Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 20, Phẩm Đạo - The Dhammapada, Chapter 20, The Path

18 Tháng Mười Hai 20187:08 SA(Xem: 387)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 20, Phẩm Đạo - The Dhammapada, Chapter 20, The Path

Chapter20-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 20, Phẩm Đạo
The Dhammapada, Chapter 20, Maggavagga: The Path

(Kệ 273-289 - Verses 273-289)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp273_B
dhp274_B
dhp275_B
dhp276_B
Verse-Kệ 273-276

(204).- Tích chuyện các tỳ-kheo bàn về đường đi. - Kệ số 273, 274, 275 và 276

 

Tích chuyện giống với Tích chuyện số (33).

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến các vị tỳ-kheo bàn-luận cùng nhau về các con đường đã trải qua.

 

Thuở ấy, sau chuyến du-hành theo Đức Phật đi hoằng-pháp ở các làng-mạc trở về, vào buổi chiều, các tỳ-kheo tụ-tập nhau, bàn luận về các đoạn-đường đã trải qua, khi xuyên qua các làng-mạc. Người nói đoạn đường nầy gồ-ghề, kẻ bảo đoạn đường kia bằng-phẳng. Có vị khen khúc lộ nầy trống-trải dễ đi, có vị chê khúc lộ kia trơn-trợt dễ té. Bấy giờ Đức Phật vừa đi ngang qua đó, nghe lời bàn-luận của các tỳ-kheo, Ngài mới dạy rằng: "Nầy chư tỳ-kheo, các đoạn-đường mà các vị đang bàn nhau đó là những đoạn-đường ở bên ngoài thân-tâm. Sao chư tỳ-kheo lại chẳng lưu-tâm đến con đường thánh-đạo cùng những việc cần làm để sớm đắc được Đạo và Quả Niết-bàn an-lạc?"

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bốn bài Kệ sau đây:

 

Bát-Chánh-Đạo quí nhứt mọi đường,

Lý tột-cao là Tứ-Diệu-Đế.

Ly tham-ái, có pháp nào bằng,

Loài hai chơn, ai hơn Phật-nhãn.

(Kệ số 273.)

 

Chỉ đường nầy, chẳng đường nào khác,

Đưa đến thanh-tịnh-hoá kiến-tri,

Mau theo đường ấy ngay đi

Ma-quân muốn phá cũng thì chào thua.

(Kệ số 274.)

 

Dấn chơn vào bước đường nầy,

Con người chấm dứt được ngay khổ-sầu.

Ta đã qua cầu, nay chỉ lại

Lối đi diệt chướng-ngại, chông-gai.

(Kệ số 275.)

 

Các người hãy tự mình nỗ-lực,

Như-Lai chỉ là bực dẫn đường.

Thực-hành thiền-định cho thường,

Thoát vòng kiềm-toả Ma-vương buộc-ràng.

(Kệ số 276.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Đạo = tiếng Hán-Việt, có hai nghĩa chánh: (1) con đường; (2) đường-lối tu-hành, tôn-giáo. Trong bài nầy, nhơn nói về các con đường bên ngoài mà bước chơn ta trải qua, Đức Phật nói đến con đường đưa ta ra khỏi vòng sanh-tử khổ-sở của Luân-hồi.

 

- Thánh-đạo: đường-lối tu-hành đưa đến quả-vị Thánh, thoát khỏi khổ-đau của Luân-hồi sanh-tử. Đó là Bát-Chánh-đạo.

 

- Đạo và Quả: Đạo = đường-lối tu-hành, việc cần làm, điều cần tránh, để chứng được quả-vị. Tiếng Pali là Magga. Quả là kết-quả tốt của việc tu-tập thành-công, tức là quả-vị. Tiếng Pali là Phala.

 

- Bát-Chánh-Đạo: Bát = tám; Chánh = chơn-chánh, đứng-đắn; Đạo = đường-lối tu-tập. Bát-Chánh-Đạo gồm có: (1)Chánh-kiến ( = thấy biết đúng-đắn), (2) Chánh-tư-duy ( =suy-nghĩ đứng-đắn),(3)Chánh-ngữ ( =lời nói đứng-đắn),(4) Chánh-mạng ( = lối sanh-sống đứng-đắn), (5) Chánh-nghiệp ( = sự-nghiệp đứng-đắn), (6) Chánh tinh-tấn (nỗ-lực đứng-đắn), (7) Chánh-niệm ( =ý-tưỏng đứng-đắn), (8) Chánh-định ( = tâm an-định đứng-đắn).

 

- Tứ-Diệu-Đế: Tứ =bốn, Diệu = nhiệm-mầu; Đế = Chơn-lý. Tứ-Diệu-Đế hay bốn Chơn-lý nhiệm-mầu gồm có: (1) Khổ-đế, đời là Khổ; (2) Tập-đế, nguyên-nhơn gây ra Khổ là sự tham-ái; (3) Diệt-đế, sự chấm-dứt hết mọi Khổ, tức là Niết-bàn; (4) Đạo-đế, con đường Thánh đưa đến sự chấm dứt Khổ, tức là Bát-Chánh-Đạo.

 

- Ly tham-ái: Ly = lìa; Tham = ham muốn quá chừng; Ái = thương, thích. Ly tham-ái là cắt bỏ lòng tham-muốn, nhứt là sự bấu-víu vào các thú-vui của đời sống trong vòng lẩn-quẩn của Luân-hồi.

 

- Phật-nhãn: Phật = giác, hiểu rõ cùng-tột; Nhãn = con mắt. Tiếng Phật-nhãn ở đây chỉ người có sự hiểu-biết, nhìn thấy được mọi vật một cách cùng-tột.

 

- Thanh-tịnh-hoá Kiến-tri: Thanh-tịnh-hoá = làm cho trong-sạch lên; Kiến-tri: Kiến = thấy; Tri = biết; Kiến-tri là sự hiểu-biết, thấu rõ.

 

- Ma-quân, Ma-vương: nghĩa bóng là sự cám-dỗ, thúc-dục ta phải làm đìều ác

 

- Đã qua cầu: đã vượt qua xong, đã có kinh-nghiệm về việc đó.

 

- Chướng-ngại = điều ngăn-trở, gây khó-khăn.

 

- Kiềm-toả: Kiềm = cây kềm; Toả = ống khoá. Kiềm-toả dùng theo nghĩa bóng, chỉ sự ràng-buộc.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị: nhơn các tỳ-kheo bàn-luận về các con đường đất đã đi qua, Đức Phật dạy các tỳ-kheo nên nghĩ đến con đường tu-hành để chứng quả-vị Thánh. Đó là con đường Bát-Chánh-đạo, nói trong Tứ-Diệu-Đế.

 

(2) Ý-nghĩa của bốn bài Kệ số 273, 274, 275 và 276:

 

Cả bốn bài Kệ đều nói về con đường Thánh-đạo, Bát-Chánh-Đạo, đưa người tu-hành đến quả-vị Thánh, thoát vòng Luân-hồi.

 

1) Kệ số 273 nêu ra bốn điều cao-tột: Bát-Chánh-Đạo, Tứ-Diệu-Đế, Ly tham-ái và Phật-nhãn. Nhờ biết đi theo con đường Thánh, lià xa tham-ái, chứng được Phật-nhãn, nhìn biết tất cả muôn sự-vật, muôn loài, nên giác-ngộ được Chơn-lý và giải-thoát khỏi Luân-hồi.

 

2) Kệ số 274 nói rõ Bát-Chánh-đạo là con đường duy-nhứt làm cho thân-tâm trở nên thanh-tịnh, chẳng có Ma-quân nào cám dỗ được cả.

 

3) Kệ số 275 cho biết, con đường đó Đức Phật đã trải qua; Ngài vượt qua hết mọi chông-gai cản trở, nay chỉ lại cho ta, để chấm-dứt hết mọi khổ-đau, khỏi phải tái-sanh trong vòng Luân-hồi lận-đận.

 

4) Kệ số 276 nhắc nhở mọi người phải tự mình nỗ-lực lấy, siêng thực-hành việc thiền-định, để thoát khỏi mọi sự cám-dỗ của Ma-vương. Phải tự mình nỗ-lực lấy, mau dấn bước theo con đường Bát-Chánh-đạo, chẳng nên chờ mong sự cứu-độ của ai cả, vì Đức Như-Lai chỉ là kẻ dẫn-đường đưa lối mà thôi.

The Story of Five Hundred Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (273) to (276) of this book, with reference to five hundred bhikkhus.

Five hundred bhikkhus, after accompanying the Buddha to a village, returned to the Jetavana monastery. In the evening they talked about the trip, especially the nature of the land, whether it was level or hilly, clayey or stony, etc. The Buddha came to them in the midst of their conversation and said to them, "Bhikkhus, the path you are talking about is external to you; a bhikkhu should only be concerned with the path of the Noble Ones (ariyas) and strive to do what should be done for the attainment of the Ariya Path (Magga) that leads to the realization of the Perfect Peace (Nibbana)."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 273: Of paths, the Path of Eight Constituents is the noblest; of truths, the Four Noble Truths are the noblest; of the dhammas, the absence of craving (i.e., Nibbana) is the noblest; of the two-legged beings, the All-Seeing Buddha is the noblest.

 

Verse 274: This is the only Path, and there is none other for the purity of vision. Follow this Path; it will bewilder Mara.

 

Verse 275: Following this Path, you will make an end of dukkha. Having myself known the Path which can lead to the removal of the thorns of moral defilements, I have shown you the Path.

 

Verse 276: You yourselves should make the effort; the Tathagatas (Buddhas) only can show the way. Those who practise the Tranquillity and Insight Meditation are freed from the bond of Mara.


At the end of the discourse those five hundred bhikkhus attained arahatship.

Dhammapada Verses 273, 274, 275 and 276
Pancasatabhikkhu Vatthu

Magganatthangikosettho
saccanam caturo pada
2
virago settho dhammanam
3
dvipadananca cakkhuma.

Eseva maggo natthanno
dassanassa visuddhiya
etanhi tumhe patipajjatha
marassetam pamohanam.

Etanhi tumhe patipanna
dukkhassantam karissatha
akkhato vo rnaya maggo
annaya sallakantanam.

Tumhehi kiccamatappam
akkhataro tathagata
patipanna pamokkhanti
jhayino marabandhana.

Verse 273: Of paths, the Path of Eight Constituents is the noblest; of truths, the Four Noble Truths are the noblest; of the dhammas, the absence of craving (i.e., Nibbana) is the noblest; of the two-legged beings, the All-Seeing Buddha is the noblest.

Verse 274: This is the only Path, and there is none other for the purity of vision. Follow this Path; it will bewilder Mara.

Verse 275: Following this Path, you will make an end of dukkha. Having myself known the Path which can lead to the removal of the thorns of moral defilements, I have shown you the Path.

Verse 276: You yourselves should make the effort; the Tathagatas (Buddhas) only can show the way. Those who practise the Tranquillity and Insight Meditation are freed from the bond of Mara.


1. atthangiko: Ariya Atthangika Magga, or the Noble Path of Eight Constituents. This is the Path pointed out by the Buddha for liberation from the round of existences. The Eight Constituents are: right view, right thinking, right speech, right action, right living, right effort, right mindfulness and right concentration.

