ( =Tăng-già).

 

3) Chỉ ăn xin, đó là hành-khất: tay mang bình-bát đi khất-thực, đó chỉ là hình-thức bề ngoài; nếu bên trong chẳng có sự thông-hiểu Giáo-pháp, thì đó chẳng qua là một người hành-khất, chỉ biết đi xin cơm, để ăn cho qua ngày, không hơn không kém.

 

Về bài Kệ số 267:

 

1) Người vượt trên ác cùng thiện: Vượt trên điều ác là bỏ dứt được các điều bất-thiện; Vượt lên trên điều thiện là siêng-năng làm các điều lành, làm điều lành đã quen, đã siêng, nên chẳng chút cố-gắng, chẳng thấy khó nhọc chi, nên gọi đó là vượt lên trên điều thiện.

 

2) Phạm-hạnh hoàn-toàn đang thực-hiện: bằng lối sống trong kỷ-luật của giới-đức thanh-tịnh, thực-hiện được đầy-đủ các đức-hạnh của bực chơn-tu.

 

3) Bước đường đời, thẩm-sát và suy-tư: luôn luôn thực-hành việc quán-chiếu trong Thiền-định, sống trọn-vẹn với nội-tâm bằng cách suy-tư thâm-sâu và thẩm-sát cặn-kẽ về cuộc đời sướng ít khổ nhiều trong vòng Luân-hồi, để tìm theo con đường giải-thoát.

 

4) Mới thật xứng-danh là bực Tỳ-kheo: thực-hiện đầy-đủ các đức-tánh kể trên, áp-dụng trong cuộc sống hằng ngày, nặng nghiêng về nội-tâm thanh-tịnh bên trong, đấy mới thật xứng danh là bực Tỳ-kheo; chớ nào phải chỉ có mỗi một việc ôm bình-bát đi khất-thực.

The Story of a Brahmin

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (266) and (267) of this book, with reference to a brahmin.

Once, there was a brahmin who was in the habit of going round for alms. One day, he thought, "Samana Gotama has declared that one who lives by going round for alms is a bhikkhu. That being so, I should also be called a bhikkhu." So thinking, he went to the Buddha and said to him that he (the brahmin) should also be called a bhikkhu, because he also went round for alms-food. To him the Buddha replied, "Brahmin, I do not say that you are a bhikkhu simply because you go round for alms-food. One who professes a wrong faith and acts accordingly is not to be called a bhikkhu. Only he who lives meditating on the impermanence, unsatisfactoriness, and insubstantiality of the aggregates is to be called a bhikkhu."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 266: He does not become a bhikkhu merely because he stands at the door for alms. He cannot become a bhikkhu because he acts according to a faith which is not in conformity with the Dhamma.

 

Verse 267: In this world, he who lays aside both good and evil, who leads the life of purity, and lives meditating on the khandha aggregates is indeed called a bhikkhu.


Dhammapada Verses 266 and 267
Annatarabrahmana Vatthu

Na tena bhikkhu so hoti
yavata bhikkhate
pare
vissam dhammam samadaya
bhikkhu hoti na tavata.

Yo'dha punnanca papanca
bahetva brahmacariyava
sankhaya loke carati
sa ve "bhikkhu" ti vuccati.

Verse 266: He does not become a bhikkhu merely because he stands at the door for alms. He cannot become a bhikkhu because he acts according to a faith which is not in conformity with the Dhamma.

Verse 267: In this world, he who lays aside both good and evil, who leads the life of purity, and lives meditating on the khandha aggregates is indeed called a bhikkhu.


1. bhikkhate: lit., begs.


dhp268_B
dhp269_B
Verse-Kệ 268-269

(201).- Tích chuyện các người ngoại-đạo - Kệ số 268 và 269

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến các người ngoại-đạo.

 

Thuở ấy, các du-sĩ ngoại-đạo khi đi khất-thực, thường có lời tán-thán công-đức các thí-chủ. Sau khi nhận thực-phẩm, họ thường nói: "Nguyện cho thí-chủ được may-mắn, giàu-sang và sống lâu!" Trong khi đó, các vị tỳ-kheo tuân theo lời Phật dạy, lặng-lẽ nhận tặng-phẩm mà chẳng nói lên lời chúc-tụng nào. Dân-chúng thích được nghe lời khen-ngợi việc bố-thí, nên bắt đầu bàn-tán, so-sánh hai thái-độ đi khất-thực và có phần thiên về phiá ngoại đạo.

