Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 25, Phẩm Tỳ-kheo - The Dhammapada, Chapter 25, The Monk

23 Tháng Mười Hai 20186:22 SA(Xem: 227)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 25, Phẩm Tỳ-kheo - The Dhammapada, Chapter 25, The Monk

Chapter25-1A

Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 25, Phẩm Tỳ-kheo
The Dhammapada, Chapter 25, Bhikkhuvagga: The Monk

(Kệ 360-382 - Verses 360-382)

Translated by Daw Mya Tin, M.A. - Thiện Nhựt lược-dịch và tìm hiểu
Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
Source-Nguồn: tipitaka.net, budsas.net


__________________

dhp360_B
dhp361_B
Verse-Kệ 360-361

(252).- Tích chuyện năm vị Tỳ-kheo cãi nhau về năm căn - Kệ số 360 và 361

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến việc cãi nhau của năm vị tỳ-kheo về sự điều-phục năm căn.

 

Thuở ấy, có năm vị tỳ-kheo ở nước Xá-vệ, mỗi người tu-tập cách chế-phục một trong năm căn; người lo điều-phục mắt, người tiết-chế tai, kẻ tự-chế về mũi, kẻ lo kềm-giữ lưỡi, người khắc-phục thân. Người nào cũng nói việc chế-phục một giác-quan riêng-biệt của mình là khó nhứt, chẳng ai đồng-ý với ai. Họ liền đến thỉnh-ý của Đức Phật. Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, điều-phục căn nào cũng khó như nhau; nhưng người tu-hành phải đồng thời kềm-giữ cả năm căn, có khắc-phục được cả năm thì mới thoát khỏi vòng tử-sanh Luân-hồi lận-đận."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Mắt đây, chế-phục, lành thay!

Lành thay biết chế-ngự hai tai nầy!

Khéo điều-phục mũi, lành thay!

Lành thay, nhiếp-phục lưỡi nầy cho yên!

(Kệ số 360.)

 

Lành thay, chế-phục thân-hành!

Tiết-chế khẩu-nghiệp đã rành, lành thay!

Lành thay, ý-nghiệp tịnh ngay!

Chế-phục tất cả đủ-đầy, lành thay!

Mọi điều tự-chế khéo, hay,

Tỳ-kheo giải-thoát được ngay khổ-sầu.

(Kệ số 361.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Tỳ-kheo: tu-sĩ Phật-giáo; tiếng Pali là Bhikkhu, thường đọc là tỳ-khưu, hoặc bí-sô, dịch nghĩa là Khất-sĩ (Khất = đi ăn xin; sĩ = người). Theo giới-luật, Tỳ-kheo chẳng được có nghề riêng sanh-sống, phải đi xin ăn, để dẹp lòng tự-ái xuống, lại có dịp gần dân, dạy đạo cho họ.

 

- Năm căn = năm giác-quan: mắt, tai, mũi, lưỡi và da trên thân.

 

- Điều-phục, Khắc-phục, chế-phục, nhiếp-phục, tiết-chế, chế-ngự, tự-chế = những chữ nầy có nghĩa là kềm-giữ, giữ-gìn chẳng cho chạy buông-lung theo cảnh-vật bên ngoài, nhờ đó tâm bên trong mới an-định.

 

- Thỉnh-ý: Thỉnh = mời; Thỉnh-ý là nhờ người trên cho ý-kiến.

 

- Thân-hành: Thân = thân-thể; Hành = hành-động.

 

- Khẩu-nghiệp, Ý-nghiệp = Khẩu = miệng; Ý = ý-tưởng; Nghiệp = hành-động. Nghiệp có ba thứ: thân-nghiệp, khẩu-nghiệp và ý-nghiệp. Nghiệp là hành-động, lời nói, tư-tưởng hoặc đã qua, hoặc đang làm, gây ra hậu-quả khiến ta phải mang lấy vận-mạng tốt xấu ở cõi đời. Chính nghiệp dẫn-dắt ta phải tái-sanh và trôi lăn mãi trong Luân-hồi.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất đơn-sơ, năm vị tỳ-kheo cãi nhau về cách điều-phục các giác-quan. Đức Phật dạy, khi điều-phục các căn, căn nào cũng khó giữ, nhưng phải đồng thời điều-phục đủ cả năm mới thoát khỏi được khổ trong vòng sanh-tử lẩn-quẩn của cõi Luân-hồi lận-đận.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 360 và 361:

 

Nhờ các giác-quan mà ta giao-tiếp được với cảnh-vật bên ngoài. Nhưng nếu để cảnh-vật lôi-cuốn, tâm chẳng an-định; muốn định tâm, trước phải biết kềm-giữ các căn, cũng như nhà ( =thân-tâm) có sáu cửa, phải canh đủ sáu cửa, mới giữ được trộm giặc len vào. Đó là ý-nghĩa sâu-xa của bài Kệ số 360.

 

Bài Kệ số 361 có sáu câu, chia ra hai phần: ba câu đầu nói về ba nghiệp: thân, miệng, ý; ba câu sau khen vị tỳ-kheo đã khéo tự-chế đầy-đủ ba nghiệp, được giải-thoát cái khổ của Luân-hồi (hết tái-sanh).

 

HỌC TẬP:

 

1.- Chế-phục mắt: đừng tưởng lầm là phải nhắm mắt lại, trái lại phải biết chỉ nhìn vào chỗ đáng nhìn, và khi thấy vật, chỉ biết đang có vật mà chẳng sanh lòng quá thích đeo theo, hay quá ghét muốn bỏ.

 

2.- Điều-phục các căn là để giữ tâm an-định khi tiếp-xúc bên ngoài, khác hẳn với thái-độ tự-đóng-kín như kẻ vừa mù, câm và điếc.

The Story of Five Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (360) and (361) of this book, with reference to five bhikkhus.

Once there were five bhikkhus in Savatthi. Each of them practised restraint of just one out of the five senses and each of them claimed that what he was practising was the most difficult. There were some heated arguments over this and they could not come to an agreement. Finally, they went to the Buddha to ask for his decision. The Buddha said to them, "Each of the senses is just as difficult to control as the other; but all bhikkhus must control all the five senses and not just one. Only those who control all the senses would escape from the round of rebirths."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 360: Restraint in the eye is good, good is restraint in the ear; restraint in the nose is good, good is restraint in the tongue.

 

Verse 361: Restraint in body is good, good is restraint in speech; restraint in mind is good, good is restraint in all the senses. A bhikkhu restrained in all the senses is freed from all ills (Samsara dukkha).








 

Dhammapada Verses 360 and 361
Pancabhikkhu Vatthu

Cakkhuna samvaro sadhu
sadhu sotena samvaro
ghanena samvaro sadhu
sadhu jivhaya sarmvaro.

Kayena samvaro sadhu
sadhu vacaya samvaro
manasa samvaro sadhu
sadhu sabbattha samvaro
sabattha sambuto bhikkhu
sabbadukkha pamuccati.

Verse 360: Restraint in the eye is good, good is restraint in the ear; restraint in the nose is good, good is restraint in the tongue.

Verse 361: Restraint in body is good, good is restraint in speech; restraint in mind is good, good is restraint in all the senses. A bhikkhu restrained in all the senses is freed from all ills (Samsara dukkha).

 

 


dhp362_B
Verse-Kệ 362

(253).- Tích chuyện vị Tỳ-kheo giết con thiên-nga - Kệ số 362

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị tỳ-kheo khoe tài quăng đá, đã giết chết một con thiên-nga.

 

Thuở ấy, có một vị tỳ-kheo có tài ném đá, trăm phát trúng cả trăm. Một hôm, cùng với bạn đồng-tu đang tắm gội bên bờ sông A-xi-ra, bỗng trông thấy hai con ngỗng trời nhởn-nhơ bơi lội bên dòng nước. Vị tỳ-kheo ấy khoe tài với bạn, bảo có thể ném trúng một con. Hai con ngỗng nghe tiếng người nói, quay lại nhìn và cất cánh bay lên. Vị tỳ-kheo lấy hòn đá cuội, ném mạnh, trúng vào con mắt bên trái, viên đá xuyên qua đầu con ngỗng và lọt ra khỏi mắt bên mặt. Con vật kêu đau thương, rơi xuống chết.

 

Các vị tỳ-kheo khác về thưa trình cùng Đức Phật. Đức Phật cho gọi vị tỳ-kheo ném đá đến quở-trách và chỉ dạy rằng: "Nầy tỳ-kheo, tại sao lại giết chết con vật vô-tội? Một người đã gia-nhập Tăng-đoàn phải luôn luôn tỏ lòng Từ-bi đến muôn loài chúng-sanh, phải biết làm chủ chơn tay mình, và cả cái lưỡi hay khoe-khoang kia!"

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Người chế-phục tay chơn, lời nói,

Tận đỉnh đầu trên cao vòi-vọi,

Lòng thoả-thích trong cơn thiền-định,

Biết đủ, sống độc-cư, trầm-tĩnh,

Người ấy xứng danh là tỳ-kheo.

(Kệ số 362.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Thiên-nga = ngỗng trời, lông trắng như tuyết.

 

- A-xi-ra: tên sông nầy, tiếng Pali là Aciravatì.

 

- Tăng-đoàn: Tăng = chữ Pali là Sangha; cứ bốn người trở lên tu chung với nhau thành một Tăng-đoàn.

 

- Từ-Bi: Từ = ban vui; Bi = cứu khổ. Lòng Từ-bi thương cả mọi loài.

 

- Chế-phục: kềm-giữ và làm chủ được.

 

- Thiền-định: tu thiền, giữ tâm an-tịnh, chẳng xao-lãng.