2. caturo pada: Cattari Ariyasaccani, or the Four Noble Truths. These are the four Truths upon which the whole doctrine of the Buddha is based. They are: (a) the Noble Truth of Dukkha; (b) the Noble Truth of the Cause of Dukkha, i.e., craving; (c) the Noble Truth of the Cessation of Dukkha; and (d) the Noble Truth of the Path leading to the Cessation of Dukkha. (N.B. Dukkha, in this context, means the five aggregates of attachment or Pancupadanakkhandha).

3. dhamma: both conditioned and unconditioned things.


dhp277_B
dhp278_B
dhp279_B
Verse-Kệ 277-279

(205).- Tích chuyện các tỳ-kheo quán chiếu về Vô-thường, Khổ và Vô-ngã - Kệ số 277, 278 và 279

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến ba nhóm tỳ-kheo quán-chiếu về các chơn-lý Vô-thường, Khổ và Vô-ngã.

 

Thuở ấy, có ba nhóm tỳ-kheo đến yết-kiến Phật, để xin đề-tài quán-chiếu mà thực-tập thiền-định. Nhóm thứ nhứt được dạy về Vô-thường, nhóm thứ hai về Khổ và nhóm thứ ba về Vô-ngã. Họ đi vào rừng vắng, tu-tập một thời-gian. Sau đó, nhiều người chẳng thấy có tiến-bộ, trở về trình Phật. Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, các hành đều Vô-thường, cứ biến-đổi rồi huỷ-diệt. Tại sao lại hay biến-đổi, chẳng thường-trụ? Vì bản-thể rỗng-rang, do nhơn-duyên mà hợp, rồi lại vì nhơn-duyên mà huỷ-diệt đi, đó là tính-chất Vô-ngã. Vì các hành đã Vô-thường lại Vô-Ngã, chẳng hoàn-mãn, nên sanh ra Khổ. Tỳ-kheo dùng tuệ-giác quán-thấy rõ ba tánh-chất đó, trở nên nhàm-chán sự Khổ-đau, sớm theo đường thanh-tịnh-đạo để mau được giải-thoát."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên ba bài Kệ sau đây, nhờ đó một số tỳ-kheo chứng-đắc được quả-vị A-la-hán:

 

Vô-thường là tất cả các hành.

Nhờ tuệ-giác, quán-chiếu thấy rành,

Mới sanh nhàm-chán niềm khổ-não,

Thanh-tịnh-đạo liền rảo bước nhanh.

(Kệ số 277.)

 

Đau-khổ là tất cả các hành.

Nhờ tuệ-giác, quán-chiếu thấy rành,

Mới sanh nhàm-chán niềm khổ-não,

Thanh-tịnh-đạo liền rảo bước nhanh.

(Kệ số 278.)

 

Vô-ngã là tất cả các hành,

Nhờ tuệ-giác, quán-chiếu thấy rành,

Mới sanh nhàm-chán niềm khổ-não,

Thanh-tịnh-đạo liền rảo bước nhanh.

(Kệ số 279.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Quán-chiếu: tâm an-định và suy-nghĩ sâu-xa về một đề-tài.

 

- Vô-thường: Vô = chẳng; Thường = hằng còn. Vô-thường là hay biến-đổi, chẳng còn mãi được.Tiếng Pali là Anicca.

 

- Khổ: sự khổ-đau, sự bất-toại-nguyện; tiếng Pali là Dukkha.

 

- Vô-ngã: Vô =chẳng; Ngã = Ta, bản-thể. Vô-ngã là bản-thể rỗng-rang, chẳng có chi bên trong làm chủ-thể, do nhơn-duyên mà tạm-có; rồi cũng do nhơn-duyên mà hủy-diệt đi; tiếng Pali là Anatta.

 

- Hành: dịch chữ Sankhàra của Pali; có nhiều nghĩa: Xin xem lại trang 575, 576. Chữ Hành có nghĩa là sự tập-hợp, do nhơn-duyên mà tạm-có, để rồi theo nhơn-duyên mà huỷ-diệt. Lại cùng nghĩa với chữ uẩn (Pali là khandha ), trong chữ Hành-uẩn. Ở đây, xin hiểu chữ Hành là các sự-vật hữu-vi, do sự tạo-tác mà nên, bị điều-kiện-hoá, biến-chuyển để đi đến huỷ-diêt. Thí-dụ về hành là thân-tâm năm uẩn, chẳng thường còn, bị điều-kiện-hoá, rồi sẽ tan-hoại sau nầy.

 

- Hoàn-mãn: Hoàn = tròn, trọn-vẹn; Mãn = đầy-đủ, hợp ý. Chẳng hoàn-mãn, hay là bất-toại-nguyện, nghĩa là chẳng làm ta vừa ý. Tại sao? Vì chẳng có bản-thể bền-vững, vì có đó rồi lại mất đó.

 

- Tuệ-giác: Tuệ = trí-huệ; Giác = biết; Tuệ-giác là khà-năng hiểu-biết của tâm-trí; Pali: Vipassana Panna, dịch là trí Bát-nhã Minh-sát.

 

- Thanh-tịnh-đạo: con đường thanh-lọc thân-tâm; tiếng Pali là Visuddhi Magga.

 

- Rảo bước = đi mau.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện chẳng có gì đặc-biệt: các tỳ-kheo thực-tập quán-chiếu về Vô-thường, Khổ, Vô-ngã, được Đức Phật chỉ-dạy thêm.

 

(2) Ý-nghĩa của ba bài Kệ số 277, 278 và 279:

 

Ba bài Kệ nầy rất quan-trọng về mặt Giáo-lý; cả ba bài khác nhau chỉ có mỗi hai chữ ở câu đầu: Vô-thường, Đau-khổ và Vô-ngã.

 

Ý-nghĩa của ba bài Kệ: vì muôn sự-vật đều vô-thường và vô-ngã, chẳng đem lại sự toại-nguyện và ổn-cố cho ta, nên chúng gây ra Khổ. Vậy muốn thoát Khổ, phải theo con đường thanh-tịnh-hoá thân-tâm.

Stories Relating to Anicca, Dukkha and Anatta

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (277), (278) and (279) of this book, with reference to three groups of five hundred bhikkhus each.

On Impermanence (Anicca)

Five hundred bhikkhus, after receiving their subject of meditation from the Buddha, went into the forest to practise meditation, but they made little progress. So, they returned to the Buddha to ask for another subject of meditation which would suit them better. On reflection, the Buddha found that those bhikkhus had, during the time of Kassapa Buddha, meditated on impermanence. So, he said, "Bhikkhus, all conditioned phenomena are subject to change and decay and are therefore impermanent."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 277: "All conditioned phenomena are impermanent"; when one sees this with Insight-wisdom, one becomes weary of dukkha (i.e., the khandhas). This is the Path to Purity.


At the end of the discourse those five hundred bhikkhus attained arahatship.

On Dukkha

The story is the same as the story on Anicca. Here, the Buddha on reflection found that another group of five hundred bhikkhus had meditated on dukkha. So, he said, "Bhikkhus, all khandha aggregates are oppressive and unsatisfactory; thus all khandhas are dukkha."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 278: "All conditioned phenomena are dukkha"; when one sees this with Insight-wisdom, one becomes weary of dukkha (i.e., the khandhas). This is the Path to Purity.


At the end of the discourse those five hundred bhikkhus attained arahatship.

On Insubstantiality or Non-Self (Anatta)

The story is the same as the stories on Anicca and Dukkha. Here, the Buddha on reflection found that still another group of five hundred bhikkhus had meditated on insubstantiality or non-self (anatta). So, he said, "Bhikkhus, all khandha aggregates are insubstantial; they are not subject to one's control."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 279: "All phenomena (dhammas) are without Self"; when one sees this with Insight-wisdom, one becomes weary of dukkha (i.e., the khandhas). This is the Path to Purity.


At the end of the discourse all those five hundred bhikkhus attained arahatship.

Dhammapada Verses 277, 278 and 279
Aniccalakkhana Vatthu
Dukkhalakkhana Vatthu
Anattalakkhana Vatthu

"Sabbe sankhara anicca" ti
yada pannaya
passati
atha nibbindati dukkhe
esa maggo visuddhiya.

"Sabbe sankhara dukkha" ti
yada pannaya passati
atha nibbindati dukkhe
esa maggo visuddhiya.

"Sabbe sankhara anatta" ti
yada pannaya passati
atha nibbindati dukkhe
esa maggo visuddhiya.

Verse 277: "All conditioned phenomena are impermanent"; when one sees this with Insight-wisdom, one becomes weary of dukkha (i.e., the khandhas). This is the Path to Purity.

Verse 278: "All conditioned phenomena are dukkha"; when one sees this with Insight-wisdom, one becomes weary of dukkha (i.e., the khandhas). This is the Path to Purity.

Verse 279: "All phenomena (dhammas) are without Self"; when one sees this with Insight-wisdom, one becomes weary of dukkha (i.e., the khandhas). This is the Path to Purity.


1. panna: Insight-wisdom (Vipassana panna).


dhp280_B
Verse-Kệ 280

(206).- Tích chuyện tỳ-kheo Thi-sa lười nhác - Kệ số 280

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị tỳ-kheo lười-nhác là Thi-sa

 

Thuở ấy, ở nước Xá-vệ, có hàng trăm thanh-niên trẻ tuổi được thâu-nhận vào Giáo-hội. Tỳ-kheo Thi-sa cùng với các bạn vừa mới nhập-đạo, đến yết-kiến Đức Phật và được chỉ-dạy một đề-tài thiền-quán. Họ liền đi vào rừng, tìm chỗ yên-tịnh, nỗ-lực thực-tập, tinh-tấn tu-hành. Riêng tỳ-kheo Thi-sa, tánh-tình lười-nhác, bê-trễ trong việc hành Thiền. Mấy tháng sau, cả đoàn quay về Tịnh-xá, tường-trình thành-quả việc tu-học. Đức Phật khen ngợi cố-gắng tu-tập của mọi người. Riêng Tỳ-kheo Thi-sa đang đứng phía sau, cảm thấy hổ-thẹn vì đã lãng-phí thời-giờ, chẳng đạt được kết-quả nào.

 

Tối hôm ấy, nghĩ đến các bạn đồng-tu nay đã chứng được quả-vị mà mình vẫn còn dốt-nát, Tỳ-kheo Thi-sa mới quyết-định thức cả đêm nay để tập Thiền. Trong bóng tối chập-chờn ngoài sân chùa, Thi-sa bước đi thiền-hành, chẳng may vấp ngã, gãy xương mông. Nghe tiếng kêu cứu, các vị tỳ-kheo khác chạy đến đỡ Thi-sa vào trong. Khi nghe kể lại sự-việc, Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, chẳng nỗ-lực khi đang cần nỗ-lực, lại bê-trễ lãng-phí thi-giờ, nay dầu có gắng sức nhiều trong một lúc, cũng chẳng thể nào chứng được định-tâm."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Chẳng nỗ-lực khi cần gắng sức;

Sức-khoẻ nhiều và vẫn trẻ-trung;

Tánh lười, trí lại lông-bông,

Chánh-đạo, đừng hòng kẻ ấy tìm ra.