 

Khi Đức Phật được biết sự-việc đó, Ngài cho phép các tỳ-kheo, sau khi thọ-thực nơi nhà các tín-chủ, thì hồi-hướng công-đức họ đã bố-thí đến cho gia-đình của họ. Bấy giờ các du-sĩ ngoại-đạo lại chỉ-trích, cho rằng các tỳ-kheo đã lắm lời, nói dông-dài, chẳng bằng họ là người biết giữ đúng hạnh tĩnh-mặc của các bực Mâu-ni. Đức Phật mới bảo các vị tỳ-kheo: "Nầy chư tỳ-kheo, có nhiều kẻ giữ im-lặng, chỉ vì họ nhút-nhát và ngu-dốt, cũng có kẻ chẳng chịu nói ra để chia-xẻ sự hiểu-biết thâm-sâu của họ với kẻ khác. Như thế, chẳng phải vì im-lặng mà trở thành một bực Mâu-ni. Chỉ xứng danh là bực Mâu-ni, người nào biết im-lặng khi đã hoàn-toàn khắc-phục được mọi điều ác."

 

Rồi Đức Phật nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Biết nín thinh nhưng vẫn ngu-si

Đâu gọi là Mâu-ni tĩnh-mặc.

Như vị cầm cân, cân-nhắc

Chọn lành lánh dữ, bậc Mâu-ni.

(Kệ số 268.)

 

Vì lẽ ấy: chọn lành, lánh dữ,

Người được xưng là bực Thánh-hiền.

Nội, ngoại-giới ai thông-suốt đủ,

Danh-vị Mâu-ni xứng đáng liền.

(Kệ số 269.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ngoại-đạo:Ngoại = ngoài. Chữ ngoại-đạo trong Phật-học dùng để chỉ các tôn-giáo khác với đạo Phật, ở ngoài đạo Phật.

 

- Du-sĩ: Du = đi đó đây; Sĩ = người. Du-sĩ, ở đây, chỉ các vị tu-hành ẩn-cư, chẳng có nơi ở nhứt-định, đi đó đây để khất-thực.

 

- Tán-thán = khen-ngợi.

 

- Thí-chủ: người bố-thí; còn gọi là thí-giả.

 

- Thiên = thiên-vị, nghiêng về một bên.

 

- Hồi-hướng: Hồi = quay trở lại; Hướng = nhắm vào. Hồi-hướng công-đức là nguyện đem công-đức tu-hành của mình mang phước-báo hướng đến cho ai.

 

- Tĩnh-mặc: Tĩnh = yên-lặng; Mặc = nín thinh. Chữ tĩnh-mặc dùng để dịch chữ Phạn Muni, bực tĩnh-lặng, đã diệt-trừ mọi điều ác.

 

- Cầm cân cân nhắc: nghĩa bóng, chỉ sự phán-đoán thiện-ác rành-rẽ

 

- Nội, ngoại-giới: Nội = bên trong; Ngoại = ngoài; Giới = cảnh-giới. Ở đây chữ nội-giới chỉ vào thân-tâm năm uẩn của chính mình, còn ngoại-giới là thân-tâm năm uẩn của kẻ khác, ở bên ngoài.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc các du-sĩ ngoại-đạo chỉ-trích khất-sĩ Phật-giáo nói dài-dòng khi hồi-hướng công-đức đến các thí-chủ, cho rằng các khất-sĩ chẳng biết giữ hạnh tĩnh-mặc của bực Mâu-ni. Đức Phật dạy, muốn xứng-danh là bực Mâu-ni ( =tĩnh-mặc), chẳng phải chỉ im-lặng suông, mà trong tâm phải diệt hết mọi điều ác.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là phải biết lúc nào nên im-lặng, lúc nào nên nói, trong tâm thanh-tịnh phân-biệt rõ ràng điều lành và việc ác.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 268 và 269:

 

Hai bài Kệ phân-biệt sự tĩnh-mặc (giữ im-lặng đúng lúc) của bực Mâu-ni, với sự nín thinh vì dốt-nát hay vì làm hiểm chẳng muốn chia-xẻ sự hiểu-biết của mình với kẻ khác. Ngoài ra, riêng bài Kệ sau còn dạy những đức-tánh của bực Mâu-ni: (1) chọn lành lánh dữ; (2) thông-suốt cả nội và ngoại-giới ( = hiểu rõ thân-tâm năm uẩn của mình và của kẻ khác.)