 

- Biết đủ: chữ Hán-Việt là tri-túc, biết vừa đủ, chẳng ham đòi quá

 

- Sống độc-cư: Độc = ở một mình; Cư = ở. Người sống độc-cư tránh nơi ồn-ào, biết sống một mình, tĩnh-tu nên tâm sớm an-định.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại một vị tỳ-kheo muốn khoe tài ném đá, trong khi đang tắm với bạn, thấy hai con ngỗng, ném chết một con. Đức Phật nghe được việc ấy, quở-trách và dạy, tỳ-kheo phải làm chủ chơn tay mình, chớ khoe-khoang.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện: vì khoe tài mà phạm tội sát-sanh, chẳng xứng-đáng là người tu-hành có lòng từ-bi.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 362:

 

Bài Kệ số 362 dạy người tu-hành phải luôn luôn giữ gìn thân-tâm cho đứng-đắn trong bốn tư-thế, gọi là tứ oai-nghi: nằm, ngồi, đi đứng. Nằm ngay-ngắn chẳng ưỡn-ẹo, ngồi thẳng-thớm chẳng kề dựa, đi chửng-chạc chẳng hấp-tấp, đứng nghiêm-chỉnh chẳng ngả-ngớn. Muốn xứng danh là một vị tỳ-kheo, còn cần phải có đủ các đức -tánh: biết vừa đủ, sống độc-cư và tâm trầm-tĩnh luôn tỉnh-giác.

 

Xin phân-tách từng câu bài Kệ:

 

1) "Người chế-phục tay chơn, lời nói, Tận đỉnh đầu trên cao vòi-vọi": sự kềm-thúc ba nghiệp: thân, miệng, ý được thi-hành thật kỹ-lưỡng: tay chơn chẳng buông lung, lời nói phải hoà-nhã, ý-tưởng trong đầu phải thanh-tịnh, cao-cả.

 

2) "Lòng thoả-thích trong cơn thiền-định": nơi mọi tư-thế của thân-thể, bên trong hằng tỉnh-giác, theo dõi mọi cử-động, mọi lời nói, mọi ý-nghĩ, nên tâm mới thoả-thích an-trú trong chánh-niệm.

 

3) "Biết đủ, sống độc-cư, trầm-tĩnh": ba đức-tánh quan-trọng của người tu-hành: biết vừa đủ là dẹp được lòng ham muốn, sống độc-cư tránh chỗ ồn-ào, hằng "làm bạn" với tâm của mình, là giữ tâm thanh-tịnh; trầm-tĩnh, chẳng vọng-động, là luôn được an-nhiên, tự-tại. Ba đức-tánh đó đưa ta sớm đến ngưỡng cửa của Niết-Bàn, yên-vui và giải-thoát.

The Story of a Bhikkhu Who Killed a Swan (Hamsa)

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (362) of this book, with reference to a bhikkhu who killed a swan.

Once there was a bhikkhu who was very skilful in throwing stones; he could even hit fast-moving objects without fail. One day, while sitting with another bhikkhu after having their bath in the Aciravati River, he saw two swans flying at some distance. He told his friend that he would get one of the swans by throwing a stone at it. At that instant, the swan, hearing voices, turned its neck and the bhikkhu threw a pebble at the bird. The pebble went through one eye and came out of the other eye of the bird. The bird cried out in pain and agony and dropped dead at the feet of the young bhikkhu.

Other bhikkhus seeing the incident took the young bhikkhu to the Buddha. The Buddha reprimanded him and said, "My son, why have you killed this bird? Why especially you, a member of my Order, who should be practising loving-kindness to all beings and who should be striving ardently for liberation from the round of rebirths? Even during the period outside the Teaching, the wise practised morality and observed the precepts. A bhikkhu must have control over his hands, his feet and his tongue."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 362: He who controls his hand, controls his foot, controls his speech, and has complete control of himself; who finds delight in Insight Development Practice and is calm; who stays alone and is contented; — him they call a bhikkhu.

Dhammapada Verse 362
Hamsaghatakabhikkhu Vatthu

Hatthasamyato padasamyato
vacasamyato samyatuttamo
ajjhattarato samahito
eko santusito tamahu bhikkhum.

Verse 362: He who controls his hand, controls his foot, controls his speech, and has complete control of himself; who finds delight in Insight Development Practice and is calm; who stays alone and is contented; — him they call a bhikkhu.


dhp363_B
Verse-Kệ 363

(254).- Tích chuyện Tỳ-kheo Cơ-khả-ly - Kệ số 363

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị tỳ-kheo Cơ-khả-ly.

 

Thuở ấy, có vị tỳ-kheo tên Cơ-khả-ly, vì bất-mãn nói nhiều lời hỗn-láo với hai Tôn-giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Vì hành-vi bất-thiện nầy, tỳ-kheo Cơ-khả-ly bị đất nứt hút sa xuống điạ-ngục. Khi nghe kể lại thân-phận của Cơ-khả-ly, các vị tỳ-kheo nhận xét rằng, vì chẳng biết kềm-giữ lưỡi của mình mà Cơ-khả-ly phải sa điạ-ngục. Đức Phật dạy: "Nầy chư tỳ-kheo, tỳ-kheo phải kềm-chế cái lưỡi của mình, hạnh-kiểm phải đoan-nghiêm, tâm-tư phải bình-thản, an-định, chẳng để tâm buông-lung, chạy lang-thang đây đó."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Tỳ-kheo đã chế-phục miệng lưỡi,

Khiêm-nhường, khéo nói, chẳng thừa lời,

Giải-thích rõ nghĩa Pháp sáng ngời,

Ngọt-ngào thay, lời nói Tỳ-kheo!

(Kệ số 363.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Cơ-khả-ly: tên vị tỳ-kheo nầy, tiếng Pali là Kolàlika.

 

- Bất-mãn: chẳng vừa lòng, tức-giận.

 

- Tôn-giả: Tôn = tôn-kính; Giả = người. Tôn-giả là bực đáng kính

 

- Xá-lợi-phất: tên của Tôn-giả, tiếng Pali là Sariputta.

 

- Mục-kiền-liên: tên của Tôn-giả, tiếng Pali là Moggallàna.

 

- Điạ-ngục: Điạ =đất, Ngục = nhà giam tù. Theo sự tin-tưởng trong Phật-học, kẻ làm ác khi sống, chết đi phải chịu hình-phạt khổ-sở và lâu-dài nơi cõi âm u-tối.

 

- Đoan-nghiêm = đoan-trang và nghiêm-nghị, đàng-hoàng.

 

- Chế-phục: kềm-giữ, lấy quyền làm chủ lại, sửa cho đúng.

 

- Khiêm-nhường: biết nhún-nhường, khiêm-tốn, chẳng phách-lối.

 

- Chẳng thừa lời: lời nói vừa đủ, chẳng dư thừa, chẳng dài-dòng.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất giản-dị, thuật lại việc vì bất-mãn, một vị tỳ-kheo có lời hỗn-láo với hai vị đại-đệ-tử của Đức Phật, mà bị sa điạ-ngục. Nhơn đó, Đức Phật dạy các tỳ-kheo phải giữ-gìn lời nói, tâm phải hằng tỉnh-giác.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện: nói lời thô-ác là vi-phạm vào giới-luật thứ tư của người tu tại-gia.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 363:

 

Bài Kệ dạy ta phải giữ-gìn miệng-lưỡi, chớ nói lời thô-ác. Muốn giữ gìn lời nói, trước phải giữ tâm cho thanh-tịnh, chẳng để tâm buông-lung, chạy đi lang-thang, thiếu kềm-chế mới lỡ lời nói quấy.

 

1) "Tỳ-kheo đã chế-phục miệng-lưỡi, Khiêm-nhường, khéo nói, chẳng thừa lời": khi biết giữ gìn miệng-lưỡi, trước khi nói suy-nghĩ chín-chắn thì lời nói sẽ dịu-dàng, khéo-léo; chẳng nói dông-dài chán tai người nghe, lại biết nhún-nhường chẳng tự khoe mình.

 

2) "Giải-thích rõ nghĩa Pháp sáng ngời": lời nói chín-chắn dùng giải nghĩa Chánh-pháp, sẽ rõ-ràng, thông-suốt, giúp cho người nghe dễ hiểu, dễ nhớ và dễ thì-hành theo.

 

3) "Ngọt-ngào thay, lời nói Tỳ-kheo!": lời nói được ngọt-ngào nhờ đượm đầy pháp-vị ( = đầy ý-nghĩa tu-hành) nhẹ-nhàng chỉ dạy rõ-ràng đường-lối tu-hành giải-thoát cho người nghe.

 

HỌC TẬP:

 

1.- Trong Kinh Thập-Thiện, dạy mười điều lành, có bốn điều răn về lời nói: (1) chẳng nói dối, nói đúng theo Sự-thật, có sao nói vậy; (2) chẳng nói thêu-dệt, chẳng thêm-thắt, chẳng đặt điều "thêm mắm thêm muối"; (3) chẳng nói đâm-thọc, gặp người nầy nói vầy, gặp người kia nói khác, để gây bất-hoà; (4) chẳng nói lời thô-ác, lời vô-nghĩa: lời thô-ác khiến người tức-giận; nói lời vô-nghĩa là khi ngồi lê đôi mách, kháo nhau chuyện hàng xóm cho vui.

 

2.- "Nói là bạc, nín là vàng": lời khuyên quí: biết kềm cái lưỡi lại, giữ im-lặng để lắng nghe."Quay lưỡi bảy lần trước khi nói" vẫn còn thua "thủ khẩu như bình" ( = miệng giữ im như miệng ... cái bình! )

The Story of Bhikkhu Kokalika

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (363) of this book, with reference to Bhikkhu Kokalika.

Bhikkhu Kokalika had abused the two Chief Disciples, the Venerable Sariputta and the Venerable Maha Moggallana. For this evil deed Kokalika was swallowed up by the earth and had to suffer in Paduma Niraya. Learning about his fate, the bhikkhus remarked that Kokalika had to suffer grievously because he did not control his tongue. To those bhikkhus, the Buddha said, "Bhikkhus! A bhikkhu must have control over his tongue; his conduct must be good; his mind must be calm, subdued and not flitting about as it pleases."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 363: The bhikkhu who controls his mouth (speech) who speaks wisely with his mind composed, who explains the meaning and the text of the Dhamma, — sweet are the words of that bhikkhu.

Dhammapada Verse 363
Kokalika Vatthu

Yo mukhasamyato bhikkhu
mantabhani anuddhato
attham dhammanca dipeti
madhuram tassa bhasitam.

Verse 363: The bhikkhu who controls his mouth (speech) who speaks wisely with his mind composed, who explains the meaning and the text of the Dhamma, — sweet are the words of that bhikkhu.


dhp364_B
Verse-Kệ 364

(255).- Tích chuyện Trưởng-lão Pháp-hỉ - Kệ số 364.