(Kệ số 280.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Thi-sa: tên vị tỳ-kheo nầy, tiếng Pali là Tissa.

 

- Lười-nhác = làm biếng, biếng-nhác.

 

- Nhập-đạo: Nhập = vào; Nhập-đạo là bước vào Đạo để tu-hành

 

- Đề-tài thiền-quán: một đầu-đề để suy-nghĩ sâu-xa khi ngồi Thiền

 

- Đi thiền-hành: bước chầm-chậm, tâm-trí chú vào đề-tài Thiền.

 

- Tường-trình thành-quả: thuật lại rõ các kết-quả tốt-đẹp.

 

- Định-tâm: Định = an-định; Tâm = lòng. Khi hành Thiền, tâm dừng lại, chẳng lo ra, trí suy-nghĩ sâu-xa về đề-tài thiền-quán.

 

- Lông-bông: đi lang-thang, vơ-vẩn.

 

- Chánh-đạo: Chánh = chơn-chánh, đứng-đắn; Đạo = đường-lối tu

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện kể lại một vị tỳ-kheo, trong thời-gian khoá thiền trong rừng, thì tỏ ra lười-biếng, bê-trễ việc tu-tập. Khi trở về Tịnh-xá, thấy Đức Phật khen ngợi thành-quả của bạn đồng-tu, vị ấy mới sanh ra hổ-thẹn, quyết cố-gắng tu-tập suốt đêm, chẳng may bị trợt té gãy xương, trong khi đi thiền-hành. Đức Phật dạy, phải cố gắng siêng-năng, khi cần phải nỗ-lực trong các khoá tu; dầu nỗ-lực thật nhiều trong một thời-gian ngắn, cũng chẳng chứng được định-tâm.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là: khi có đủ điều-kiện để tu-hành, cần nên gắng sức trong thời gian đó, thì có kết-quả tốt; đừng đợi đến giờ phút chót mới nỗ-lực, thì chẳng đạt được kết-quả tốt.

 

Học-sinh nên ứng-dụng: suốt năm phải chăm-chỉ học-hành, đừng đợi sắp đến ngày thi, mới thức khuya, học rút, sao cho kịp được.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 280:

 

Bài Kệ nêu rõ ý-nghĩa của Tích chuyện kể trên: khi có đủ điều-kiện để tu-tập, phải nỗ-lực cho tinh-tấn, đừng để khi tuổi-trẻ và sức khoẻ đã đi qua rồi, mới bắt đầu dụng công gấp-gấp, thì chẳng được kết-quả mong-muốn.

 

Thử phân-tách từng câu bài Kệ:

 

1) Chẳng nỗ-lực khi cần gắng sức: khi đủ điều-kiện để tu-tập, phải gắng sức vào lúc đó, chớ bỏ qua cơ-hột tốt;

 

2) Sức khoẻ nhiều và vẫn trẻ-trung: đây là hai điều-kiện rất thuận-tiện để tu-hành; chớ chờ lúc già, sức yếu mới tu, chậm mất;

 

3) Tánh lười, trí lại lông-bông: hai điều-kiện bất lợi cho việc tu

 

4) Chánh-đạo, đừng hòng kẻ ấy tìm ra: chẳng thể nào, trong điều-kiện lười và lông-bông mà tìm thấy được con đường Thánh-đạo. 

The Story of Thera Tissa the Idle One

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (280) of this book, with reference to Tissa, a lazy bhikkhu.

Once, five hundred young men were admitted into the Order by the Buddha in Savatthi. After receiving a subject of meditation from the Buddha, all the new bhikkhus except one went to the forest to practise meditation. They practised zealously and vigilantly so that in due course all of them attained arahatship. When they returned to the monastery to pay homage to him, the Buddha was very pleased and satisfied with their achievement. Bhikkhu Tissa who stayed behind did not try hard and therefore achieved nothing.

When Tissa found that the relationship between the Buddha and those bhikkhus was very cordial and intimate, he felt rather neglected, and regretted that he had wasted all that time. So he resolved to practise meditation throughout the night. As he was walking in meditation on that night, he slipped and broke a thigh bone. Other bhikkhus hearing his cry went to help him. On hearing about the above incident the Buddha said, "Bhikkhus, one who does not strive when he should be striving but idle away his time will not attain mental absorption (jhana) and Magga Insight."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 280: The idler who does not strive when he should be striving, who though young and strong is given to idleness, whose thoughts are weak and wandering, will not attain Magga Insight which can only be perceived by wisdom.

Dhammapada Verse 280
Padhanakammikatissatthera Vatthu

Utthana kalamhi anutthahano
yuva bali Alasiyam upeto
samsanna sankappamano kusito
pannaya maggam alaso na vindati.

Verse 280: The idler who does not strive when he should be striving, who though young and strong is given to idleness, whose thoughts are weak and wandering, will not attain Magga Insight which can only be perceived by wisdom.


dhp281_B
Verse-Kệ 281

(207).- Tích chuyện ngạ-quỉ đầu heo mình người - Kệ số 281

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, nước Ma-kiệt-đà, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một ngạ-quỉ đầu heo mình người.

 

Thuở ấy, Tôn-giả Mục-kiền-liên đang cùng một vị Trưởng-lão, từ trên đỉnh núi Linh-thứu đi xuống, bỗng Tôn-giả nhìn lên, mỉm cười mà chẳng thốt lên lời nào. Đến khi về đến tịnh-xá, Tôn-giả trình cùng Đức Phật, dọc đường có nhìn thấy một ngạ-quỉ đầu heo mình người, miệng bị nhiều dòi, bọ cắn-xé, đang rên-xiết đau-đớn. Đức Phật bảo, khi Ngài chứng được Đạo Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác, Ngài cũng nhìn thấy ngạ-quỉ đó. Rồi Đức Phật mới kể lại tiền-kiếp của ngạ-quỉ đầu heo, mình người đó, như sau:

 

Vào thời Đức Phật Ca-diếp, có một vị tỳ-kheo rất thông-thuộc Chánh-pháp, giảng-dạy giáo-lý rất hay. Trong một chuyến đi du-hành, vị ấy đến ngụ tại một tu-viện, do hai vị tỳ-kheo khác trụ-trì. Kể từ ấy, dân-chúng trong làng rất hoan-nghinh vị tỳ-kheo mới, mỗi khi nghe vị nầy nói pháp. Và cũng vì thế mà vị tỳ-kheo ấy mới nổi lên trong lòng một ý-định xấu, muốn một mình làm chủ ngôi tu-viện, và tìm cách đẩy hai vị kia ra khỏi chùa. Mưu-kế rất thâm-hiểm, ông ta đặt điều xúi-dục vị tỳ-kheo nầy nói xấu vị kia, khiến cho cả hai cãi nhau, nặng lời cùng nhau, rồi cả hai bỏ đi khỏi chùa. Vì tội-ác nói đâm-thọc khiến kẻ khác sanh ra thù-oán nhau, nên vị tỳ-kheo ấy bị sa vào điạ-ngục Vô-gián. Sau khi mãn hạn trong ngục tối, lại tái-sanh thành ngạ-quỉ, đầu heo, miệng thối, bị dòi bọ cắn-xé, để đền nốt tội-ác . Đức Phật kết-luận: "Tỳ-kheo phải giữ tâm thanh-tịnh, thận-trọng biết tự-chế để ba nghiệp thân, miệng, ý thuận theo đường thiện-đạo."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Hãy thận-trọng giữ-gìn lời nói,

Thu-thúc thân-tâm khỏi điều tà.

Nghiệp thanh-tịnh đủ cả ba,

Thánh-đạo Phật-đà đã dạy, chứng xong.

(Kệ số 281.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Ngạ-quỉ: quỉ đói. Đây là hạng chúng-sanh ở một trong ba đường dữ, bụng to mà cổ rất nhỏ, luôn luôn đói khát. Còn được gọi là ngã-quỉ; tiếng Pali là Peta.

 

- Tịnh-xá Trúc-lâm, thành Vương-xá, nước Ma-kiệt-đà: Vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara), nước Ma-kiệt-đà (Magadha), đóng đô tại thành Vương-xá (Rajàgaha), xây cất tịnh-xá trong vườn trúc, dưng-cúng Phật. Tînh-xá mang tên Trúc-lâm, rừng trúc, tiếng Pali là Veluvana.

 

- Núi Linh-thứu: núi nầy gần thành Vương-xá, đỉnh núi trông giống hình chim thứu ( =kên-kên), hai cánh xoè ra. Đức Phật giảng kinh Pháp-Hoa tại núi nầy. Tên núi tiếng Pali là Gijjhakùta.

 

- Đạo Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác: chứng được Đạo nầy tức là thành Phật, bực đại-giác đã hoàn-toàn giác-ngộ và giải-thoát.

 

- Tiền-kiếp: Tiền = trước; Kiếp = đời. Tiền-kiếp là đời trước.

 

- Du-hành: Du = đi dạo; Hành = đi; các vị tăng đi du-hành, chẳng có nơi ở nhứt-định, đi tìm thầy học đạo thêm. Còn gọi là du-tăng.

 

- Phật Ca-diếp: Đức Phật Ca-diếp giáng-sanh trước Đức Phật Thích-ca. Tên tiếng Pali là Kassapa.

 

- Trụ-trì: Trụ = ở yên đó; Trì = giữ-gìn. Trong Phật-học, chữ Trụ-trì dành cho vị sư-trưởng cai quản một ngôi chùa.

 

- Thâm-hiểm: Thâm = thâm-độc, ác ngầm; Hiểm = nguy-hiểm, hiểm-ác. Thâm-hiểm là ác-độc ngầm, ác-độc mà dấu-kín.

 

- Nói đâm-thọc = đặt điều ra xúi người nầy nói xấu người kia, khiến cho hai người thù nhau.

 

- Điạ-ngục Vô-gián: nơi chịu hình-phạt chẳng hề ngưng-nghỉ (Vô = chẳng; Gián = gián-đoạn, ngưng-nghỉ). Tiếng Pali là Avici niraya.

 

- Tái-sanh: sanh trở lại, theo luật Luân-hồi.

 

- Tự-chế = tự mình giữ mình chẳng cho làm điều quấy, nói lời ác.

 

- Thiện-đạo: Thiện = lành; Đạo = con đường, lối sống.

 

- Thu-thúc: chế-phục, tự-chế, giữ gìn đúng theo kỷ-luật; chẳng hề buông-lung theo tôi-ác.

 

- Thánh-đạo: con đường Thánh, tức là Bát-Chánh-Đạo.

 

- Phật-đà: phiên-âm chữ Buddha, có nghĩa giác, là hiểu-rõ tất cả mọi sự-vật; tức là bực đại-giác-ngộ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại tiền-kiếp của ngạ-quỉ đầu heo mình người; vì nói lời đâm-thọc, phá sự hoà-hợp của hai vị tăng, để dành chức trụ-trì, mà một vị tỳ-kheo phải sa vào địa-ngục và sau đó tái-sanh làm ngạ-quỉ, miệng hôi-thối bị dòi bọ cắn xé. Đức Phật khi kể lại sự-tích, khuyên ta phải biết giữ-gìn lời nói, thu-thúc thân-tâm cho ba nghiệp, thân, miệng, ý, được thanh-tịnh.