The Story of the Followers of Non-Buddhist Doctrines

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (268) and (269) of this book, with reference to some non-Buddhist ascetics.

To those who offered them food or other things, those ascetics would say words of blessing. They would say, "May you be free from danger, may you prosper and get rich, may you live long," etc. At that time, the followers of the Buddha did not say anything after receiving something from their lay-disciples. This was because during the first twenty years after the Buddha's attainment of Buddhahood they were instructed to remain silent on receiving offerings. Since the followers of the Buddha were silent when ascetics of other doctrines were saying things which were pleasing to their disciples, people began to compare the two groups.

When the Buddha heard about this, he permitted the bhikkhus to say words of blessing to their disciples after receiving offerings. As a result of that, more and more people invited the followers of the Buddha for alms. Then, the ascetics of other doctrines remarked with disdain: "We adhere to the practice of the muni and keep silent, whereas the followers of Samana Gotama go about talking exuberantly in the eating places." On hearing those disparaging remarks, the Buddha said, "Bhikkhus! There are some who keep silent because they are ignorant and timid, and some who keep silent because they do not want to share their profound knowledge with others. Only one who has overcome evil is to be called a muni."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verses 268 & 269: Not by silence does one become a muni, if one is dull and ignorant. Like one holding a pair of scales, the wise one takes what is good and rejects what is evil. For this reason he is a muni. He who understands both internal and external aggregates is also, for that reason, called a muni.

Dhammapada Verses 268 and 269
Titthiya Vatthu

Na monena muni hotimulharupo aviddasu
yo ca tulamva paggayha
varama
daya pandito.

Papani parivajjeti
sa muni tena so muni
yo munati ubho loke
2
"muni" tena pavuccati.

Verses 268 & 269: Not by silence does one become a muni, if one is dull and ignorant. Like one holding a pair of scales, the wise one takes what is good and rejects what is evil. For this reason he is a muni. He who understands both internal and external aggregates is also, for that reason, called a muni.


1. varam: the best, the good, the noble. In this context, it means morality (sila), concentration (samadhi) and knowledge (panna), etc. (The Commentary)

2. ubho loke: lit., both worlds, meaning internal and external aggregates, or one's own aggregates as well as those of others.


dhp270_B
Verse-Kệ 270

(202).- Tích chuyện người đánh cá tên là Thánh-Hiền - Kệ số 270

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một người đánh cá, mang tên là Thánh-Hiền.

 

Thuở ấy có một chàng thanh-niên làm nghề đánh cá, có tên là Thánh-Hiền. Hôm ấy, Đức Phật quán-thấy đã đủ cơ-duyên cho người đánh cá ấy chứng-đắc được sơ-quả, mới cùng các tỳ-kheo đi đến bờ sông. Chàng thanh-niên nom thấy Đức Phật và chư Tăng dừng lại bên bờ, mới buông cần câu, đến gần bên Phật. Đức Phật liền tuần-tự hỏi tên mỗi vị tỳ-kheo. Tới phiên chàng đánh cá, anh ta liền thưa, tên là Thánh-Hiền. Đức Phật bảo: "Bực Thánh-hiền đâu có sát-hại sanh-mạng chúng-sanh; anh làm nghề đánh cá, giết hại mạng sống của loài cá, sao xứng được cái tên Thánh-hiền nầy!"

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó mà chàng thanh-niên đánh cá chứng được quả-vị Tu-đà-huờn:

 

Còn gây thương-tổn cho chúng-sanh,

Sao được gọi bực lành Hiền-Thánh?

Chẳng sát-hại mọi loại hữu-tình,

Mới xứng danh là bực HIền-Thánh.

(Kệ số 270.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Thánh-Hiền: tên của người đánh-cá nầy,dịch chữ Pali là Ariya. Theo nghĩa chuyên-môn trong Phật-học, bực Hiền gồm ba quả-vị đầu-tiên: Tu-đà-huờn, Tư-đà-hàm và A-na-hàm, còn phải tái-sanh; bực Thánh là A-la-hán, đã giải-thoát ra khỏi cảnh sanh-tử của Luân-hồi.

 

- Quán-thấy đã đủ cơ-duyên: nhìn thấy rõ trong tâm là đã đủ cơ-hội tốt cho chàng thanh-niên chứng được quả-vị.