 

Tích chuyện nầy giống với các Tích chuyện trong Tập 3, số (136) trang 431,

 

về Trưởng-lão Ất-tha-đạt và số (163), trang 503, về Trưởng-lão Thi-sa.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Pháp-Hỉ.

 

Thuở ấy, khi nghe Đức Phật Thích-ca tuyên-bố, bốn tháng nữa Ngài sẽ nhập Đại-Bát-Niết-Bàn, các vị tỳ-kheo còn chưa chứng-đắc được Đạo và Quả, rất lo-lắng, hằng ngày cứ quanh-quẩn gần bên Đức Phật. Riêng Trưởng-lão Pháp-Hỉ, lui về am vắng, nỗ-lực hành Thiền. Các vị tỳ-kheo khác cho rằng Trưởng-lão Pháp-Hỉ chẳng có lòng thương-mến Phật, mời trình lên Đức Phật. Khi nghe Trưởng-lão thưa-bày sự cố-gắng của mình để chứng được quả-vị A-la-hán, trước khi Đức Phật nhập-diệt, Đức Phật khen-ngợi thái-độ đó và khuyên các tỳ-kheo khác noi gương Trưởng-lão Pháp-Hỉ, hơn là lẩn-quẩn bên Phật.

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó Trưởng-lão chứng-đắc được ngay quả-vị A-la-hán:

 

Tỳ-kheo nào trú trong Chánh-pháp.

Thoả-thích suy-tư theo Chánh-pháp,

Tâm-niệm hằng tưởng nhớ Chánh-pháp,

Ắt chẳng sa-đọa lìa Chánh-pháp.

(Kệ số 364.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Trưởng-lão Pháp-Hỉ: tên vị Trưởng-lão, tiếng Pali là Dhammaràma.

 

- Nhập Đại-Bát-Niết-Bàn: vào cảnh-giới tịch-diệt. Đại-Bát-Niết-Bàn, tiếng Pali là Parinibbàna. Chữ Nhập-diệt có nghĩa là chết.

 

- Đạo, Quả: Đạo = đường-lối tu-hành, Pali là Magga; Quả = kết-quả việc tu-hành thành-công, Pali là Phala.

 

- Am = cốc, căn nhà nhỏ, vắng-vẻ, để tu-hành hay thờ-phượng.

 

- A-la-hán: quả-vị thứ tư, cao nhứt, tiếng Pali là Arahant. Bực A-la-hán diệt xong các phiền-não, chứng được vô-sanh ( =chẳng còn bị tái-sanh trong cõi Luân-hồi nữa), vào cảnh-giới Niết-bàn.

 

- Trú trong Chánh-pháp: tâm an-trú trong Chánh-pháp, chẳng lúc nào quên Chánh-pháp.

 

- Sa-đoạ: bị rớt xuống chỗ thấp-kém.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Ý-nghĩa Tích chuyện: cách tốt nhứt để tỏ lòng thương-mến người sắp mất là thực-hiện được lời người ấy dạy, trước khi người ấy lià đời.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 364:

 

Ý-nghĩa bài Kệ rất rõ-ràng: tỳ-kheo nào thoả-thích an-trú trong Chánh-pháp, chắc-chắn khỏi bị sa-đoạ.

The Story of Thera Dhammarama

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (364) of this book, with reference to Thera Dhammarama.

When it was made known to the disciples that the Buddha would realize Parinibbana in four months' time, most of the puthujjana bhikkhus (i.e., those who had not attained any of the Maggas) felt extremely depressed and were at a loss and did not know what to do. They just stayed close to the Buddha, hardly ever leaving his presence. However, there was a bhikkhu by the name of Dhammarama who kept to himself and did not go near the Buddha. His intention was to strive most ardently to attain arahatship before the passing away of the Buddha. So he strove hard in Insight Meditation Practice. Other bhikkhus, not understanding his attitude and his noble ambition, misunderstood his behaviour.

Those bhikkhus took Dhammarama to the Buddha and said to the Enlightened One, "Venerable Sir! This bhikkhu does not seem to have any affection or regard or reverence for you; he has been staying by himself while all the time other bhikkhus are staying close to Your Venerable presence." When other bhikkhus had said everything they wanted to say, Dhammarama respectfully explained to the Buddha why he had not come to see the Buddha and also reported that he had been striving his utmost in Insight Meditation Practice.

The Buddha was satisfied and was very pleased with the explanation and conduct of Dhammarama and he said, "My son, Dhammarama, you have done very well. A bhikkhu who loves and respects me should act like you. Those who made offerings of flowers, scents and incense to me are not really paying me homage. Only those who practise the Dhamma are the ones who truly pay homage to me."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 364: The bhikkhu who abides in the Dhamma, who delights in the Dhamma, who meditates on the Dhamma, and is ever mindful of the Dhamma, does not fall away from the Dhamma of the virtuous.


At the end of the discourse Thera Dhammarama attained arahatship.

Dhammapada Verse 364
Dhammaramatthera Vatthu

Dhammaramo dhammarato
dhammam anuvicintayam
dhammam anussaram bhikkhu
saddhamma
1 na parihayati.

Verse 364: The bhikkhu who abides in the Dhamma, who delights in the Dhamma, who meditates on the Dhamma, and is ever mindful of the Dhamma, does not fall away from the Dhamma of the virtuous1.


1. saddhamma: the Dhamma of the virtuous; i.e., the thirty-seven Factors of Enlightenment (Bodhipakkhiya Dhamma) and the nine Transcendentals (Lokuttara Dhamma).


dhp365_B
dhp366_B
Verse-Kệ 365-366

(256).- Tích chuyện vị Tỳ-kheo muốn ngả theo Đề-bà - Kệ số 365 và 366

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến một vị tỳ-kheo muốn ngả theo nhóm Đề-bà-đạt-đa.

 

Thuở ấy, Đề-bà-đạt-đà vốn là em họ của Đức Phật, tu-hành đắc được thần-thông, lòng sanh kiêu-mạn, viện cớ Đức Phật đã già-cả, yêu-cầu Đức Phật nhường cho y cầm đầu Tăng-đoàn. Bị từ-chối, Đề-bà-đạt-đa thành-lập một Giáo-hội mới và cũng được một số tỳ-kheo theo y. Bấy giờ, có một vị tỳ-kheo tu-tập ở chùa Kỳ-viên, đi theo một người bạn đến chơi ở tu-viện của Đề-bà-đạt-đa và lưu lại đấy ba bốn ngày, lòng rất thích-thú vì được ăn ngon, ngủ kỹ, hưởng đầy-đủ mọi tiện-nghi vật-chất. Các bạn đồng-tu thưa trình sự-việc lên Đức Phật. Đức Phật cho gọi vị tỳ-kheo ấy đến, quở-trách và dạy: "Nầy tỳ-kheo, mặc dầu chưa theo hẳn với Đề-bà-đạt-đa, nhưng thái-độ của ông xem ra như là đồ-đệ của y. Một tỳ-kheo đứng-đắn chẳng hề ham lợi-dưỡng, phải biết đủ với những gì mình đi khất-thực được và chẳng hề ganh-tị với những người được cúng-dường nhiều. Tham-lam và ganh-tị trong lòng khiến ta chẳng đắc được định-tâm khi hành Thiền, thì biết đến bao giờ chứng được đạo-quả Niết-Bàn."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên hai bài Kệ sau đây:

 

Chẳng khinh-rẻ những gì mình lãnh-thọ,

Chẳng hờn-ganh kẻ khác được người cho.

Tỳ-kheo còn ganh hiền ghét ngỏ,

Hành thiền, chẳng đắc định bao giờ.

(Kệ số 365.)

 

Tuy nhận ít mà chẳng hề chê,

Sống thanh-tịnh đúng bề Chánh-mạng,

Chẳng lười-nhác nên được lời xưng-tán

Của Chư Thiên gởi đến vị Tỳ-kheo.

(Kệ số 366.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Đề-bà-đạt-đa: anh của Tôn-giả A-nan, em họ của Phật Thich-ca, tên tiếng Pali là Devadatta. Tánh hay kiêu-mạn, Đề-bà-đạt-đa chống-đối với Đức Phật Thích-ca, lập một Giáo-hội khác, phá sự hoà-hợp giữa chư Tăng.

 

- Thần-thông = khả-năng đặc-biệt có được nhờ tu định-lực cao, như bay bỗng trên không, đi được trên mặt nước, v.v.

 

- Kiêu-mạn = kiêu-căng, ngã-mạn, tự coi mình hơn mọi người.

 

- Lợi-dưỡng = các mối lợi để nuôi-dưỡng; ý nói các phẩm-vật được hiến-tặng để nuôi mạng sống.

 

- Đạo-quả Niết-Bàn = đường-lối tu-hành đưa đến cảnh-giới tịch-diệt hằng an-vui.

 

- Lãnh-thọ = nhận lãnh của hiến-tặng.

 

- Hờn-ganh = ganh-tị, cà-nanh, đòi bằng hay hơn kẻ khác.

 

- Ganh hiền ghét ngỏ = ganh-ghét những người hơn mình.

 

- Hành-thiền = tu Thiền.

 

- Đắc định = khi tu Thiền, tâm trở nên vắng-lặng, an-tịnh.

 

- Chánh-mạng: Chánh = chơn-chánh, đứng-đắn; Mạng = mạng sống. Chánh-mạng là lối mưu-sanh đứng-đắn bằng nghề-nghiệp chơn-chánh. Chánh-mạng là một ngành trong Bát-Chánh-đạo.

 

- Xưng-tán = khen ngợi.

 

- Chư Thiên = các bực trên cõi Trời.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc một tỳ-kheo ở chùa Kỳ-viên đến tu-viện riêng của Đề-bà-đạt-đa, thấy thoả-thích trong việc thọ-hưởng các tiện-nghi vật-chất và các phẩm-vật được cúng-dường ở đấy. Vì Đề-bà-đạt-đa chống-đối Đức Phật, gây chia-rẽ trong Tăng-đoàn, nên các vị đồng-tu mới trình sự-việc lên Đức Phật. Đức Phật quở trách vị tỳ-kheo kia và dạy, chẳng nên ganh- tị với người được cúng-dường, chớ tham lợi-dưỡng, thì hành Thiền mới đắc được định-tâm, mau chứng được đạo-quả Niết-Bàn.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện: đừng theo con đường ham-mê lợi-dưỡng mà sanh tâm ganh-tị với các bực được cúng-dường.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 365 và 366:

 

Cả hai bài Kệ nói về thái-độ của tỳ-kheo đối với vấn-đề lợi-dưỡng: chẳng khinh-chê những gì mình được hiến-tặng, chẳng ganh-tị với bạn đồng-tu được cúng-dường.