 

Tích chuyện mang các ý-nghĩa sau đây:

 

1) Nói lời đâm-thọc, phá sự hoà-hợp Tăng, bị sa vào địa-ngục Vô-gián. Trong Kinh, có nói tội ngũ-nghịch phải sa vào điạ-ngục Vô-gián là: (1) giết cha, (2) giết mẹ, (3)giết A-la-hán, (4)phá hoà-hợp Tăng, (5)làm chảy máu Phật. (Ngũ-nghịch = năm điều trái-nghịch)

 

2) Vì miệng nói lời đâm-thọc, nên kiếp nầy miệng ngạ-quỉ hôi-thối, bị dòi bọ cắn-xé. Trong Kinh, kể ra bốn tội-ác do lời nói chẳng ngay-thẳng, chẳng đoan-chánh gây ra: (1) nói dối, sai sự thật; (2) nói khéo, dùng lời ngon-ngọt để xúi-dục, dụ-dỗ; (3) nói lưỡi đôi chiều, nói đâm-thọc để gây chia-rẻ, thù-oán; (4) nói lời vô-nghĩa, ngồi lê đôi mách, kháo nhau chuyện hàng xóm.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 281:

 

Bài Kệ mang hai ý-nghĩa: (1) lời nói phải đứng-đắn; (2) phải giữ ba nghiệp thân, miệng, ý cho thanh-tịnh.

 

1) Hãy thận-trọng giữ-gìn lời nói: đây là lời khuyên dạy ta phải suy-nghĩ cho chín-chắn trước khi mở lời.

 

2) Thu-thúc thân-tâm khỏi điều tà: lời dạy nầy gồm có hai việc:(1) thu-thúc thân, tức là đừng có hành-động sái-quấy; (2) thu-thúc tâm, tức là chẳng có ý-nghĩ xấu-ác.

 

3) Nghiệp thanh-tịnh đủ cả ba: Ba nghiệp nào? Đó là hành-động của thân, lời nói của miệng và ý-tưởng của tâm.

 

4) Thánh-đạo Phật-đà đã dạy, chứng xong: Câu nầy có vẻ khúc-mắc, xin đọc lại cho suông: (...Nếu giữ ba nghiệp thanh-tịnh) thì đã chứng xong được Con đường Thánh-đạo (tức là Bát-Chánh-Đạo) của Đức Phật đã dạy.

The Story of a Swine-Peta

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (281) of this book, with reference to a swine-peta.

Once Thera Maha Moggallana was coming down the Gijjhakuta hill with Thera Lakkhana when he saw a miserable, ever-hungry peta, with the head of a swine and the body of a human being. On seeing the peta, Thera Maha Moggallana smiled but did not say anything. Back at the monastery, Thera Maha Moggallana, in the presence of the Buddha, talked about the swine-peta with its mouth swarming with maggots. The Buddha also said that he himself had seen that very peta soon after his attainment of Buddhahood, but that he did not say anything about it because people might not believe him and thus they would be doing wrong to him. Then the Buddha proceeded to relate the story about the swine-peta.

During the time of Kassapa Buddha, this particular peta was a bhikkhu who often expounded the Dhamma. On one occasion, he came to a monastery where two bhikkhus were staying together. After staying with those two for some time, he found that he was doing quite well because people liked his expositions. Then it occurred to him that it would be even better if he could make the other two bhikkhus leave the place and have the monastery all to himself. Thus, he tried to set one against the other. The two bhikkhus quarrelled and left the monastery in different directions. On account of this evil deed, that bhikkhu was reborn in Avici Niraya and he was serving out the remaining part of his term of suffering as a swine-peta with its mouth swarming with maggots. Then the Buddha exhorted, "A bhikkhu should be calm and well-restrained in thought, word and deed."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 281: One should be careful in speech, be well-restrained in mind, and physically, too, one should do no evil. One should purify these three courses of action and accomplish the practice of the Path of Eight Constituents made known by the Buddhas.

Dhammapada Verse 281
Sukarapeta Vatthu

Vacanurakkhi manasa susamvuto
kayena ca nakusalam kayira
ete tayo kammapathe visodhaye
aradhaye magga' misippaveditam.

Verse 281: One should be careful in speech, be well-restrained in mind, and physically, too, one should do no evil. One should purify these three courses of action and accomplish the practice of the Path of Eight Constituents made known by the Buddhas.


dhp282_B
Verse-Kệ 282

(208).- Tích chuyện Trưởng-lão Phổ-thi-la - Kệ số 282

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Phổ-thi-la.

 

Trưởng-lão Phổ-thi-la là một vị tỳ-kheo lớn tuổi, rất thông-thạo Tam-Tạng Kinh-điển, làm giáo-thọ dạy Chánh-pháp cho chư Tăng. Vì thông-hiểu giáo-pháp nhiều, nên Trưởng-lão mới sanh lòng tự-phụ. Quán-thấy tâm-địa đó của Trưởng-lão Phổ-thi-la, Đức Phật biết ông nầy chẳng siêng-năng thực-tập và chưa đắc được đạo-quả, cũng chưa chứng được bực Thiền nào cả. Ngài dùng phương-tiện, mỗi khi ông Phổ đến đảnh-lễ, Ngài gọi ông Phổ là "vị tỳ-kheo vô-dụng" . Nghe Đức Phật gọi mình như thế, ông Phổ rất hổ-thẹn, nhìn lại bên trong tâm mình, thấy quả thật mình còn chưa tu-tập đúng mức để áp-dụng trên bổn-thân, và sự hiểu-biết giáo-lý của mình quả là vô-dụng.

 

Lặng-lẽ, ông Phổ bỏ ra đi, đến một tu-viện nhỏ, cách chùa Kỳ-viên hơn hai mươi do-tuần, có ba mươi vị tăng tu-tập, để xin vào học Đạo. Trước hết, ông Phổ xin vị sư-trưởng chỉ dạy Thiền cho mình. Vị nầy từ-chối, bảo hãy đến nhờ vị sư-phó. Vị sư-phó cũng chẳng nhận, bảo hãy đến vị thứ ba. Bị đẩy lần-lượt như thế, sau cùng Trưởng-lão phải đến gặp một chú Sa-di bảy tuổi. Vị Sa-di bằng lòng chỉ dạy cách thực-tập Thiền-định cho, nhưng với điều-kiện là ông Phổ phải tuân-theo thật kỹ-lưỡng mọi chỉ-thị. Ông Phổ vâng lời, nỗ-lực quán-chiếu ngày đêm về bản-thể chơn-thật của thân-tâm năm uẩn, ngồi Thiền, đi Kinh-hành rất nhiệt-thành và tinh-tấn. Chẳng bao lâu, Trưởng-lão đắc được định-tâm, lần lượt chứng được bốn bực Thiền. Bấy giờ Đức Phật và chư Tăng đi du-hành đến đó, thấy nỗ-lực tu-tập của Trưởng-lão, Ngài khen-ngợi ông Phổ, khuyên nên cố-gắng mãi lên như thế.

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó mà Trưởng lão Phổ-thi-la chứng được đạo và quả A-la-hán:

 

Thật vậy, thiền-định sanh trí-huệ,

Chẳng hành thiền, trí-huệ mờ phai.

Biết đường hai ngõ, tăng cùng tệ,

Hãy cố sao trí-huệ tăng hoài.

(Kệ số 282.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Phổ-thi-la: tên vị Trưởng-lão nầy, tiếng Pali là Potthila.

 

- Tam-Tạng Kinh-điển: tất cả giáo-pháp của Đức Phật chỉ dạy, đựng chung thành ba giỏ ( Tam-tạng: Tipitaka; Tam = ba; Tạng = cái giỏ đựng kinh-sách), gồm: (1) Luật-tạng (Vinaya Pitaka), nói về giới-luật, (2) Kinh-tạng (Suttanta Pitaka), nói về giáo-lý ghi trong Kinh-Kệ, và (3)Luận-tạng (Abhidhamma Pitaka), nói về các bài luận-giải về giáo-lý.

 

- Giáo-thọ = vị thầy dạy giáo-lý cho các tỳ-kheo.

 

- Tự-phụ: Tự = chính mình; Phụ = cậy giỏi; Người tự-phụ là kẻ cậy mình giỏi, hay khinh kẻ khác chẳng bằng mình.

 

- Tâm-địa: Tâm = lòng; Điạ = đất. Tâm-địa là tâm-trạng, bên trong tấm lòng tốt, xấu như thế nào.

 

- Đạo, Quả: Đạo = đường lối tu-hành; Quả = kết-quả tu-tập thành-công. Thí-dụ: đạo Tu-đà-huờn là những đường-lối tu-tập để diệt thân-kiến, nghi-ngờ và mê-tín dị-đoan; quả tu-đà-huờn là kết-quả chứng được khi bỏ sự chấp thân nầy làm Ta, hết nghi-ngờ về Phật-pháp, bỏ dứt các sự cúng-tế theo tà-giáo. Tiếng Pali: Magga là Đạo; Phala là Quả. Có bốn đạo và bốn quả trong hàng Thanh-văn: Tu-đà-huờn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán.

 

- Bực Thiền: tu thiền lần lượt chứng được bốn cấp: sơ-thiền, nhị-thiền, tam-thiền và tứ-thiền.

 

- Phương-tiện: cách-thức khéo, dùng để đạt mục-đích. Ở đây, Đức Phật dùng phương-tiện nói khích, chê ông Phổ là người vô-dụng, để ông ấy biết hổ-thẹn mà siêng tu-rập, chớ đừng ỷ mình biết nhiều lý-thuyết về giáo-pháp, mà tâm vẫn còn nhiều lậu-hoặc.

 

- Vô-dụng: Vô = chẳng; Dụng = dùng; Vô-dụng = vô-ích, chẳng biết dùng vào việc gì.

 

- Đảnh-lể = đến yết-kiến, lễ-lạy ra mắt.

 

- Do-tuần = đơn-vị đo chiều dài đường-xá, vào khoảng hơn một cây-số, tiếng Pali là yojana.

 

- Sư-trưởng, Sư-phó: Sư = thầy; Trưởng = lớn; Phó = phụ-giúp. Sư-trưởng là vị sư lớn nhứt; Sư-phó là vị sư thứ nhì, phụ-giúp Sư-trưởng.

 

- Sa-di: tiếng Pali là Sàmanera, vị tu hành chưa thọ giới tỳ-kheo.

 

- Chỉ-thị: những điều ra lịnh, chỉ-dạy phải tuân theo.

 

- Định-tâm: Định = ổn-định, yên; Tâm = lòng. Đắc được định-tâm là tâm trở nên an-tịnh, chẳng chạy lang-thang, dừng yên lại một chỗ.