 

- Sơ-quả = quả-vị đầu-tiên, tức là quả-vị Tu-đà-huờn.

 

- Loài hữu-tình: các sanh-vật có mạng-sống, có tình-cảm, như loài người, loài thú. Trái với hữu-tình là vật vô-tình, như đất, đá, cát.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị: nhơn thấy một chàng thanh-niên sống về nghề đánh-cá mà lại có tên là "Thánh-Hiền", Đức Phật bảo, bực Thánh-hiền đâu có sát-hại sanh-mạng chúng-sanh. Vì thế, cái tên "Thánh-Hiền" kia, chàng thanh-niên chẳng xứng mang lấy, vì lẽ nghề đánh-cá chẳng đúng với Chánh-mạng.

 

Ngoài ý-nghĩa về chữ Thánh-hiền là các bực đã chứng quả-vị ra, Tích chuyện còn mang thêm ý-nghĩa về Chánh-mạng. Chánh-mạng là một ngành trong Bát-Chánh-Đạo, con đường đưa người tu-hành đến quả-vị Thánh. Theo đúng Chánh-mạng, ta chẳng nên chọn các nghề gây thương-tổn đến chúng-sanh, như nghề đánh-cá, nghề săn-bắn, nghề chế-tạo võ-khí giết người, nghề mãi-dâm, nghề nấu và bán rượu, cùng các chất độc, chất ma-tuý.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 270:

 

Ý-nghĩa bài Kệ rất rõ-ràng: bực Thánh-hiền, vì lòng Từ-bi, chẳng hề gây thương-tổn đến chúng-sanh.

The Story of a Fisherman Named Ariya

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (270) of this book, with reference to a fisherman named Ariya.

Once, there was a fisherman who lived near the north gate of Savatthi. One day through his supernormal power, the Buddha found that time was ripe for the fisherman to attain Sotapatti Fruition. So on his return from the alms-round, the Buddha, followed by the bhikkhus, stopped near the place where Ariya was fishing. When the fisherman saw the Buddha, he threw away his fishing gear and came and stood near the Buddha. The Buddha then proceeded to ask the names of his bhikkhus in the presence of the fisherman, and finally, he asked the name of the fisherman. When the fisher man replied that his name was Ariya, the Buddha said that the Noble Ones (ariyas) do not harm any living being, but since the fisherman was taking the lives of fish he was not worthy of his name.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 270: He who harms living beings is, for that reason, not an ariya (a Noble One); he who does not harm any living being is called an ariya.


At the end of the discourse the fisherman attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verse 270
Balisika Vatthu

Na tena ariyo hoti
yena panani himsati
ahimsa sabbapapnam
"ariyo" ti pavuccati.

Verse 270: He who harms living beings is, for that reason, not an ariya (a Noble One); he who does not harm any living being is called an ariya1.


1. ariya: one who has realized one of the four maggas.


dhp271_B
dhp272_B
Verse-Kệ 271-272

(203).- Tích chuyện các tỳ-kheo tự-mãn - Kệ số 271 và 272

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến các vị tỳ-kheo tự-mãn.

 

Thuở ấy, ở chùa Kỳ-viên có một số các vị tỳ-kheo tu-tập đạt được các kết-quả khả-quan. Có vị giữ đúng giới-luật thật thanh-tịnh; có vị theo hạnh đầu-đà rất khắc-khổ; có vị chứng được thiền-định; có vị đã đắc được quả-vị A-na-hàm. Họ thường nghĩ rằng, đã thành-công trong việc tu-tập như thế, họ dễ thừa sức để đạt được quả-vị A-la-hán, trong một tương-lai rất gần đây. Họ cùng nhau đến yết-kiến Đức Phật và nói lên ý-nghĩ đó.

 

Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, chẳng phải vì đã giữ giới-đức thanh-tịnh, chẳng phải vì đã đắc được định-tâm, chẳng phải vì theo đúng hạnh đầu-đà, chẳng phải vì chứng-đắc quả-vị A-na-hàm, mà người tu-hành có thể xem đó là đã đầy-đủ rồi sanh ra tự-mãn, để nghĩ lầm rằng, chẳng còn khó-nhọc chi để chứng được đạo-quả A-la-hán. Nếu còn chưa diệt hết các lậu-hoặc, tự-mãn còn đó, thì chưa thể nào chứng được quả-vị Thánh A-la-hán."