 

Phân-tách bài Kệ số 365:

 

1) "Chẳng khinh-rẻ những gì mình lãnh-thọ": chẳng nên chê-bai các món đi khất-thực được, vì thức-ăn chỉ là một "món thuốc" để trị bịnh đói của mình, chớ chẳng phải để cho khoái-khẩu (ngon miệng)

 

2) "Chẳng hờn-ganh kẻ khác được người cho": chẳng phân-bì, so-đo với người được tặng nhiều, còn mình thì được cho ít.

 

3) "Tỳ-kheo còn ganh hiền ghét ngỏ, Hành thiền, chẳng đắc định bao giờ": Tạo sao chẳng đắc định được? Vì trong tâm còn vấn-vương sự so-đo, sự ganh-ghét, chẳng an-tịnh được mà đắc định.

 

Phân-tách bài Kệ số 366:

 

1) "Tuy nhận ít mà chẳng hề chê": đây là vị tỳ-kheo tri-túc, biết vừa đủ, chẳng ham-muốn để đòi hỏi thêm.

 

2) "Sống thanh-tịnh đúng bề Chánh-mạng": Chánh-mạng của tỳ-kheo là theo hạnh khất-sĩ, xin được bao nhiêu, sống với bấy nhiêu.

 

3) "Chẳng lười nhác nên được lời xưng-tán, Của chư Thiên gởi đến vị tỳ-kheo": siêng-năng hành Thiền chẳng hề lười nhác, nên vị tỳ-kheo được chư Thiên khen ngợi.

The Story of a Bhikkhu Who Associated With a Follower of Devadatta

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (365) and (366) of this book, with reference to a bhikkhu who was on friendly terms with a follower of Devadatta.

Once, a bhikkhu disciple of the Buddha, being very friendly with a follower of Devadatta, paid a visit to the monastery of Devadatta and stayed there for a few days. Other bhikkhus reported to the Buddha that he had been mixing with the followers of Devadatta and that he had even gone to the monastery of Devadatta, spent there a few days, eating, sleeping and apparently enjoying the choice food and the comforts of that monastery. The Buddha sent for that bhikkhu and asked him whether what he had heard about his behaviour was true. The bhikkhu admitted that he had gone to the monastery of Devadatta for a few days, but he told the Buddha that he had not embraced the teaching of Devadatta.


The Buddha then reprimanded him and pointed out that his behaviour made him appear like a follower of Devadatta. To him the Buddha said, "My son, even though you have not embraced the doctrine of Devadatta, you are going about as if you were one of his followers. A bhikkhu should be contented with what he gets and should not covet other people's gains. A bhikkhu who is filled with envy at the good fortune of others will not attain concentration (samadhi), or Insight, or the Path that leads to Nibbana (Magga). Only the bhikkhu who is contented with whatever he gets will be able to attain concentration, Insight and the Path."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 365: One should not despise what one has received (by proper means), nor should one envy others their gains. The bhikkhu who envies others cannot attain Concentration (Samadhi).
Verse 366: Though he receives only a little, if a bhikkhu does not despise what he has received (by proper means), the devas will surely praise him who leads a pure life and is not slothful.

Dhammapada Verses 365 and 366
Vipakkhasevaka Bhikkhu Vatthu

Salabham natimanneyya
na' nnesam pihayam care
annesam pihayam bhikkhu
samadhim nadhigacchati.

Appalabhopi ce bhikkhu
salabham nati mannati
tam ve deva pasamasanti
suddhajivim atanditam.

Verse 365: One should not despise what one has received (by proper means), nor should one envy others their gains. The bhikkhu who envies others cannot attain Concentration (Samadhi).

Verse 366: Though he receives only a little, if a bhikkhu does not despise what he has received (by proper means), the devas will surely praise him who leads a pure life and is not slothful.


dhp367_B
Verse-Kệ 367

(257).- Tích chuyện người bố-thí hoa quả đầu mùa - Kệ số 367

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến người nông-phu Bà-la-môn thường đem ra bố-thí hết hoa-quả đầu mùa vừa gặt hái được.

 

Thuở ấy, có một người Bà-la-môn theo nghề làm ruộng, thường đem hết những gì gặt-hái được vào đầu mùa ra bố-thí. "Đầu muà" đối với ông ấy có bốn nghĩa, là: số lúa vừa gặt-hái được, số gạo vừa giã và sàng xong, số cơm vừa nấu chín, và phần ăn trên dĩa sắp đem ra dùng. Một hôm, vợ chồng ông đang ăn sáng, bỗng có Đức Phật và chư Tăng đến khất-thực. Chồng ngồi quay mặt vào trong, còn vợ ngồi ngó ra, trông thấy các tỳ-kheo, mới đứng án mặt chồng, che khuất Đức Phật. Bà ta nghĩ, nếu chồng mình trông thấy Đức Phật, sẽ bưng hết phần ăn ra dưng-cúng, bà ta lại phải vào bếp nấu-nướng nữa cho chồng ăn. Bà bước ra cửa, đến gần bên Đức Phật, nói nho-nhỏ: "Bạch Ngài, hôm nay con chẳng có chi để cúng-dường, xin Ngài đi đến nơi khác." Đức Phật lẵng-lặng, chẳng nói gì, chỉ lắc đầu. Thấy cử-chỉ đó, người đàn-bà bỗng bật lên tiếng cười. Người chồng quay lại, nhìn thấy Đức Phật, vội chạy ra, tạ lỗi rối rít: "Bạch Thế-tôn, xin Thế-tôn tha lỗi cho vợ con và nhận dĩa thực-phẩm nầy, con vừa mới dùng có mấy muỗng." Đức Phật ôn-tồn đáp: "Nầy Bà-la-môn, ta vui lòng nhận mọi thức ăn, dầu đã được ăn dở, hay đã ăn hết phân-nửa, hoặc cả khi chỉ còn lại một muỗng thôi." Nghe Phật nói, người Bà-la-môn rất ngạc-nhiên mà cũng rất sung-sướng được cúng-dường Đức Phật. Ông mới thưa hỏi: "Bạch Thế-tôn, thế nào mới xứng-danh là một vị tỳ-kheo?" Đức Phật dạy: "Nầy Bà-la-môn, thân nầy gọi là sắc, tâm nầy gọi là danh; vị tỳ-kheo xứng-danh chẳng hề mê-luyến danh-sắc."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó mà vợ-chồng người nông-phu chứng được quả-vị thứ ba là A-na-hàm:

 

Đối với thân-tâm là danh-sắc,

‘Ta’ và ‘của Ta’ chẳng thắc-mắc,

Chẳng lo-âu những gì chưa đắc,

Đó mới xứng danh là Tỳ-kheo.

(Kệ số 367.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Giải-nghĩa:

 

- Bà-la-môn: giai-cấp tu-sĩ trong xã-hội xưa ở Ấn; tiếng Pali là Brahmana. Có bốn giai-cấp xưa ở Ấn-độ: (1) Bà-la-môn; (2) Sát-đế-lợi (Khattiya), vua, quan; (3) Phệ-xá (Vessa), buôn-bán; 4) Thủ-đà-la (Sudda), nông-phu, công-nhơn.

 

- Khất-thực: Khất = đi xin; Thực = ăn. Khất-thực là giới-luật nhà Phật, buộc tỳ-kheo chẳng được có nghề riêng để sanh-sống, phải đi xin ăn để dẹp lòng tự-ái, và có dịp gặp dân-chúng để dạy giáo-lý .

 

- Thế-tôn: Thế = thế-gian; Tôn = tôn-kính. Thế-tôn chỉ Đức Phật là bực được cả thế-gian tôn-kính.

 

- Cúng-dường: đọc trại chữ cung-dưỡng, cung-cấp để nuôi-dưỡng.

 

- A-na-hàm: quả-vị thứ ba, tiếng Pali là Anàgàmi, dịch là Bất-Lai, chẳng còn phải sanh lại ở cõi người nữa.

 

- Danh-sắc = thân-tâm; danh là tên, tâm; sắc là vật-chất, thân-thể

 

- Tỳ-kheo: tiếng Pali là Bhikkhu, âm là bí-sô, dịch là khất-sĩ, tu-sĩ theo đạo Phật, phải tuân hành 250 điều giới-luật.

 

- Của Ta: chữ Hán-Việt là Ngã-sở (Ngã = ta; Sở = chỗ), tức là những gì thuộc về của Ta, như thân của ta, nhà của ta, con cái của ta.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại vợ-chồng người Bà-la-môn đang ăn sáng, Đức Phật đến khất-thực. Người vợ đứng án che chẳng cho chồng thấy Phật. Nhưng người chồng biết được, đem dưng cả diã thực-phẩm. Đức Phật nhơn đó dạy họ, chớ nên mê-luyến thân-tâm quá đáng, đừng bám-víu quá chặt vào "Ta" và "của Ta".

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 367:

 

Bài Kệ nầy định-nghĩa, thế nào mới xứng-đáng là một vị tỳ-kheo: chẳng mê-luyến danh-sắc ( = thân-tâm); chẳng bám-víu vào "Ta" và "của Ta". Đây là nguyên-tắc Vô-ngã, cửa cuối-cùng trong ba cửa giải-thoát (tam giải-thoát-môn) là: vô-thường, khổ và Vô-ngã.

 

Sao gọi Thân-tâm là Danh- Sắc? Thân nầy tạm thời có hình-dạng là do các yếu-tố vật-chất (Sắc) hoà-hợp lại tạo nên, ngày kia sẽ tan rả. Tâm nầy biến chuyển luôn, chỉ có tên (Danh) mà chẳng có.

The Story of the Giver of the First-Fruits of His Labour

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (367) of this book, with reference to a brahmin who was in the habit of making five offerings of first-fruits in charity. The first-fruits here refer to the first-fruits of the field. The first-fruits of the field are given in charity at the time of harvesting, at the time of threshing, at the time of storing, at the time of cooking and at the time of filling the plate.