 

- A-la-hán: quả-vị thứ tư, cao nhứt, dẹp hết phiền-não, chứng được vô-sanh ( = chẳng còn bị tái-sanh trong vòng lẩn-quẩn Luân-hồi)

 

- Tăng cùng tệ: Tăng = gia-tăng, thêm lên; Tệ = dở hơn, xấu hơn.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại một vị Trưởng-lão thông Kinh-kệ, làm thầy dạy Giáo-lý cho chư Tăng, nhưng chính mình chưa tu-tập Thiền-định. Thấy vị ấy hay tự-phụ, Đức Phật nói khích, gọi ông ta là tỳ-kheo vô-dụng. Ông Phổ bị chạm tự-ái, hổ-thẹn, biết mình còn kém, đến học Thiền với một chú Sa-di bảy tuổi. Nhờ nỗ-lực hành Thiền, trí-huệ phát-triển nên khi nghe Phật nói bài Kệ số 282, ông Phổ chứng được đạo-quả A-la-hán.

 

Tích chuyện mang hai ý-nghĩa sau đây:

 

1) Biết nhiều về Giáo-lý mà chẳng tập Thiền là còn chưa tu, vì cái biết về lý-thuyết thật là vô-dụng. Phải tu-tập trên bản-thân, mới biết được con đường giác-ngộ và giải-thoát.

 

2) Lời nói khích của Đức Phật, chê ông Phổ là tỳ-kheo vô-dụng, rất có hiệu-quả, khiến ông biết hổ-thẹn, xét lại lòng mình mà gắng công tu-tập. Đó là lối dạy theo phương-tiện, rất khéo, của Phật.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 282:

 

Ý-nghĩa bài Kệ thật rõ-ràng, học lý-thuyết suông chưa đủ, phải thực-hành bằng cách tập Thiền.

 

Thử phân-tách từng câu bài Kệ:

 

1) Thật vậy, thiền-định sanh trí-huệ: đúng theo Tam-học: Giới, Định, Huệ; thiền-định giúp tâm dừng yên, vẹt được các chỗ che-mờ, nhờ đó trí-huệ phát-triển được.

 

2) Chẳng hành thiền, trí-huệ mờ phai: tại sao mờ phai? Vì bị sự ngu-tối che mờ tâm đi, trí-huệ chẳng có dịp nẩy-nở được.

 

3) Biết đường hai ngõ, tăng cùng tệ: biết rõ hai ngả đường, tốt và xấu, Thiền-định là đường làm cho Trí-huệ phát-sanh lên;

 

4) Phải cố sao (cho) trí-huệ tăng hoài: Trí-huệ càng tăng, càng chóng đến ngày giác-ngộ và giải-thoát.

The Story of Thera Potthila

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (282) of this book, with reference to Thera Potthila.

Potthila was a senior bhikkhu who knew the Pitaka well and was actually teaching the Dhamma to five hundred bhikkhus. Because he knew the Pitaka, he was also very conceited. The Buddha knew his weakness and wanted him to mend his ways and put him on the right path. So, whenever Potthila came to pay obeisance, the Buddha would address him as 'Useless Potthila'. When Potthila heard these remarks, he pondered over those words of the Buddha and came to realize that the Buddha had made those unkind remarks because he, Potthila, had not made any serious effort to practise meditation and had not achieved any of the Maggas or even any level of mental absorption (jhana).


Thus, without telling anyone Thera Potthila left for a monastery at a place twenty yojanas away from the Jetavana monastery. At that monastery there were thirty bhikkhus. First, he went to the most senior bhikkhu and humbly requested him to be his mentor; but the thera, wishing to humble him, asked him to go to the next senior bhikkhu, who in his turn sent him on to the next. In this way, he was sent from one to the other until he came to a seven year old arahat samanera. The young samanera accepted him as a pupil only after ascertaining that Potthila would obediently follow his instructions. As instructed by the samanera, Thera Potthila kept his mind firmly fixed on the true nature of the body; he was very ardent and vigilant in his meditation.


The Buddha saw Potthila in his vision and through supernormal power made Potthila feel his presence and encouraged him to be steadfast and ardent.

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 282: Indeed, wisdom is born of meditation; without meditation wisdom is lost. Knowing this twofold path of gain and loss of wisdom, one should conduct oneself so that wisdom may increase.


At the end of the discourse Potthila attained arahatship.

Dhammapada Verse 282
Potthilatthera Vatthu

Yoga ve jayati bhuri
ayoga bhurisankhayo
etam dvedhapatham natva
bhavaya vibhavaya ca
tatha ttanam niveseyya
yatha bhuri pavaddhati.

Verse 282: Indeed, wisdom is born of meditation; without meditation wisdom is lost. Knowing this twofold path of gain and loss of wisdom, one should conduct oneself so that wisdom may increase.


dhp283_B
dhp284_B
Verse-Kệ 283-284

(209).- Tích chuyện năm vị tỳ-kheo già - Kệ số 283 và 284

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến năm vị tỳ-kheo già.

 

Thuở ấy, ở nước Xá-vệ, có năm người bạn thân nhau, đã lớn tuổi rồi mới đi tu. Hằng ngày, họ thường mang bình-bát, trở về nhà cũ để khất-thực. Trong các người vợ của năm vị nầy, có một bà tên là Mã-thu, nấu-nướng rất khéo-léo, nên thực-phẩm cúng-dường cho các vị tỳ-kheo lớn tuổi rất là ngon-lành; vì thế, các vị ấy thường đến nhà bà để khất-thực. Chẳng may, một hôm bà Mã-thu ngoạ-bịnh rồi từ-trần một cách đột-ngột. Năm vị tỳ-kheo thương nhớ, lòng rất sầu-thảm, thường hay than-vãn.

 

Đức Phật được biết việc đau buồn đó, mới cho gọi các vị tỳ-kheo ấy đến và dạy rằng: "Nầy chư tỳ-kheo, các ông đau buồn, thương nhớ người đàn-bà bất-hạnh đó, chẳng qua là trong lòng các ông còn tham-luyến thức ăn ngon-ngọt, lại thêm sự si-mê chẳng biết được lẽ vô-thường, rồi sanh ra buồn-khổ. Đấy cũng như đang sống trong một khu rừng u-tối; phải nên đốn sạch khu rừng ấy đi, để được giải-thoát khỏi sự tham-luyến, sự sân-hận, sự si-mê."

 

Rồi Đức Phật nói lên hai bài Kệ sau đây, nhờ đó năm vị tỳ-kheo lớn tuổi chứng được quả-vị Tu-đà-huờn:

 

Đốn rừng "dục-vọng", chớ đốn cây,

Vì cảnh rừng nầy gây sợ-hãi.

Lại đốn cả lùm non "khát-ái",

Tỳ-kheo, rừng "ái" thoát ra ngày.

(Kệ số 283.)

 

Chừng nào chưa đốn tiệt xong

Lùm cây ‘luyến-ái" trong lòng nữ-nam,

Chừng ấy, vẫn còn tâm ràng-buộc,

Như bê theo bú vú mẹ bò.

(Kệ số 284.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Bình-bát: cái chén lớn, như cái nồi nhỏ, đựng thức ăn xin được.

 

- Khất-thực: đi xin ăn. Tỳ-kheo còn gọi là khất-sĩ ( = Bhikkhu).

 

- Mã-thu: tên bà nầy, tiếng Pali là Madhurapàcikà.

 

- Ngoạ-bịnh: Ngoạ = nằm; Ngoạ-bịnh là ngã bịnh, bị đau nặng.

 

- Từ-trần: Từ = từ-giả; Trần = trần-thế, cõi đời. Từ-trần là chết đi.

 

- Đột-ngột = bất ngờ, thình-lình chẳng biết trước được.

 

- Bất-hạnh: Bất = chẳng; Hạnh = may mắn; Bất-hạnh là chẳng may

 

- Tham-luyến: Tham = ham quá chừng; Luyến = luyến-ái, mê-đắm. Tham-luyến là ham-muốn quá nên chẳng rời ra được, mà bị ràng buộc

 

- Vô-thường: Vô = chẳng; Thường = còn hoài; Lẽ vô-thường có nghĩa là muôn sự-vật đều bị biến-đổi rồi tiêu-diêt đi. Ở đây, chữ vô-thường có nghĩa là sự chết.

 

-Sân-hận: Sân = giận; Hận = hờn, thù.

 

- Dục-vọng: Dục = ham-nuốn; Vọng = mong-cầu.

 

- Lùm non: bụi cây nhỏ.

 

- Khát-ái: Khát = thèm-khát; Ái = thương, thích. Đây là tình-cảm ràng-buộc khiến ta bấu-víu mãi vào sự-vật ta thích. Khát-ái chính là nguyên-nhơn của Khổ: trong Tứ-Diệu-Đế đó là Tập-đế.

 

- Lòng nữ-nam: Nữ = đàn-bà; Nam = đàn-ông; Đây nói về sự thương nhau giữa hai phái nam và nữ.

 

- Bê = con bò-con.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là đừng vì luyến-ái mà bị ràng-buộc. Đức Phật ví sự khát-ái như khu rừng u-tối, phải dẹp cho sạch hết, mới hết bị ràng-buộc mà được giác-ngộ và giải-thoát.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 283 và 284:

 

Hai bài Kệ cùng có ý-nghĩa là phải dứt bỏ dục-vọng và khát-ái . Đức Phật dạy phải đốn rừng, là dẹp bỏ sự luyến-ái như khu rừng u-tối, nhưng ngại các tỳ-kheo hiểu-lầm, nên Ngài nói rõ thêm: chớ đốn cây. Tình thương là điều tốt, nhưng nếu thương quá, sanh ra tríu-mến, bị ràng-buộc, nên Ngài dạy phải đốn cho tiệt sự luyến-ái giữa trai gái.

The Story of Five Old Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (283) and (284) of this book, with reference to five old bhikkhus.

Once, in Savatthi, there were five friends who became bhikkhus only in their old age. These five bhikkhus were in the habit of going together to their old homes for alms-food. Of the former wives of those five, one lady in particular, by the name of Madhurapacika was a good cook and she looked after them very well. Thus, the five bhikkhus went mostly to her house. But one day, Madhurapacika fell ill and died suddenly. The old bhikkhus felt their loss very deeply and together they cried praising her virtues and lamenting their loss.

The Buddha called those bhikkhus to him and said, "Bhikkhus! You all are feeling pain and sorrow because you are not free from greed, hatred, and ignorance (raga, dosa, moha), which are like a forest. Cut down this forest and you will be freed from greed, hatred and ignorance."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 283: O bhikkhus, cut down the forest of craving, not the real tree; the forest of craving breeds danger (of rebirth). Cut down the forest of craving as well as its undergrowth and be free from craving.

 

Verse 284: So long as craving of man for woman is not cut down and the slightest trace of it remains, so long is his mind in bondage as the calf is bound to its mother.


At the end of the discourse the five old bhikkhus attained Sotapatti Fruition.

Dhammapada Verses 283 and 284
Pancamahallakabhikkhu Vatthu

Vanam chindatha ma rukkham
vanato jayate bhayam
chetva vananca vanathanca
nibbana hotha bhikkhavo.

Yava hi vanatho na chijjati
anumattopi narassa narisu
patibaddhamanova tava so
vaccho khirapakova matari.

Verse 283: O bhikkhus, cut down the forest of craving, not the real tree; the forest of craving breeds danger (of rebirth). Cut down the forest of craving as well as its undergrowth and be free from craving.

Verse 284: So long as craving of man for woman is not cut down and the slightest trace of it remains, so long is his mind in bondage as the calf is bound to its mother.


dhp285_B
Verse-Kệ 285

(210).- Tích chuyện con của người thợ bạc - Kệ số 285

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị Trưởng-lão, vốn là con của một người thợ bạc.