 

Rồi Đức Phật nói lên hai bài Kệ sau đây, nhờ đó mà các tỳ-kheo bỏ được lòng tự-mãn, tinh-tấn tu-tập hơn nữa và chứng quả A-la-hán:

 

Chẳng phải vì trì giới nghiêm-túc,

Chẳng phải do kiến-thức thật cao,

Chẳng phải vì thiền-định thâm sâu,

Chẳng phải do sống xa trần-tục,

Mà có thể tự-mãn:

"Ta nay hưởng phước hạnh viễn-ly

Mà các phàm-phu làm gì hưởng được!"

Tỳ-kheo! Chớ xao-lãng

Kiên-trì diệt lậu-hoặc cho xong.

(Kệ số 271 và 272.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tự-mãn: Tự = chính mình; Mãn = đầy-đủ. Lòng tự-mãn thường tự cho là mình đã được đầy-đủ đức-tánh tốt, thiếu sự hăng-hái buổi đầu.

 

- Hạnh đầu-đà: Đầu-đà = phiên-âm chữ Pali là Dhùtanga, lối tu theo một kỷ-luật thật khắt-khe, như chỉ mặc áo may bằng vải vụn lượm được, chỉ ăn đồ ăn xin được, mỗi ngày một bữa trưa mà thôi, từ sáng đến tối, chỉ đứng, ngồi chớ chẳng nằm, sống nơi gò mả, dưới cội cây. Vị đại-đệ-tử giỏi nhứt về hạnh đầu-đà là Tôn-giả Đại-Ca-diếp (Maha Kassapa), người sau nầy kế-vị Đức Phật điều-khiển Giáo-hội.

 

- A-na-hàm: quả-vị thứ ba, tiếng Pali là Anàgàmi, có nghĩa là chẳng tái-sanh lại nơi cõi người nữa, dịch là Bất-Lai.

 

- Thiền-định, Định-tâm: trong khi ngồi Thiền, tâm lắng-đọng, chẳng đi lang-thang, chú-tâm vào đề-tài thiền-quán, chẳng lo ra.

 

- A-la-hán: quả-vị thứ tư, cao nhứt, đã diệt được hết tất cả lậu-hoặc, phiền-não, chứng được vô-sanh ( = chẳng còn tái-sanh trong vòng Luân-hồi nữa), tự-tại trong cảnh-giới Niết-Bàn an-lạc, vắng-vẻ.

 

- Nghiêm-túc: Nghiêm = nghiêm-trang; Túc = đầy-đủ. Nghiêm-túc là đầy-đủ đàng-hoàng.

 

- Kiến-thức: Kiến = thấy; Thức = hiểu-biết rõ. Kiến-thức là sự thông-hiểu; ở đây, nói đến sự thông-thạo rõ-ràng về Chánh-pháp.

 

- Sống xa trần-tục = sống nơi vắng-vẻ, xa người đời; bốn chữ nầy trỏ vào hạnh đầu-đà nói trong Tích chuyện.

 

- Hạnh viễn-ly: Hạnh = đức-hạnh; Viễn = xa; Ly = lià. Hạnh viễn-ly là đức-tánh xa-lià mọi tham-muốn, dứt bỏ mọi thú-vui vật-chất, dẹp xong mọi ràng-buộc, tâm được tự-tại. Ở đây, hạnh viễn-ly nói đến bực A-la-hán, dứt được mọi phiền-não, sống an-vui, tự-tại.

 

- Phàm-phu: Phàm = thường, người thường; Phu = người. Phàm-phu là người thường, chưa tu; đối-nghĩa với Thánh-hiền, bực tu-hành đã chứng-đắc quả-vị.

 

- Kiên-trì: Kiên = cứng-cỏi; Trì = giữ vững. Kiên-trì là bền-chí, giữ vững, chẳng hề thoái-lui.