One day, the Buddha saw the brahmin and his wife in his vision and knew that time was ripe for the couple to attain Anagami Fruition. Accordingly, the Buddha set out for their house and stood at the door for alms food. The brahmin who was then having his meal, facing the interior part of the house, did not see the Buddha. His wife who was near him saw the Buddha, but she was afraid that if her husband saw the Buddha standing at the door for alms-food, he would offer all his rice in the plate and, in that case, she would have to cook again. With this thought in her mind, she stood behind her husband so that he would not see the Buddha; when she quietly stepped backwards and slowly came to where the Buddha was standing, and whispered to him,"Venerable Sir! We do not have any alms-food for you today." But the Buddha had decided not to leave the house; he just shook his head. Seeing this gesture, the brahmin's wife could not control herself and she burst out laughing.

At that instant, the brahmin turned round and saw the Buddha. At once he knew what his wife had done, and he cried out, "O you, my wretched wife! You have ruined me." Then, taking up his plate of rice, he approached the Buddha and apologetically requested, "Venerable Sir! Please accept this rice which I have partly consumed." To him the Buddha replied, "O brahmin! Any rice is suitable for me, whether it is not yet consumed, or is partly consumed, or even if it is the last remaining spoonful." The brahmin was very much surprised by the Buddha's reply; at the same time, it made him happy because his offer of rice was accepted by the Buddha. The brahmin next asked the Buddha by what standard a bhikkhu was judged and how a bhikkhu was defined. The Buddha knew that both the brahmin and his wife had already learned something about mind and body (nama-rupa); so he answered, "O brahmin! One who is not attached to mind and body is called a bhikkhu."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 367: He who does not take the mind-and-body aggregate (nama-rupa) as "I and mine", and who does not grieve over the dissolution (of mind and body) is, indeed, called a bhikkhu.


At the end of the discourse both the brahmin and his wife attained Anagami Fruition.

Dhammapada Verse 367
Pancaggadayaka Brahmana Vatthu

Sabbaso namarupasmim
yassa natthi mamayitam
asata ca na socati
sa ve "bhikkhu" ti vuccati.

Verse 367: He who does not take the mind-and-body aggregate (nama-rupa) as "I and mine", and who does not grieve over the dissolution (of mind and body) is, indeed, called a bhikkhu.


dhp368_B
dhp369_B
dhp370_B
dhp371_B
dhp372_B
dhp373_B
dhp374_B
dhp375_B
dhp376_B
Verse-Kệ 368-376

(258).- Tích chuyện mẹ của Trưởng-lão Sơn-na - Chín bài Kệ từ số 368 đến 376

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến người mẹ của Trưởng-lão Sơn-na.

 

Thuở ấy, ở thành Cưu-ra-ga, có một vị phu-nhơn rất giàu-sang sanh được một người con trai, tên là Sơn-na, đi tu từ lúc còn nhỏ. Một hôm, tỳ-kheo Sơn-na đi ngang qua làng cũ. Bà mẹ hay tin, mướn người dựng một đài cao và rộng, tổ-chức một buổi lễ bố-thí thật lớn để mừng con và mời dân-chúng tối đến để nghe Trưởng-lão Sơn-na giảng pháp. Tối hôm ấy, vị phu-nhơn cùng với tất cả thân-nhơn trong nhà đến dự, chỉ lưu lại một đứa tớ gái nhỏ trông nom cửa nhà.

 

Bấy giờ, có một bọn cướp đông người gần trăm tên, thừa cơ nhà vắng, mới đến cướp-bóc. Tên đầu-đảng lại đến đài giảng-pháp, ngồi gần vị phu-nhơn để canh-chừng, với ý-định gây cản-trở, nếu phu-nhơn bất-thần trở về. Đến nửa đêm, đứa tớ gái chạy đến đài, thưa với phu-nhơn, rằng nhà bị trộm-cướp vào. Phu-nhơn đang chăm-chú nghe pháp, quay lại bảo nó: "Cứ mặc kệ chúng, con trở về đi, đừng làm rộn, để bà nghe pháp." Con bé vâng lời ra về; lát sau, nó trở lại thưa: "Bà ơi, bọn trộm đang lấy hết các choé bạc ở nhà ngang rồi!" Vị phu-nhơn quở nó: "Sao con cứ làm rộn bà, ai muốn lấy gì cứ lấy, con để yên cho bà nghe pháp, về đi." Đứa tớ chẳng dám cãi lời, bước đi; độ nửa giờ sau, nó hộc-tốc chạy trở lại: "Bà ơi, bọn cướp phá cửa phòng riêng của bà, khuân hết vòng vàng, ngọc-ngà, châu-báu rồi!" Vị phu-nhơn quắc mắt bảo nó: "Mầy thật chẳng biết nghe lời bà, cứ theo làm bà chẳng chú-ý đến hết bài pháp. Về ngay đi, còn mất gì bà cũng chẳng cần!" Tự đầu hôm, tên chúa đảng đã nghe rõ từng lời của vị phu-nhơn, anh ta rất ngạc-nhiên, bỗng tỉnh-ngộ, ta cướp giựt bất-lương như thế, rồi sẽ bị quả-báo không sai. Biết đâu lại bị sét đánh bể đầu, hay bị đất nứt sa vào địa-ngục. Anh ta liền chạy đi, hét đồng-bọn đem trả lại hết tài-vật, rồi cả lũ đến đài giảng-pháp, qùi xuống lạy xin lỗi vị phu-nhơn. Bài pháp vừa dứt, Trưởng-lão Sơn-na vừa bước xuống đài, cả bọn cướp đến xin cải tà qui chánh.

 

Hôm sau, Trưởng-lão dẫn cả trăm tên đầu trộm đuôi cướp đang ăn-năn bước theo sau, đến chùa Kỳ-viên, xin xuất-gia tu-hành. Đức Phật tuỳ căn-cơ mỗi người mà nói lên chín bài Kệ sau đây:

 

Tỳ-kheo, tâm từ-bi an trú,

Tín-thành hành giáo-pháp Phật-đà;

Cảnh tịch-tĩnh Niết-bàn thành-tựu,

Các hành hữu-lậu được an-hoà.

(Kệ số 368.)

 

Thuyền rỗng-không nầy ví tấm thân,

Tỳ-kheo mau tát cho khô nước,

Hãy dập tắt ngay lửa tham-sân,

Thuyền nhẹ đi nhanh đến Niết-bàn.

(Kệ số 369.)

 

Cắt đứt NĂM là ngũ độn-sử,

Dứt bỏ NĂM là ngũ lợi-sử,

Trau-dồi NĂM là ngũ-lực,

Vượt khỏi NĂM là ngũ phược,

Đó gọi là bực "Vượt Bộc-lưu" .

(Kệ số 370.)

 

Tỳ-kheo, hãy hành thiền tinh-tấn,

Chớ thả tâm quanh-quẩn thú vui.

Phóng-dật, nuốt hòn sắt nóng đỏ,

Lửa điạ-ngục thiêu, chớ than khổ!

(Kệ số 371.)

 

Chẳng có định-tâm nơi người thiếu trí,

Chẳng có trí nơi kẻ thiếu định-tâm.

Vị nào được cả hai: định, huệ,

Vị ấy kề bên bệ Niết-bàn.

(Kệ số 372.)

 

Tỳ-kheo đến ẩn nơi vắng-vẻ,

Tâm-tư thường lặng-lẽ an-nhiên.

Chứng thông Giáo-pháp hành thiền,

Hưởng nguồn phỉ-lạc siêu-nhiên thoát trần.

(Kệ số 373.)

 

Mỗi khi quán-tưởng và thấu rõ

Các uẩn khởi-sanh rồi hoại-diệt,

Phỉ và lạc, tỳ-kheo hưởng-thọ,

Chỉ bực Bất-tử mới được biết.

(Kệ số 374.)

 

Đây là chỗ bắt đầu nỗ-lực,

Tỳ-kheo có trí, biết tri-túc,

Các giác-quan đều được thu-thúc,

Giới-luật căn-bản luôn nghiêm-trì.

(Kệ số 375.)

 

Bạn hiền gần-gũi khéo kết thân,

Đúng chánh-mạng, cử chỉ đoan-trang,

Do đó, thấm-nhuần trong phỉ-lạc,

Phiền-não sớm dứt, hướng Niết-bàn.

(Kệ số 376.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Sơn-na: tên vị Trưởng-lão nầy, tiếng Pali là Sona.

 

- Cưu-ra-ga: tên thành nầy, tiếng Pali là Kuraraghara.

 

- Tỉnh-ngộ = nhờ suy-nghĩ biết trước mình đã lầm, nay sửa lại.

 

- Bất-lương: Bất = chẳng; Lương = tốt. Bất-lương là chẳng ngay.

 

- Quả-báo: Quả = kết-quả, hậu-quả; Báo = báo ứng. Hễ làm điều lành, hưởng được lành, gọi là được quả-báo tốt. Ác-báo thì ngược lại.

 

- Cải tà qui chánh: Cải = sửa lại; Tà = quấy; Qui = theo về; Chánh = đúng, phải. Cải tà qui chánh là bỏ điều quấy để theo điều lành.

 

- Xuất-gia: Xuất = ra khỏi; Gia = nhà. Xuất-gia là bỏ đời sống có gia-đình trong xã-hội, vào chùa đi tu.

 

- Căn-cơ: tâm-tánh hay trí-huệ riêng-biệt của mỗi người.

 

- Từ-bi: Từ = ban vui; Bi = cứu-khổ. Tâm từ-bi rộng thương mọi loài

 

- Tín-thành: Tín = tin-tưởng; Thành = thật-tình. Tín-thành là lòng tin

 

- Phật-đà: tiếng Pali là Buddha; Phật là giác, là hiểu biết rõ.

 

- Tịch-tĩnh: Tịch = vắng; Tĩnh = yên-lặng.