 

Thuở ấy, có một chàng thanh-niên khá đẹp trai, con của một người thợ bạc, được Tôn-giả Xá-lợi-phất nhận làm đệ-tử. Tôn-giả đem đề-tài thiền-quán về thân-tâm năm uẩn nầy đáng gớm-ghiếc ra chỉ dạy cho chàng trai. Chàng thanh-niên liền theo lời thầy dạy, đi vào rừng vắng, ngồi thiền và quán-chiếu; sau một tuần-lễ chẳng thấy có kết-quả, chàng trở về thưa lại với thầy. Tôn-giả Xá-;lợi-phất mới dẫn chàng ta đến yết-kiến Đức Phật.

 

Đức Phật nghe nói chàng ta là con của một người thợ bạc, liền đổi đề-tài thiền-quán, thay vì quán-chiếu về tấm thân gớm-ghiếc, Ngài đưa ra một cành sen có bông-hoa to lớn, sắc rất đẹp mà hương cũng rất thơm. Ngài bảo đem cắm vào nơi vắng-vẻ và vừa nhìn hoa vừa quán-chiếu. Chàng thanh-niên vâng lời, đem cành sen ra sau vườn, cắm xuống đất cát, rồi ngồi tĩnh-toạ, ngắm vẻ đẹp của hoa sen. Từ trong tâm chàng khởi lên một niềm phỉ-lạc sâu-xa, tồi tuần-tự từng bước một, tâm-trí chàng tiến lên các bực thiền-định.

 

Từ nơi hương-phòng, Đức Phật quán-thấy sự tiến-bộ của chàng trai, Ngài liền dùng sức thần-thông, biến cành hoa sen đang tươi nõn, bỗng từ tư héo dần, hương phấn bay lả-tả. Tâm-trí chàng trai vụt ngộ được lẽ vô-thường, muôn sự-vật rồi cũng chóng tàn-phai và huỷ-diệt. Sau đó, chàng trai trở vào yết-kiến Đức Phật và được Phật nói cho nghe bài Kệ sau đây, nhờ đó, chàng chứng được quả-vị A-la-hán:

 

Hãy tự mình cắt dây tham-ái,

Như tay người bẻ hái sen thu.

Đường Niết-Bàn tịch-tĩnh siêng tu,

Như bực Thiện-thệ từng chỉ dạy.

(Kệ số 285.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tôn-giả Xa-lợi-phất: vị đại-đệ-tử của Đức Phật Thích-ca, nổi tiếng là thông-minh bực nhứt; tên tiếng Pali là Sàriputta.

 

- Đệ-tử: Đệ = em; Tử = con; Đệ-tử có nghĩa là học-trò học Đạo.

 

- Đề-tài Thiền-quán: Xin nhắc lại: đó là một đề-mục dùng để suy-nghĩ sâu-xa khi ngồi Thiền, để tâm được an-định.

 

- Thân-tâm năm uẩn đáng gớm-ghiếc: vì tấm thân nầy bên trong chứa nhiều chất dơ, sẽ sình-thối lên khi tan-rả, nên đáng gớm-ghiếc.

 

- Yết-kiến = ra mắt bực trưởng-thượng, để được chỉ-dạy.

 

- Tĩnh-toạ: Tĩnh =yên-tịnh; Toạ = ngồi. Tĩnh-toạ là ngồi yên.

 

- Phỉ-lạc = Phỉ =Lạc = vui. Phỉ-lạc là niềm vui về tinh-thần, tâm nhẹ lâng-lâng; đối nghĩa với chữ dục-lạc, sự sung-sướng về vật-chất.

 

- Các bực Thiền-định: khi ngồi Thiền chứng được định-tâm, lần lượt vượt qua các bực Thiền thứ nhứt, thứ hai, thứ ba và thứ tư

 

- Hương-phòng: căn phòng có hương thơm, dành riêng cho Đức Phật; tiếng Pali là Gandhakuti.

 

- Ngộ = hiểu rõ một cách sâu-xa, hiểu thẳng chẳng do lý-luận.

 

- Vô-thường = sự biến-đổi, chẳng thường-hằng; Pali = Anicca.

 

- Cắt dây Tham-ái: dứt bỏ sự tham-luyến, khát-ái.

 

- Niết-Bàn = cảnh-giới tịch-tĩnh, yên-vui và tự-tại; Pali = Nibbana

 

- Thiện-thệ: tức là Đức Phật. Thiện-thệ là một trong mười danh-hiệu của Đức Phật; thiện là khéo; thệ là đi qua cầu; Pali là Sugata.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện cho thấy sự hơn-kém giữa Tôn-giả Xá-lợi-phất và Đức Phật về việc dạy đệ-tử. Đề-tài bông sen của Đức Phật hợp với căn-cơ của chàng thanh-niên trẻ đẹp hơn là đề-tài thân bất-tịnh. Tại sao? Vì chàng vốn con nhà thợ bạc, thường hay xem các vật đẹp-đẽ. Nhờ hợp với căn-cơ, chàng trai thực-hành Thiền-quán và ngộ được lý Vô-thường của muôn pháp ( =muôn sự-vật) trong thời-gian ngắn.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 285:

 

Ý-nghĩa bài Kệ rất rõ-ràng: hãy cắt đứt dây tham-ái và siêng tu con đường tịch-tĩnh của Niết-Bàn.

The Story of a Thera who had been a Goldsmith

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (285) of this book, with reference to a bhikkhu, a pupil of Thera Sariputta.

Once, a young, handsome son of a goldsmith was admitted into the Order by Thera Sariputta. The young bhikkhu was given loathsomeness of the dead body as the subject of meditation by Thera Sariputta. After taking the subject of meditation he left for the forest and practised meditation there; but he made very little progress. So he returned twice to Thera Sariputta for further instructions. Still, he made no progress. So Thera Sariputta took the young bhikkhu to the Buddha, and related everything about the young bhikkhu.

The Buddha knew that the young bhikkhu was the son of a goldsmith, and also that he had been born in the family of goldsmiths during his past five hundred existences. Therefore the Buddha changed the subject of meditation for the young bhikkhu; instead of loathsomeness, he was instructed to meditate on pleasantness. With his supernormal power, the Buddha created a beautiful lotus flower as big as a cart-wheel and told the young bhikkhu to stick it on the mound of sand just outside the monastery. The young bhikkhu, concentrating on the big, beautiful, fragrant lotus flower, was able to get rid of the hindrances. He was filled with delightful satisfaction (piti), and step by step he progressed until he reached as far as the fourth level of mental absorption (jhana).

The Buddha saw him from his perfumed chamber and with his supernormal power made the flower wither instantly. Seeing the flower wither and change its colour, the bhikkhu perceived the impermanent nature of the flower and of all other things and beings. That led to the realization of the impermanence, unsatisfactoriness and the insubstantiality of all conditioned things. At that instant, the Buddha sent forth his radiance and appeared as if in person to the young bhikkhu and instructed him to get rid of craving (tanha).

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 285: Cut off your craving as one plucks an autumn lily with the hand. Nibbana has been expounded on by the Buddha; cultivate that Path which leads to it.


At the end of the discourse the young bhikkhu attained arahatship.

Dhammapada Verse 285
Suvannakaratthera Vatthu

Ucchinda sinehamattano
kumudam saradikamva panina
santimaggameva
1 bruhaya
Nibbanam sugatena desitam.

Verse 285: Cut off your craving as one plucks an autumn lily with the hand. Nibbana has been expounded on by the Buddha; cultivate that Path which leads to it.


1. santimaggam: the Path that leads to Nibbana, i.e. the Path with Eight Constituents.


dhp286_B
Verse-Kệ 286

(211).- Tích chuyện vị thương-gia Đại-Nghiệp - Kệ số 286

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến thương-gia tên Đại-Nghiệp.

 

Thuở ấy, có một thương-gia tên là Đại-Nghiệp rất giàu-có, đem cả trăm xe bò chở hàng-hoá từ thành Ba-la-nại đến nước Xá-vệ để bán và đồng thời để dự một cuộc hội-hè vui chơi lớn. Đến bờ sông gần thành Xá-vệ, bị nước lũ tràn cả hai bên đường, cả đoàn xe phải dừng lại, chờ ngày nước rút. Sau cả tuần-lễ, mưa dầm, nước lại dâng to lên, trễ kỳ đại-hội, nên ông Đại-Nghiệp định lưu lại đó, chờ bán hết hàng-hoá sẽ trở về xứ. Ông nói, ta cứ ở đây hết mùa hè, sang mùa thu, qua mùa đông rồi khi trời ấm-áp, đến mùa xuân ta sẽ trở về xứ. Bấy giờ, Đức Phật cùng chư Tăng đi khất-thực ngang qua đó, nghe ông Đại-Nghiệp nói, Ngài mỉm cười. Tôn-giả A-nan chẳng hiểu lý-do vì sao Ngài lại mỉm cười mới thưa cùng Đức Phật. Đức Phật bảo: "Nầy A-nan, ông có nghe thấy vị thương-gia đó không? Ông ấy bảo, cứ ở đây hết mùa hè, mùa thu, mùa đông, mà chẳng biết mình sắp chết trong bảy ngày nữa. Những gì cần làm ngay bây giờ, thì phải làm ngay đi; Thần Chết đến, đâu có hẹn ngày giờ trước. Người biết tỉnh-giác, dẹp bỏ mọi lậu-hoặc, tinh-tấn tu-hành dõng-mãnh, thì dầu chỉ sống thêm một ngày hay một đêm, cũng còn hơn kẻ phóng-dật."

 

Tôn-giả A-nan thương-tình, đến báo cho thương-gia Đại-nghiệp biết ông ta sắp chết. Đại-Nghiệp nghe qua hoảng-hốt, nghĩ mình chưa làm được điều gì có công-đức, mới thỉnh Đức Phật và chư Tăng đến cúng-dường, trai-tăng trong bảy ngày. Đến hôm chót, sau khi nghe Đức Phật giảng-pháp và hồi-hướng công-đức, ông Đại-Nghiệp tiễn chơn Đức Phật và chư Tăng một đỗi đường. Khi quay trở về, ông bị nhức đầu như búa bổ, vài giờ sau thì chết.

 

Trên đường về chùa, Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

‘’Mùa mưa, ta sống ở đây,

Mùa đông, mùa hạ, cũng ngay nơi nầy".

Người ngu cứ tưởng là như vậy,

Đâu ngờ nguy-hiểm "chết" chờ đây.

(Kệ số 286.)

 

TÌM HIỂU:

 

- A.- Nghĩa Chữ:

 

- Đại-Nghiệp = sự-nghiệp lớn, có tiền-bạc, tài-sản nhiều; dịch chữ Pali là Mahadhana.

 

- Thương-gia = người buôn-bán.

 

- Ba-la-nại: tên thành-phố lớn của Ấn-độ (Bénarès, nay là Vàrànasi)

 

- Nước lũ: nước lụt, ngập cả khắp nơi.