 

- Lậu-hoặc: Xin nhắc lại: Lậu = rỉ chảy ra; Hoặc = điều sai-lầm, sái-quầy, xấu-ác, như tham, sân, si, mạn, nghi, ác-kiến. Các lậu-hoặc (tiếng Pali là àsava) khởi lên trong tâm, rỉ chảy ra ngoài, bộc-lộ thành hành-động sai-lầm hay bằng lời nói thô-ác.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại một nhóm tỳ-kheo tu-hành được kết-quả khả-quan, nên sanh lòng tự-mãn. Đức Phật dạy, dầu cho giữ giới, trì-pháp, thiền-định, theo hạnh đầu-đà, chứng quả A-na-hàm, đã dược kết-quả tốt, cũng chớ nên sanh lòng tự-mãn, vì mục-tiêu chứng quả-vị Thánh, A-la-hán, đòi hỏi người tu-hành phải dứt hết mọi lậu-hoặc, mà lòng tự-mãn chính là một lậu-hoặc còn sót lại đó.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện khuyên ta đừng bao giờ nên sanh lòng tự-mãn, thấy có kết-quả tốt, đã cho là đủ rồi, mà chẳng cố gắng thêm hơn lên để sớm đạt được mục-tiêu. Lòng tự-mãn, bắt nguồn từ sự tự-kiêu, xem mình nay đã khá lắm rồi, nên chẳng còn giữ được sự nỗ-lực lúc ban đầu nữa; vì có sự lơ-là, xao-lãng khiến ta chẳng tiến-bộ thêm.

 

Nên để-ý, chớ lẫn-lộn lòng tự-mãn là một nết xấu, với sự tri-túc là một đức-tánh tốt, đáng quí. Tri-túc là biết đủ (tri = biết; túc = đủ). Kẻ tự-mãn cho rằng đức-tánh tốt của mình đã quá đủ, chẳng cần cố-gắng hơn lên thêm nữa làm gì. Còn người tri-túc thì chẳng đòi hỏi thêm gì nữa cho mình, vì mình nhận thấy nhu-cầu nơi mình đã thoả-mãn vừa đủ. So-sánh hai người, một bên tự-mãn thì tự đánh-giá mình qua cao, vì thế sanh ra kiêu-căng; còn một bên tri-túc, biết tự-chế sự ham-muốn của mình chẳng cho đi quá mức.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 271 và 272:

 

Hai bài Kệ nhập chung lại thành một bài, khuyên ta chớ nên sanh lòng tự-mãn, phải luôn-luôn nỗ-lực, kiên-trì dẹp cho xong mọi lậu-hoặc để chứng quả-vị A-la-hán.

 

Thử phân-tách từng câu bài Kệ nầy:

 

1) Chẳng phải vì trì-giới nghiêm-túc: đây chẳng phải bài Kệ chê việc trì-giới, mà bài Kệ muốn nói rằng trì-giới còn chưa đủ, chớ nên tự-mãn. Trì-giới để được định-tâm, rồi nhớ tâm an-định mà trí-huệ mới phát-triển, sớm đến nơi giac-ngộ và giải-thoát.

 

2) Chẳng phải do kiến-thức thật cao: đây chẳng phải bài Kệ chê kiến-thức về đạo-pháp; trái lại, biết suông chưa đủ, chớ tự-mãn, phải đem sự hiểu-biết ra ứng-dụng tu hành trên bản-thân mình nữa.

 

3) Chẳng phải vì thiền-định thâm-sâu: đây chẳng phải bài Kệ chê việc thiền-định; trái lại, thiền-định giúp cho trí-huệ phát-triển, thấy rõ con đường giác-ngộ và giải-thoát, chớ chẳng nên tự-mãn, thấy thân-tâm được an-lạc rồi cho là đủ, bám vào cảnh ấy mà trì-trệ.

 

4) Chẳng phải do sống xa trần-tục: đây chẳng phải bài Kệ chê hạnh đầu-đà; trái lại, biết xa-lìa các thú-vui vật-chất còn chưa đủ, phải tận-diệt bên trong các mầm-mống lậu-hoặc còn sót lại, chớ tự-mãn mà lơ-là, quên mất mục-tiêu giải-thoát.

 

5) Mà có thể tự-mãn: "Ta nay hưởng phước hạnh viễn-ly, mà các phàm-phu làm gì hưởng được": đây là lời cảnh-cáo, hạnh viễn-ly đem lại phước-báo, sống tự-tại, nhưng chớ tự mãn, cho rằng mình đã hơn kẻ phàm-phu, đó là ngã-mạn, còn xem mình là hơn kẻ khác.

 

6) Tỳ kheo! Chớ xao-lãng, Kiên-trì diệt lậu-hoặc cho xong": đây là lời kêu gọi khẩn-thiết, phải bền-chí, dõng-mãnh diệt các lậu-hoặc còn sót lại trong tâm, nhứt là lòng tự-mãn.