 

- Các hành hữu-lậu: chữ Hành dịch nghĩa chữ Pali sankhàra, nghĩa rất rộng, ở đây, chỉ xin lấy một nghĩa hẹp là các hiện-tượng tâm-linh bên trong tâm; chữ hữu-lậu, hữu là có; lậu là (chất dơ) rỉ chảy ra. Các hành hữu-lậu nếu được hiểu gọn là phần tâm-linh bên trong bị nhiễm-ô thành các phiền-não như tham-sân, si, v.v., bộc lộ ra bằng các hành-động, lời nói, hay ý-tưởng chẳng lành. "Các hành hữu-lậu được an-hoà", là giữ cho thân-tâm được quân-bình, tỉnh-lặng.

 

- Ngũ độn-sử = năm món kết-sử thấp (kết =buộc; sử = sai khiến): (1) thân-kiến, chấp Thân làm Ta; (2) nghi, chẳng tin Chánh-pháp; (3) giới-cấm-thủ, tin theo các nghi-thức cúng-tế tà-đạo; (4) tham; (5)sân,

 

- Ngũ lợi-sử = năm món kết-sử cấp cao: (1) sắc-ái-kết, mê-luyến cảnh sắc-giới; (2) vô-sắc ái, mê-luyến cảnh vô-sắc-giới; (3) mạn, kiêu-căng; (4)trạo, giao-động, bối-rối; (5) vô-minh, si-mê, ngu-tối.

 

- Ngũ lực = năm sức mạnh tinh-thần: (1) tín-lực, niềm tin vững; (2) tinh-tấn-lực, nỗ-lực, cố-gắng; (3) niệm-lực, suy-nghĩ để phá các ác-kiến; (4) định-lực, tâm an-định phá các vọng-tưởng; (5) huệ-lực, trí sáng phá sự ngu-tối.

 

- Ngũ phược: (Phược = lấy dây mà trói buộc) = năm sự trói-buộc; đó là: tham, sân, si, mạn và tà-kiến.

 

- Vượt Bộc-lưu: Bộc-lưu là thác nước, từ trên cao cứ đổ xuống mãi. Bực Vượt Bộc-lưu là hàng Thánh đã phá mười kết-sử, dẹp năm sự trói-buộc, được năm sức-mạnh, tóm lại, đã giác-ngộ và giải-thoát.

 

- Phóng-dật = lười-biếng, buông-lung, chẳng cố-gắng.

 

- Kề bên bệ Niết-bàn: đến nơi ngưỡng cửa( = bệ) của Niết-bàn.

 

- Phỉ-Lạc: = niềm vui sướng. Phỉ, dịch chữ Pali Piti, niềm vui khi ngồi thiền đắc định. Lạc là các thú-vui, ở đây, chỉ thú vui tinh-thần.

 

- Siêu-nhiên: Siêu = vượt lên trên; Nhiên = tự-nhiên; Siêu-nhiên là khác với thế-tục, trần-thế; Thoát trần là vượt cảnh thường-tình.

 

- Quán-tưởng: khi ngồi định tâm, suy-nghĩ sâu-xa về một đề-tài.

 

- Uẩn: còn gọi là ấm, nghĩa là tập-hợp chung lại và che mờ. Thân-tâm con người có năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức.

 

- Bất-tử: Bất = chẳng; Tử = chết. Bực Bất-tử là bực đã chứng được vô-sanh, chẳng còn sanh lại nữa nên chẳng hề chết đi.( Bực A-la-hán)

 

- Tri-túc: Tri = biết;Túc = đủ. Tri-túc là biết vừa đủ, chẳng đòi thêm

 

- Thu-thúc: kềm-giữ, nhiếp-phục, điều-phục.

 

- Nghiêm-trì: Trì = giữ-gìn; Nghiêm-trì là tuân theo cẩn-thận.

 

- Chánh-mạng: Chánh = chơn-chánh; đứng-đắn; Mạng = mạng sống.Chánh-mạng là cách mưu-sanh đứng-đắn bằng nghề chơn-chánh

 

- Đoan-trang = nghiêm-trang và đứng-đắn.

 

- Niết-Bàn: tiếng Phạn Nirvana; Pali Nibbàna, tâm-trạng người dứt phiền-não, lìa mọi ham-muốn, chứng được vô-sanh, sống tự-tại.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại một vị phu-nhơn chăm-chú nghe Pháp, chẳng thèm lưu-tâm đến việc nhà đang bị trộm-cướp. Ý-nghĩa rất hứng-thú của Tích chuyện là thái-độ của vị phu-nhơn chẳng màng việc mất cả tài-sản, chỉ lo theo dõi bài giảng-pháp, đã làm thức-tỉnh được tên chúa-đảng khiến y và đồng-bọn biết cải-tà qui-chánh.

 

(2) Ý-nghĩa các bài Kệ từ số 368 đến số 376:

 

Mặc dầu các bài Kệ được Đức Phật đọc để dạy các tỳ-kheo, nhưng người tu tại-gia cũng có thể học-tập theo. Để tiện phân-tách chín bài Kệ, xin sắp xếp lại thành ra ba nhóm:

 

- Nhóm 1) Bốn bài dành cho người mới bắt đầu tu: số 375, 376, 368 và 369;

 

- Nhóm 2) Bốn bài khuyên tu Thiền: số 371, 372, 373 và 374.

 

- Nhóm 3) Một bài dành cho bực thượng-căn: số 370.

 

Nhóm 1:

 

Bài Kệ số 375: đây là bài Kệ quan-trọng, chỉ rõ khi mới vào tu phải làm những gì trước:

 

(a) có trí, tức là phải siêng-năng học-hỏi giáo-lý;

 

(b) biết tri-túc, tức là dẹp bỏ mọi đòi hỏi, biết vừa đủ;

 

(c) các giác-quan đều được thu-thúc, tức là kềm-giữ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, chẳng đua đòi chạy theo cảnh-vật bên ngoài;

 

(d) giới-luật căn-bản luôn nghiêm-trì, tức là theo đúng thật kỹ-lưỡng mọi điều ngăn-cấm, tự đặt mình trong vòng kỷ-luật khắt-khe, để buộc thân-tâm vững tiến trên đường tu-tập.

 

Bài Kệ số 376: dạy phải noi gương theo những gì để tu-tập:

 

(a) gần-gũi, kết thân với bạn hiền: được khuyên-nhũ làm điều lành, được an-ủi khi lo-lắng, được vui khi cùng tu với nhau;

 

(b) đúng Chánh-mạng: nếu xuất-gia, theo đúng hạnh khất-sĩ, dẹp được lòng tự-ái, ngã-mạn khi đi xin; nếu tại-gia, làm tròn nhiệm-vụ trong khi hành-nghề chơn-chánh;

 

(c) cử-chỉ đoan-trang: trong các oai-nghi: đi, đứng, nằm, ngồi, nói và nín, đều nghiêm-trang, tập theo cách của người bạn hiền đi trước;

 

(d) phiền-não dứt, được phỉ-lạc, hướng đến Niết-bàn: nhờ có bạn hiền cùng tu, nên phiền-não sớm dứt, được niềm vui thanh-cao, hướng đ(c) sớm chứng được cảnh tịch-tĩnh Niết-bàn, nhờ các hành hữu-lậu ( = các phiền-não nơi thân-tâm) trở nên an-hoà: đây là kết-quả từ-từ trên bước đường tu-tập, vui mà nhận thấy mình có tiến-bộ.

 

Bài Kệ số 369: đây là bài Kệ nên học thuộc lòng, vì hình-ảnh "chiếc thuyền rỗng-không" đáng ghi-nhớ mãi trong tâm-khảm:

 

(a) Thuyền rỗng-không nầy ví tấm thân: thân-tâm nầy do năm uẩn tạm hợp, sẽ tan-rả, nên xét kỹ mà thấy nó thật là rỗng-không;

 

(b) Tát cho khô nước tức là dập tắt ngay lửa tham, sân: thuyền khô nước trở nên nhẹ-nhàng, thân-tâm dẹp sạch tham-sân trở nên thanh-tịnh, đó là điều-kiện tốt để sớm chứng được cảnh Niết-bàn;

 

(c) Thuyền nhẹ đi nhanh đến Niết-bàn: hình-ảnh ngồi thuyền đi nhanh đến Niết-bàn rất ư là ... thơ-mộng.

 

Tóm lại, các bài Kệ thuộc nhóm 1 đặt căn-bản cho việc bắt đầu tu-tập: niềm tin vững-chắc, giới-luật nghiêm-trì, kết thân bạn hiền, phát tâm Từ-Bi, dẹp lòng tham-sân.

 

Nhóm 2: ghi rõ các bước để tu Thiền:

 

Bài Kệ số 371: bước đầu tu Thiền là tập gom Tâm lại, tức là hết sức đến sự giác-ngộ và giải-thoát của Niết-bàn.

 

Bài Kệ số 368: dạy hai đức-tánh căn-bản của người tu-hành: tâm Từ-Bi và niềm tin vững-chắc:

 

(a) Tâm an-trú trong Từ-Bi: luôn luôn đem nguồn vui đến cho mọi người, cứu khổ cho mọi loài;

 

(b) Tín-thành theo giáo-pháp Phật-đà: Tâm Bồ-đề thật kiên-cố, dẹp mọi nghi-ngờ, tránh được sự thối-chí;

 

chú-ý và tập-trung tư-tưởng.

 

(a) ...hành Thiền tinh-tấn, chớ thả Tâm quanh-quẩn thú-vui: theo dõi hơi thở, giữ chánh-niệm và tỉnh-giác thì Tâm phải ngừng lại, chẳng thể nào chạy lang-thang theo thú-vui bên ngoài được;

 

(b) Phóng-dật, nuốt hòn sắt nóng đỏ, Lửa điạ-ngục thiêu, chớ than khổ!: Tỳ-kheo nhận của bố-thí mà chẳng lo tu-hành, phóng-dật, lười-biếng thì sẽ sa điạ-ngục, nuốt sắt nóng đỏ, uống nước đồng sôi. Người tại-gia tu thiền mà giãi-đãi, lúc tu lúc không, sẽ bị ngoại-cảnh lôi-cuốn theo các thú-vui vật-chất thấp-kém, khiến sa vào cõi ác khi tái-sanh. Đây là lời Phật cảnh-cáo cho cả xuất-gia và tại-gia.

 

Bài Kệ số 372: tu Thiền đắc được Định và Huệ, tiến đến cảnh giác-ngộ và giải-thoát của Niết-bàn.