 

- Tỉnh-giác: Tỉnh = chẳng mê; Giác = biết. Người tỉnh-giác tâm luôn chú-ý, khi nói, làm hay nghĩ điều gì, thì biết rõ mình đang nói, làm, nghĩ về điều đó và chỉ điều đó mà thôi, chẳng lo ra.

 

- Lậu-hoặc: xin nhắc lại, đó là các phiền-não như tham, giận, si-mê, nổi lên trong tâm rồi lộ ra bằng lời nói thô-ác hay hành-động xấu.

 

- Tu-hành tinh-tấn: tu-hành siêng-năng, có sự tấn-bộ.

 

- Dõng-mãnh: Dõng =Mãnh = mạnh-mẽ.

 

- Phóng-dật = buông-lung, chẳng biết tự-kềm-chế, lười-nhác.

 

- Trai-tăng: Trai = bữa ăn chay; Tăng = tu-sĩ Phật-giáo. Trai-tăng là tiếng nhà chùa, nói đến việc dưng-cúng thức-ăn, quần-áo cho tỳ-kheo.

 

- Hồi-hướng: Hồi = quay về; Hướng = nhìn thẳng về phiá đó; Hồi-hướng = nguyện công-đức tu-hành của mình sẽ đem lại phước-báo cho người mình đang hướng về, đang nghĩ đến.

 

- Công-đức = việc lành, đem lại phước-báo tốt về sau.

 

- Nguy-hiểm "Chết" = mối hiểm-nguy đang rình tất cả mọi người, chẳng sót một ai, đó là sự Chết.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc một thương-gia muốn lưu lại một nơi thật lâu, chẳng biết mình sắp chết, được Đức Phật cho biết, mới tạo công-đức cúng-dường chư Tăng. Ý-nghĩa của Tích chuyện là: Vì Vô-thường là sự Chết đang rình chờ mọi người, chẳng biết lúc nào sẽ đến, nên ngay bây giờ, ta phải lo tu-tập để sớm được giác-ngộ và giải-thoát.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 286:

 

Ý-nghĩa bài Kệ rất rõ-ràng: mọi người, bất luận là ai, cũng đều sắp chết cả, vậy phải lo tu-hành, tạo phước ngay bây giờ đi; đừng chần-chờ rồi sẽ hối-tiếc chẳng kịp nữa.

The Story of Mahadhana, a Merchant

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (286) of this book, with reference to Mahadhana, a merchant from Baranasi.

Once, a merchant from Baranasi came to a festival in Savatthi with five hundred carts fully loaded with textiles and other merchandise. When he reached a river bank near Savatthi the river was in spate; so he could not cross the river. He was held up for seven days as it was raining hard and the water did not subside. By that time, he was already late for the festival, and there was no need for him to cross the river.

Since he had come from a long distance he did not want to return home with his full load of merchandise. So he decided to spend the rainy season, the cold season and the hot season in that place and said so to his assistants. The Buddha while going on an alms-round knew the decision of the merchant and he smiled. Ananda asked the Buddha why he smiled and the Buddha replied, "Ananda, do you see that merchant? He is thinking that he would stay here and sell his goods the whole year. He is not aware that he would die here in seven days' time. What should be done should be done today. Who would know that one would die tomorrow? We have no date fixed with the King of Death. For one who is mindful by day or by night, who is not disturbed by moral defilements and is energetic, to live for just one night is a well-spent life."

Then the Buddha sent Ananda to Mahadhana, the merchant. Ananda explained to Mahadhana that time was running out for him, and that he should practise mindfulness instead of being negligent. On learning about his impending death, Mahadhana was alarmed and frightened. So, for seven days, he invited the Buddha and other bhikkhus for alms-food. On the seventh day, the Buddha expounded a discourse in appreciation (anumodana).

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 286: "Here will I live in the rainy season; here will I live in the cold season and the hot season", so imagines the fool, not realizing the danger (of approaching death).


At the end of the discourse Mahadhana the merchant attained Sotapatti Fruition. He followed the Buddha for some distance and returned. On his return, he had a severe headache and passed away soon after. Mahadhana was reborn in the Tusita deva world.

Dhammapada Verse 286
Mahadhanavanija Vatthu

Idha vassam vasissami
idha hemantagimhisu
iti balo vicinteti
antarayam na bujjhati.

Verse 286: "Here will I live in the rainy season; here will I live in the cold season and the hot season", so imagines the fool, not realizing the danger (of approaching death).


dhp287_B
Verse-Kệ 287

(212).- Tích chuyện bà Kỷ-sa-cơ - Kệ số 287

 

Tích chuyện nầy giống với Tích chuyện số (93), trang 299.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến bà Kỷ-sa-cơ có con bị chết.

 

Thuở ấy, bà Kỷ-sa-cơ rất đau-buồn vì đứa con trai vừa bị chết, đến xin Đức Phật cho thuốc cứu sống. Đức Phật bảo, hãy tìm một mớ hột cải ở gia-đình nào chẳng hề có người chết, đem về Đức Phật sẽ cho thuốc. Hột cải thì có, mà gia-đình chẳng người chết thì không. Khi trở lại gặp Đức Phật, bà Kỷ-sa-cơ được Phật dạy rằng: "Nầy Kỷ-sa-cơ, bà cứ tưởng chỉ có bà mới mất một đứa con thôi hay sao. Thần Chết đến mọi nhà, chẳng chừa ai, lôi họ đi ngay, trước khi đạt được một sở-nguyện nào."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Kẻ nào tâm-ý đắm-say

Cả đàn gia-súc, cả bầy cháu con.

Thần Chết bắt người còn mê đó,

Như làng đang ngủ, có lụt to.

(Kệ số 287.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Kỷ-sa-cơ: tên ngươi nầy, tiếng Pali là Kisàgotamì.

 

- Sở-nguyện: Sở = chỗ; Nguyện = điều mong-muốn. Sở-nguyện là điều ao-ước muốn có được.

 

- Gia-súc: Gia = nhà, Súc = thú-vật. Gia-súc là thú-vật nuôi trong nhà, như heo gà, vịt, trâu, bò.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Xin xem lại Tích chuyện đầy-đủ cùng Ý-nghĩa ở bài số (93), nơi các trang từ 299 đến 301 của Tập 2.

 

(2) Ý-nghĩa của bài kệ số 287:

 

Bài Kệ mang ý-nghĩa nầy: người còn đang say-đắm, mê-luyến về tài-sản, về con cháu, sẽ bị Thần Chết đến dẫn đi một cách bất-ngờ, cũng như dân-chúng trong làng đang ngủ say, bị cơn lụt to nửa đêm thình-lình cuốn trôi ra biển. Kết-luận: nên sớm chấm-dứt tham-luyến.

The Story of Kisagotami*

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (287) of this book, with reference to Kisagotami, the daughter of a rich man from Savatthi.

Kisagotami came to the Buddha as she was stricken with grief due to the death of her only son. To her the Buddha said, "Kisagotami, you think you are the only one who has lost a son. Death comes to all beings; before their desires are satiated Death takes them away."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 287: The man who dotes on his children and his herds of cattle, whose mind longs for and is attached to sensual pleasures, is carried away by Death even as a sleeping village is swept away by a great flood.


At the end of the discourse Kisagotami attained Sotapatti Fruition.

* This story has been given in Verse 114, Chapter VIII - Story No. 13.

Dhammapada Verse 287
Kisagotami Vatthu

Tam puttapasusammattam
byasattamanasam naram
suttam gamam mahoghova
maccu adaya gacchati.

Verse 287: The man who dotes on his children and his herds of cattle, whose mind longs for and is attached to sensual pleasures, is carried away by Death even as a sleeping village is swept away by a great flood.


dhp288_B
dhp289_B
Verse-Kệ 288-289

(213).- Tích chuyện bà Phả-tha-ca - Kệ số 288 và 289

 

Tích chuyện nầy giống với Tích chuyện số (92).

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến bà Phả-tha-ca.

 

Chỉ trong một buổi sáng, bà Phả-tha-ca bị mất cả chồng, lẫn hai con. Rồi lại hay tin cha, mẹ, anh chị em cũng đều chết hết, bà hoá ra mất trí. Đến khi gặp Đức Phật, bà tỉnh lại và được nghe Ngài dạy rằng: "Nầy Phả-tha-ca, trước cái chết, con-cái, cha mẹ, họ-hàng, thân-hữu cũng chẳng thể làm gì để giúp đỡ được. Người hiền-trí, ngay khi còn khoẻ-mạnh, biết giữ-gìn giới-luật, và dọn-dẹp cho thật sạch-sẽ các chướng-ngại trên con đường đưa tới Niết-Bàn."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Một khi Thần Chết bắt mang đi,

Con cái, mẹ cha giúp được gì?

Cả trong vòng bà con, thân-hữu,

Ai là người bảo-bọc, hộ-trì?

(Kệ số 288.)

 

Người hiền-trí biết rành như thế,

Giới-luật giữ-gìn thật nghiêm-minh,

Mau khai quang chướng-ngại sạch-sẽ,

Dẫn đường tới Niết-Bàn vô-sanh.

(Kệ số 289.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Phả-tha-ca: tên người nầy, tiếng Pali là Patàcàrà.

 

- Thân-hữu = bạn-bè.

 

- Hiền-trí: Hiền = hiền-lành; Trí = trí-huệ. Danh-từ Hiền-trí trong Phật-học chỉ vào người thông-hiểu Chánh-pháp, dạy lại cho kẻ khác; còn được gọi là bực Thiện-tri-thức.

 

- Giới-luật: các điều răn-cấm trong Đạo.

 

- Chướng-ngại = cản-trở. Các chướng-ngại làm cản-trở con đường đưa đến Niết-Bàn? Đó là mối độc to lớn: tham, sân, si. Cũng có thể nói đó là tam chướng, gồm có: (1) phiền-não-chướng ( =phiền-não như tham, sân, si, mạn, nghi, v.v.); (2) sở-tri-chướng ( = các sự hiểu-biết sai-lầm); (3) báo-chướng (chướng-ngại do tấm thân năm uẩn còn chịu nghiệp-báo).

 

- Hộ-trì: Hộ = bảo-hộ, bao-bọc; Trì = giữ-gìn. Hộ-trì là giúp-đỡ.

 

- Khai-quang = dọn dẹp cho trống-trải.

 

- Niết-bàn: cảnh-giới an-vui, tịch-tĩnh, tự-tại của người đã dứt trừ phiền-não và chứng được Vô-sanh. Theo giáo-lý Nam-tông, có hai thứ Niết-Bàn: (1) Hữu-dư Niết-Bàn, người chứng được còn chịu nốt nghiệp-báo của tấm thân năm uẩn (Tiếng Pali là Sopàdisesa Nibbàna Dhàtu); (2)Vô-dư Niết-Bàn, người chứng được vô-sanh, đã trút bỏ tấm thân năm uẩn, tự-tại trong tịch-diệt. (Tiếng Pali là Anupadisesa Nibbàna Dhàtu).