The Story of Some Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (271) and (272) of this book, with reference to some bhikkhus.

Once, there were some bhikkhus who were endowed with virtue; some of them had strictly observed the austere practices (dhutanga), some had wide knowledge of' the Dhamma, some had achieved mental absorption (jhana), some had achieved Anagami Phala, etc. All of them thought that since they had achieved that much, it would be quite easy for them to attain Arahatta Phala. With this thought they went to the Buddha.

The Buddha asked them, "Bhikkhus, have you attained Arahatta Phala?" Then they replied that they were in such a condition that it would not be difficult for them to attain Arahatta Phala at any time. To them the Buddha said, "Bhikkhus! Just because you are endowed with morality (sila), just because you have attained Anagami Phala, you should not be complacent and think that there is just a little more to be done; unless you have eradicated all moral intoxicants (asavas), you must not think that you have realized perfect bliss of Arahatta Fruition."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verses 271 & 272: Not only by mere moral practice, nor by much learning, nor by acquiring concentration, nor by dwelling in seclusion, nor by assuring oneself, "I enjoy the bliss of Anagami Fruition that is not enjoyed by common worldlings (puthujjanas)," should the bhikkhu, rest content without attaining the extinction of moral intoxicants (asavas) [i.e., without attaining arahatship].

At the end of the discourse all those bhikkhus attained arahatship.

Dhammapada Verses 271 and 272
Sambahulasiladisampannabhikkhu Vatthu

Na silabbatamattena
bahusaccena va pana
atha va samadhilabhena
vivittasayanena va.

Phusami nekkhammasukham1
aputhujjanasevitam
bhikkhu vissasamapadi
appatto asavakkhayam.

Verses 271 & 272: Not only by mere moral practice, nor by much learning, nor by acquiring concentration, nor by dwelling in seclusion, nor by assuring oneself, "I enjoy the bliss of Anagami Fruition that is not enjoyed by common worldlings (puthujjanas)," should the bhikkhu, rest content without attaining the extinction of moral intoxicants (asavas) [i.e., without attaining arahatship].


1. nekkhammasukham: In this context, Anagamisukham. i.e., Anagami Fruition, the fruition that follows the attainment ot Anagami Magga.

End of Chapter Nineteen: The Just or the Righteous

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Giêng 201910:04 CH(Xem: 168)
Ăn uống: Sử dụng nhiều rau xanh hàng ngày để bổ sung chất xơ cho đường tiêu hóa giúp làm nhuận tràng, hạn chế thực phẩm giàu béo, hạn chế dầu mỡ, thực phẩm chiên rán, hạn chế dùng chất kích thích như chè, café, bia rượu, chất cay, đắng, nóng. Uống đủ nước hàng ngày. – Vận động: Tránh béo phì, thường xuyên vận động
26 Tháng Giêng 20199:51 CH(Xem: 228)
Có một cậu sinh viên và một người Thầy lớn tuổi đang trao đổi với nhau về sự hoàn hảo. Chàng thanh niên với sức khỏe và lòng nhiệt huyết luôn muốn đi tìm cho mình mọi sự hoàn hảo. Người Thầy đã chú ý lắng nghe và thấu hiểu cậu sinh viên. Với bao nhiêu năm sống và hiểu biết bao chuyện xảy ra, ông nhẹ nhàng nói với cậu sinh viên:
21 Tháng Giêng 201910:37 CH(Xem: 203)
Từ trước khi được làm mẹ, tôi đã gặp chẳng ít những người mẹ đau khổ, luôn tự hỏi một câu: Tại sao mình đã hy sinh cho con tất cả, mà vẫn chẳng thể có được đứa con như mình mong muốn? Đứa con ấy có thể đã hỗn hào với mẹ, có thể đã cưới người vợ không hợp ý mẹ, đã lựa chọn một nghề nghiệp mà người mẹ kịch liệt phản đối,
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 256)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 485)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 860)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 878)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 697)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 488)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 551)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 602)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1455)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 834)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 627)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1649)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 1085)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4423)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8559)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1646)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 656392)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 493)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1413)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 2257)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 1051)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 1025)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 3106)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 163)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 542)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 658)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 3959)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
24 Tháng Giêng 20194:07 CH(Xem: 321)
Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Nhiều Tác Giả - Many Authors)
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 318)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,