 

(a) Chẳng có định-tâm nơi người thiếu trí: người thiếu trí khi tu Thiền chẳng biết cách gom tâm lại để kéo dài sự chú-ý, thì làm sao mà tâm an-định được;

 

(b) Chẳng có trí nơi người thiếu định-tâm: điều nầy dễ thấy, vì người để tâm chạy lang-thang, chẳng chú-ý, làm sao nhìn rõ, thấy rõ, biết rõ cho được, đó chẳng phải thiếu trí hay sao;

 

(c)... được cả hai Định, Huệ, ... kề bên bệ Niết-bàn: Tâm an-định, Trí-huệ phát-sáng, thấy đúng đường-lối tu-hành, thì ngày chứng được Niết-bàn đã gần kề.

 

Bài Kệ số 373: phương-cách tập Thiền, chọn nơi vắng-vẻ.

 

(a) Tỳ-kheo đến ẩn nơi vắng-vẻ: Đức Phật thường khuyên tỳ-kheo nên vào rừng vắng để dễ tu Thiền; ngày nay ta có thể chọn căn phòng vắng, vào giờ thuận-tiện sáng sớm, hay khuya trước khi đi ngủ, tâm dễ lắng yên, chẳng bị ngoại-cảnh chi-phối;

 

(b) Tâm-tư thường lặng-lẽ an-nhiên: đến nơi vắng chưa đủ, tâm còn phải vắng nữa, phải lặng-lẽ nữa, mới đủ điều-kiện để tập Thiền. Tâm lặng-lẽ cách nào? Dẹp bỏ hết mọi ý-nghĩ vẩn-vơ, đuổi hết các ý-nghĩ giận người nầy, thương người kia, ganh-tị với bạn-bè, v.v.

 

(c) Chứng thông giáo-pháp hành-thiền: tu Thiền, nên có Thầy hướng-dẫn, chẳng những tránh được các đường tẻ, khỏi lọt vào tà-kiến, tà-định, mà còn biết những điểm còn thiếu-sót để sửa-chữa.

 

(d) Hưởng nguồn phỉ-lạc siêu-nhiên thoát trần: trong khi ngồi Thiền, quên được các mối lo-âu nơi cuộc sống thế-tục, chính giờ phút đó là đang hưởng nguồn phỉ-lạc, vui-sướng vì tâm-trí được nhẹ-nhàng.

 

Bài Kệ số 374: cách quán-tưởng khi ngồi Thiền.

 

(a) Mỗi khi quán-tưởng thấu rõ, Các uẩn khởi-sanh rồi hoại-diệt: đây là chọn đề-tài quán-tưởng về thân-tâm ngũ-uẩn. Ngồi Thiền, khi tâm bắt đầu an-định, nhờ sức quán-tưởng mạnh ( = chú-tâm), chiếu soi được các khía-cạnh của đề-tài, lần-lượt nhận ra được chơn-lý. Trong đề-tài quán thân-tâm ngũ uẩn, nhìn biết rõ sự khởi-sanh của các ý-tưởng bên trong, sự kéo dài trong khoảnh-khắc và sự biến mất của chúng, đó là theo dõi được sự khởi-sanh và hoại-diệt của một ý-tưởng trong tưởng-uẩn. Với kinh-nghiệm, sẽ chứng tánh-cách vô-thường, vô-ngã của mỗi uẩn, mà nhận ra thân-tâm năm uẩn vốn rỗng-không.

 

(b) Phỉ và lạc, tỳ-kheo hưởng-thọ, Chỉ bực Bất-tử mới được biết: Chứng được định-tâm, hành-giả cảm thấy thân-tâm nhẹ-nhàng, thấm nhuần một niềm vui thanh-khiết, đó là phỉ. Vì biết rõ trong thời gian tịnh-tu, tâm rỗng-rang, chẳng vướng-bận lo-lắng, ưu-phiền, đó là sự vắng-mặt của Khổ, tức là đang hưởng Lạc, vui vì hết khổ trong lúc ấy. Kéo dài được tâm-trạng thanh-thản, an-nhiên nầy, là các bực đã chứng được các quả vị Thánh, gọi là bực Bất-tử ( = hết bị tái-sanh.)

 

Tóm lại, đường lối tu Thiền: chọn nơi vắng-vẻ, dọn sạch Tâm, chú-ý mạnh, quán-tưởng sâu, đắc định, và huệ sẽ chói-sáng.

 

Nhóm 3:

 

Bài Kệ số 370: dành cho bực căn-cơ cao, dạy phải dẹp mười kết-sử, vượt qua năm dây ràng-buộc, trau-dồi năm sức mạnh tinh-thần

 

(a) Cắt đứt năm độn-sử: trong số nầy, có ba kết-sử chẳng quá khó vượt qua, để chứng được quả thứ nhứt là Tu-đà-huờn: đừng chấp chặt vào thân; dứt nghi về Chánh-pháp; bỏ mọi mê-tín tà-đạo.

 

(b) Dứt bỏ năm lợi-sử: năm lợi-sử khó dẹp là vì thiếu sự quân-bình giữa định và huệ; giữ định, huệ bằng nhau, nhờ giới phụ giúp vào, sẽ chiến-thắng nốt năm lợi-sử.

 

(c) Bực"Vượt Bộc-lưu" là bực Thánh đã vượt qua được thác gành, nhờ trau-dồi năm sức-mạnh, để dẹp năm dây trói-buộc. Kể ra thì nhiều, 5x4 món tất cả, người tu tại-gia chỉ cần nhớ ba món độc: tham, sân, si, dồn nỗ-lực để tiêu-diệt chúng là được kề bên Niết-bàn.

The Story of a Great Many Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (368) to (376) of this book, with reference to nine hundred bhikkhus.

Once there was a very rich lady in the town of Kuraraghara, about one hundred and twenty yojanas from Savatthi. She had a son who had become a bhikkhu; his name was Sona. On one occasion, Bhikkhu Sona passed through his home town. On his return from the Jetavana monastery his mother met him and organized a grand charity in his honour. Having heard that Bhikkhu Sona could expound the Dhamma very well she also requested him to expound the Dhamma to her and other people of the home town. Bhikkhu Sona complied with her request. So a pavilion was built and a meeting was organized for Bhikkhu Sona to give a discourse. There was a large gathering at the pavilion; the mother of the bhikkhu also went to listen to the Dhamma expounded by her son. She took all the members of her household with her leaving only a maid to look after the house.

While the lady was away, some thieves broke into the house. Their leader, however, went to the pavilion where the mistress of the house was, sat down near her and kept an eye on her. His intention was to get rid of her should she return home early on learning about the theft at her house. The maid seeing the thieves breaking into the house went to report the matter to her mistress, but the lady only said, "Let the thieves take all my money, I don't care; but do not come and disturb me while I am listening to the Dhamma. You'd better go back." So the maid went home.

There the girl saw the thieves breaking into the room where her mistress kept all her silverware. Again she went to the pavilion where her mistress was and reported to her that the thieves were taking away her silverware, but she was given the same answer as before. So she had to go back to the house. There she saw the thieves breaking into the room where her mistress kept her gold and she reported the matter to her mistress. This time, her mistress shouted at her, "O dear! Let the thieves take whatever they wish to take; why do you have to come and worry me again when I am listening to a discourse on the Dhamma? Why did you not go back when I told you to? Don't you dare come near me again and say things about the theft or the thieves."

The leader of the gang of thieves who was close at hand heard everything the lady had said and he was extremely surprised. Her words also kept him thinking, "If we take away the property of this wise and noble person, we will surely be punished; we might even be struck by lightning and our heads broken into many pieces." The leader got alarmed over this possibility and he hurried back to the house of the lady and made his followers return all the things they had taken. He then took all his followers to where the mistress of the house was; she was still at the pavilion, listening attentively to the Dhamma.

Thera Sona finished his exposition on the Dhamma with the crack of dawn and came down from the dais from where he had expounded the Dhamma. The leader of the thieves approached the rich, noble lady, paid respect to her and revealed his identity to her. He also related to her how they had plundered her house and also that they had returned all her property on hearing her words to her maid, who reported the theft to her during the night. Then, the leader and all the thieves asked the lady to forgive them for having wronged her. Then, they asked Thera Sona to admit them to the Order of bhikkhus. After the admission, each one of the nine hundred bhikkhus took a subject of meditation from Thera Sona and went to the nearby forest to practise meditation in seclusion.

From a distance of one hundred and twenty yojanas, the Buddha saw those bhikkhus and sent forth his radiance to them so that he seemed to be sitting in their midst.

Then noticing their individual dispositions, the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 368: The bhikkhu who lives exercising loving-kindness and is devoted to the Teaching of the Buddha will realize Nibbana — the Tranquil, the Unconditioned, the Blissful.
Verse 369: O bhikkhu, bale out the water (of wrong thoughts) from this boat (your body); when empty it will sail swiftly; having cut off passion and ill will you will realize Nibbana.
Verse 370: Cut off the five (the lower five fetters) give up the five (the upper five fetters); and develop the five (controlling faculties). The bhikkhu who has freed himself of the five bonds (passion, ill will, ignorance, pride and wrong view) is called "One who has crossed the flood (of samsara)."
Verse 371: O Bhikkhu, mediate, and do not be unmindful; do not let your mind rejoice in sensual pleasures. Do not be unmindful and swallow the (hot) lump of iron; as you burn (in niraya) do not cry, "This, indeed, is suffering."
Verse 372: There can be no concentration in one who lacks wisdom; there can be no wisdom in one who lacks concentration. He who has concentration as well as wisdom is, indeed, close to Nibbana.
Verse 373: The bhikkhu who goes into seclusion (to meditate), whose mind is tranquil, who clearly perceives the Dhamma, experiences the joy which transcends that of (ordinary) men.
Verse 374: Every time he clearly comprehends the arising and the perishing of the khandhas, he finds joy and rapture. That, to the wise, is the way to Nibbana (the Deathless).
Verse 375: For a wise bhikkhu in this Teaching, this is the beginning (of the practice leading to Nibbana): control of the senses, contentment, and restraint according to the Fundamental Precepts.
Verse 376: Associate with good friends, who are energetic and whose livelihood is pure; let him be amiable and be correct in his conduct. Then, (frequently) feeling much joy he will make an end of dukkha (of the round of rebirths).