 

- Vô-sanh: Vô = chẳng; Sanh = sanh trở lại cõi Luân-hồi. Chứng được Vô-sanh là thoát khỏi vòng tái-sanh lẩn-quẩn của Luân-hồi lận-đận, được tự-tại trong cảnh an-lạc và vắng-vẻ.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Xin xem lại Tích chuyện đầy-đủ cùng Ý-nghĩa ở bài số (92), nơi các trang 294 đến 298), Tập 2.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 288 và 289:

 

Ý-nghĩa của bài Kệ số 288: đến khi gần chết, chẳng có ai giúp-đỡ mình khỏi chết cả, dầu đó là con cái, cha mẹ, anh chị em, họ-hàng hay bạn-bè. Tại sao? Vì chẳng ai đã sanh ra mà lại khỏi chết cả; có sanh tất phải có chết.

 

Bài Kệ số 289 khuyên ta hai điều: (1) giữ giới-luật cho thật nghiêm-minh, để thanh-lọc thân-tâm, sống trong giới-đức vẹn-toàn; (2) dọn-dẹp thật sạch-sẽ các chướng-ngại, trên con đường đưa tới cảnh Niết-Bàn. Ba món độc lớn tham, sân, si là các chướng-ngại lớn nhứt.

 

Người chứng vô-sanh, hết bị tái-sanh, làm sao mà chết nữa được?

The Story of Patacara*

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (288) and (289) of this book, with reference to Patacara, the daughter of a rich man from Savatthi.

As Patacara had lost her husband and her two sons, as well as her parents and three brothers almost at the same time, she was driven to near insanity. When she approached the Buddha, he said to her, "Patacara, sons and daughters cannot look after you; so even if they are alive they do not exist for you. The wise man observes morality (sila) and clears (the obstacles to) the Path leading to Nibbana."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 288: Not sons, nor parents, nor close relatives can protect one assailed by Death; indeed, neither kith nor kin can give protection.

 

Verse 289: Knowing this, the wise man restrained by morality should quickly clear (the obstacles to) the Path leading to Nibbana.


At the end of the discourse Patacara attained Sotapatti Fruition.

* This story has been given in Verse 113, Chapter VIII - Story No. 12.

Dhammapada Verses 288 and 289
Patacara Vatthu

Na santi putta tanaya
na pita napi bandhava
antakena' dhipannassa
natthi natisu tanata.

Etamatthavasam natva
pandito silasamvuto
nibbanagamanam maggam
khippameva visodhaye.

Verse 288: Not sons, nor parents, nor close relatives can protect one assailed by Death; indeed, neither kith nor kin can give protection.

Verse 289: Knowing this, the wise man restrained by morality should quickly clear (the obstacles to) the Path leading to Nibbana.

End of Chapter Twenty: The Path

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Sáu 20199:53 CH(Xem: 84)
Trời mang sức mạnh núi này, Mang hùng vĩ của thân cây trên đồi, Hè mang hơi ấm mặt trời, Và bình lặng của biển khơi khắp miền, Mang hồn quảng đại thiên nhiên, Vòng tay an lạc của đêm lặng lờ, Mang thông thái của tuổi già, Tiềm năng chim phượng bay xa vô ngần,
04 Tháng Sáu 201911:04 SA(Xem: 113)
1. Quy tắc đầu tiên: "Bất cứ người nào bạn gặp cũng đúng là người mà bạn cần gặp cả." Điều này có nghĩa rằng không ai xuất hiện trong cuộc đời chúng ta một cách tình cờ cả. Mỗi người xung quanh chúng ta, bất cứ ai chúng ta giao lưu, đều đại diện cho một điều gì đó, có thể là để dạy chúng ta điều gì đó hoặc giúp chúng ta cải thiện tình hình hiện tại.
03 Tháng Sáu 201911:47 SA(Xem: 120)
Trong một lần bình luận của mình, Glenn Beck đã từng nói rằng: Một người bình thường muốn chứng minh bản thân bình thường là điều hết sức khó khăn. Có lẽ chỉ có người không muốn chứng minh điều gì hết, mới có thể được gọi là một người bình thường. Về sau, rất nhiều người đã để lại lời bình luận của riêng họ
02 Tháng Sáu 20199:08 CH(Xem: 142)
Phóng viên nổi tiếng Sydney Harries và một người bạn dừng chân mua báo ở một quầy bán báo, người bạn mua xong rất lịch sự nói lời "Cám ơn!" nhưng người chủ quầy báo thì ngược lại, mặt lạnh như tiền, một tiếng cũng không thèm mở miệng. Hai người rời quầy báo tiếp tục đi về phía trước, Sydney Harries hỏi:
23 Tháng Năm 20199:43 SA(Xem: 212)
Tiền kiếp – có hay không? Miêu tả 2500 trường hợp trẻ em thuộc dữ liệu của trường Đại học Virginia (Hoa Kỳ) được các nhà nghiên cứu tìm hiểu cẩn thận kể từ khi bác sĩ Ian Stevenson nghiên cứu trường hợp đầu tiên cách đây 40 năm. Những đứa trẻ này thường bắt đầu kể về kiếp trước ở độ tuổi hai hoặc ba và có thể nói về gia đình lúc trước
21 Tháng Năm 20196:01 CH(Xem: 200)
Đây là cuốn sách thứ ba, trong loạt sách kể về những câu chuyện của các bệnh nhân của tôi. Tuy nhiên câu chuyện trong sách này có tính hấp dẫn nhất từ trước đến nay mà tôi đã được chứng kiến. Họ là một đôi bạn tri kỷ, mãi mãi gắn chặt vào nhau bằng tình yêu qua hết kiếp này sang kiếp khác. Làm thế nào mà chúng ta có thể tìm gặp
20 Tháng Năm 20199:06 CH(Xem: 201)
Thời đại ngày nay là thời đại khoa học, nhưng có thể nói chính xác hơn là thời đại khoa học vật chất, còn khoa học tinh thần thì có lẽ mới chỉ là những bước đi chập chững. Từ thượng cổ người ta đã suy nghĩ và tìm hiểu xem có tiền kiếp và luân hồi không, nhưng cho tới nay hầu như chưa có câu trả lời "khoa học". Những ý niệm, khái niệm,
11 Tháng Năm 201910:49 CH(Xem: 202)
Một chàng trai đến tìm nhà sư, anh nói: - Thưa thầy con muốn buông vài thứ nhưng con do dự quá, con mệt mỏi vô cùng. Nhà sư đưa anh ta 1 cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng vừa mới pha xong. Chàng trai nóng quá nhưng anh vẫn không buông tay mà chuyển từ tay này sang tay kia cho đến khi nguội đi
19 Tháng Tư 201912:04 CH(Xem: 282)
Nói dối là một phần được chấp nhận trong cuộc sống, từ việc chúng ta tự động trả lời 'Tốt' khi có ai hỏi 'Hôm nay cậu thế nào?' cho đến lời khen khi một người bạn hỏi chúng ta có thích kiểu đầu mới trông phát gớm của cô ấy không. Ấy vậy mà bất chấp sự phổ biến của nói dối trong cuộc sống chúng ta, đa số chúng ta không thật sự giỏi
18 Tháng Tư 20199:52 CH(Xem: 226)
Wabi-sabi tạo nơi trú ẩn chống nỗi ám ảnh của thế giới hiện đại về sự hoàn hảo, và chấp nhận sự không hoàn hảo một cách có ý nghĩa hơn và đẹp hơn, theo cách riêng của họ. Rút tay một cách miễn cưỡng ra khỏi chiếc bát đang quay chầm chậm, tôi nhìn thành bát không được đồng đều từ từ dừng lại, mong có thể điều chỉnh nó thẳng lên chút nữa.
17 Tháng Tư 20199:51 CH(Xem: 278)
Mọi đứa trẻ ở Nhật Bản được dạy dỗ 'gaman', tức là kiên trì nhẫn nại ở các thời điểm khó khăn. Đó có phải một cách để tạo ra một xã hội trật tự, hay 'gaman' có một mặt tối của nó? Ngày làm việc ở Tokyo thường bắt đầu bằng một chuyến đi qua hệ thống tàu điện ngầm nhộn nhịp nhất thế giới. Khoảng 20 triệu người đi tàu ở thủ đô Nhật Bản mỗi ngày.
28 Tháng Giêng 201910:04 CH(Xem: 387)
Ăn uống: Sử dụng nhiều rau xanh hàng ngày để bổ sung chất xơ cho đường tiêu hóa giúp làm nhuận tràng, hạn chế thực phẩm giàu béo, hạn chế dầu mỡ, thực phẩm chiên rán, hạn chế dùng chất kích thích như chè, café, bia rượu, chất cay, đắng, nóng. Uống đủ nước hàng ngày. – Vận động: Tránh béo phì, thường xuyên vận động
26 Tháng Giêng 20199:51 CH(Xem: 583)
Có một cậu sinh viên và một người Thầy lớn tuổi đang trao đổi với nhau về sự hoàn hảo. Chàng thanh niên với sức khỏe và lòng nhiệt huyết luôn muốn đi tìm cho mình mọi sự hoàn hảo. Người Thầy đã chú ý lắng nghe và thấu hiểu cậu sinh viên. Với bao nhiêu năm sống và hiểu biết bao chuyện xảy ra, ông nhẹ nhàng nói với cậu sinh viên:
21 Tháng Giêng 201910:37 CH(Xem: 523)
Từ trước khi được làm mẹ, tôi đã gặp chẳng ít những người mẹ đau khổ, luôn tự hỏi một câu: Tại sao mình đã hy sinh cho con tất cả, mà vẫn chẳng thể có được đứa con như mình mong muốn? Đứa con ấy có thể đã hỗn hào với mẹ, có thể đã cưới người vợ không hợp ý mẹ, đã lựa chọn một nghề nghiệp mà người mẹ kịch liệt phản đối,
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 597)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 828)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 1252)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 2328)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 1060)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 721)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
16 Tháng Sáu 201910:17 CH(Xem: 79)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
16 Tháng Sáu 201910:16 CH(Xem: 1942)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 986)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
07 Tháng Sáu 20192:54 CH(Xem: 137)
Nội dung tập sách này ngoài ghi lời giảng dạy của Thầy Viện Chủ, chúng tôi còn trích nguyên văn một số bài kinh giáo lý căn bản như Phật nói về giáo lý Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Nhân quả v.v... trong Trung Bộ Kinh (và Tăng Chi Bộ Kinh) do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch
06 Tháng Sáu 201910:23 CH(Xem: 133)
Tập này phần nhiều chúng tôi ghi tài liệu trích giảng trong các bộ Kinh A Hàm. Lý do là sau mùa An Cư năm 1985, nhân dịp rảnh rổi Thầy Viện Chủ nghiên cứu tạng Kinh Pali của Phật giáo Nguyên Thủy (do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch ra chữ Việt), sau những buổi chiều nghỉ ngơi, Thầy thường thuật tóm lược lại,
05 Tháng Sáu 20198:24 CH(Xem: 145)
Tập sách nhỏ này do các Thiền sinh tại Tu viện Chơn Không ghi lại các buổi nói chuyện của Thầy Viện Chủ trong những buổi chiều tại Trai đường hoặc ở nhà khách. Những buổi nói chuyện này không cố định dài ngắn hay sắp theo thứ tự từ thấp lên cao hoặc một hệ thống giáo lý nào
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 763)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 1051)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 1326)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 4362)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
24 Tháng Giêng 20194:07 CH(Xem: 660)
Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Nhiều Tác Giả - Many Authors)
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 680)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,