At the end of each verse, one hundred out of the nine hundred bhikkhus attained arahatship.

Dhammapada Verses 368 to 376
Sambahulabhikkhu Vatthu

Mettavihari yo bhikkhu
pasanno buddhasasane
adhigacche padam santam
sankharupasamam sukham.

Sinca bhikkhu imam navam
sitta te lahumessati
chetva raganca dosanca
tato nibbanamehisi.

Panca1 chinde panca2 jahe
panca
3 cuttari bhavaye
pancasangatigo
4 bhikkhu
"oghatinno" ti vuccati.

Jhaya bhikkhu ma pamado
ma te kamagune ramessu cittam
ma lohagulam gili pamatto
ma kandi "dukkhamidan" ti dayhamano.

Natthi jhanam apannassa
panna natthi ajhayato
yamhi jhananca panna ca
sa ve nibbanasantike.

Sunnagaram pavitthassa
santacittassa bhikkhuno
amanusi rati hoti
samma dhammam vipassato.

Yato yato sammasati
khandhanam udayabbayam
labhati pitipamojjam
amatam tam vijanatam.

Tatrayamadi bhavati
idha pannassa bhikkhuno
indriyagutti santutthi
patimokkhe ca samvaro.

Mitte bhajassu kalyane
suddhajive atandite
patisantharavutyassa
acarakusalo siya
tato pamojjabahulo
5
dukkhassantam karissati.

Verse 368: The bhikkhu who lives exercising loving-kindness and is devoted to the Teaching of the Buddha will realize Nibbana — the Tranquil, the Unconditioned, the Blissful.

Verse 369: O bhikkhu, bale out the water (of wrong thoughts) from this boat (your body); when empty it will sail swiftly; having cut off passion and ill will you will realize Nibbana.

Verse 370: Cut off the five (the lower five fetters) give up the five (the upper five fetters); and develop the five (controlling faculties). The bhikkhu who has freed himself of the five bonds (passion, ill will, ignorance, pride and wrong view) is called "One who has crossed the flood (of samsara)."

Verse 371: O Bhikkhu, mediate, and do not be unmindful; do not let your mind rejoice in sensual pleasures. Do not be unmindful and swallow the (hot) lump of iron; as you burn (in niraya) do not cry, "This, indeed, is suffering."

Verse 372: There can be no concentration in one who lacks wisdom; there can be no wisdom in one who lacks concentration. He who has concentration as well as wisdom is, indeed, close to Nibbana.

Verse 373: The bhikkhu who goes into seclusion (to meditate), whose mind is tranquil, who clearly perceives the Dhamma, experiences the joy which transcends that of (ordinary) men.

Verse 374: Every time he clearly comprehends the arising and the perishing of the khandhas, he finds joy and rapture. That, to the wise, is the way to Nibbana (the Deathless).

Verse 375: For a wise bhikkhu in this Teaching, this is the beginning (of the practice leading to Nibbana): control of the senses, contentment, and restraint according to the Fundamental Precepts.

Verse 376: Associate with good friends, who are energetic and whose livelihood is pure; let him be amiable and be correct in his conduct. Then, (frequently) feeling much joy he will make an end of dukkha (of the round of rebirths).


1. The lower five fetters (Orambhagiya samyojana) are: ego belief (sakkayaditthi); doubt (vicikkiccha); wrong views of morality and practices (silabbataparamasa); sensual desire (kamaraga) and ill will (byapada). These can be got rid of by the first, second and third Maggas.

2. The upper five fetters (Uddhambhagiya samyojana) are: craving for fine material existences (rupa raga); craving for non-material existences (arupa raga); pride (mana); restlessness (uddhacca) and ignorance (avijja). These five can be got rid of by arahatship.

3. The five controlling faculties (Pancindriya) are: faith (saddha); diligence (viriya); mindfulness (sati); concentration (samadhi) and wisdom (panna).

4. The five sangas are: passion, ill will, ignorance, pride and wrong views.

5. pamojjabahulo: lit., much joy; according to the Commentary, in this context, frequently feeling joy.


dhp377_B
Verse-Kệ 377

(259).- Tích chuyện Tỳ-kheo nhìn hoa lài rơi khi ngồi Thiền - Kệ số 377

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến các vị tỳ-kheo nhìn hoa lài rơi rụng trong giờ tập Thiền.

 

Thuở ấy có năm trăm vị tỳ-kheo được Đức Phật chỉ-dạy cho mỗi người một đề-tài thiền-quán, liền đi vào rừng vắng, nỗ-lực tu-tập Thiền-định. Nơi đây, họ nhìn thấy các bông hoa lài nở tươi-đẹp vào buổi sáng, rồi đến chiều thì tàn-tạ, lả-tả rơi khỏi cành. Trông thấy cảnh ấy, các vị tỳ-kheo mới cố-gắng dẹp bỏ mọi lậu-hoặc trong tâm, cũng như cành lài rủ bõ các bông-hoa tàn-héo. Bấy giờ, Đức Phật, từ nơi hương-phòng, quán thấy tâm-trạng của các vị tỳ-kheo, Ngài phóng đạo hào-quang đến khu rừng, khiến các vị tỳ-kheo nhìn thấy Đức Phật trong tâm họ, và nghe lời dạy rằng: "Nầy chư tỳ-kheo, cũng như cây lài giũ bỏ các cánh hoa tàn-héo, tỳ-kheo nỗ-lực dẹp bỏ mọi lậu-hoặc trong tâm, để sớm ra khỏi vòng tái-sanh lận-đận của Luân-hồi."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó nhiều vị tỳ-kheo đã chứng được quả-vị A-la-hán:

 

Như cây lài rủ bỏ hoa tàn-héo,

Tỳ-kheo, nên khéo trút sạch tham-sân.

(Kệ số 377.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Đề-tài thiền-quán: một đầu-đề để suy-nghĩ sâu-xa khi ngồi Thiền

 

- Lậu-hoặc: Lậu = rỉ chảy ra; Hoặc = điều sai-lầm. Lậu-hoặc là các phiền-não tham, sân, si,v.v. khởi nơi tâm, lộ ra bằng hành-động xấu.

 

- Hương-phòng: căn phòng có hương thơm, dành riêng cho Đức Phật, tiếng Pali là Gandhakuti.

 

- Hào-quang: ánh-sáng rực-rỡ toả chiếu từ vị tu-hành định-lực cao.

 

- Luân-Hồi: Luân = bánh xe; Hồi = trở lại. Theo giáo-lý nhà Phật, chúng-sanh khi chết đi phải tùy nghiệp mà tái-sanh trở lại, để rồi chết nữa, lẩn-quẩn mãi, tựa như bánh xe cứ lăn tròn vòng (Pali: Samsàra.)

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện rất đơn-sơ: các vị tỳ-kheo khi tập Thiền, nhơn nhìn thấy hoa lài rơi tàn-tạ khỏi cành cây, quyết nỗ-lực dẹp bỏ lậu-hoặc tham, sân, si... ra khỏi tâm, như cành cây giũ bỏ hoa héo.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 377:

 

Bài Kệ cũng rất rõ nghĩa: khi tu Thiền, phải dẹp ra khỏi tâm các lậu-hoặc tham, sân, mới mong sớm đắc dược định-tâm.

The Story of Five Hundred Bhikkhus

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (377) of this book, with reference to five hundred bhikkhus.

Five hundred bhikkhus from Savatthi, after taking a subject of meditation from the Buddha, set out for the forest to practise meditation. There, they noticed that the jasmine flowers which bloomed in the early morning dropped off from the plants onto the ground in the evening. Then the bhikkhus resolved that they would strive hard to free themselves from all moral defilements even before the flowers were shed from the plants. The Buddha, through his supernormal power, saw them from his Perfumed Chamber. He therefore sent forth his radiance to them and made them feel his presence. To them the Buddha said, "Bhikkhus! As the withered flower is shed from the plant, so also, should a bhikkhu strive to free himself from the round of rebirths."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 377: O bhikkhus! As the jasmin (vassika) plant sheds its withered flowers, so also, should you shed passion and ill will.


At the end of the discourse the five hundred bhikkhus attained arahatship.

Dhammapada Verse 377
Pancasatabhikkhu Vatthu

Vassika viya pupphani
maddavani pamuncati
evam raganca dosanca
vippamuncetha bhikkhavo.

Verse 377: O bhikkhus! As the jasmine (vassika) plant sheds its withered flowers, so also, should you shed passion and ill will.


dhp378_B
Verse-Kệ 378

(260).- Tích chuyện Trưởng-lão San-ta-kha - Kệ số 378

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp có đề-cập đến Trưởng-lão San-ta-kha.

 

Thuở ấy, ở chùa Kỳ-viên, có một vị tỳ-kheo tên là San-ta-kha, tánh-tình rất trầm-tĩnh, đi đứng nghiêm-trang, thường ngồi, nằm nơi vắng-vẻ, ít nói, ít tiếp-chuyện với bạn đồng-tu. Các vị tỳ-kheo cho thái-độ lặng-lẽ đó có vẻ khác thường, mới đến thưa-trình cùng Đức Phật. Đức Phật bảo: "Nầy chư Tăng, tỳ-kheo San-ta-kha kiếp trước là một con sư-tử chúa, dáng-điệu rất oai-vệ, săn được mồi, ăn xong liền nằm im, lặng-lẽ. Thái-độ trầm-tĩnh ngày nay của tỳ-kheo San-ta-kha rất đáng khen ngợi, các tỳ-kheo nên noi theo gương đó."

 

Rồi Đức Phật nói lên bài Kệ sau đây:

 

Thân an-tịnh, lời cùng an-tịnh,

Ý an-tịnh, tâm thường giác-tỉnh.

Mọi thế-sự, tỳ-kheo dẹp qua,

Mới xứng danh là "Bực tịch-tịnh"

(Kệ số 378.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- San-ta-kha: tên vị Trưởng-lão nầy, tiếng Pali là Santakàya, có nghĩa là thân an-tịnh.

 

- Trầm-tĩnh: Trầm = chìm; Tĩnh = yên-lặng; Trầm-tĩnh là an-tịnh.

 

- Giác-tỉnh: Tỉnh-giác: Tỉnh = thức-tỉnh, chẳng mê; Giác = biết rõ. Tâm giác-tỉnh là luôn luôn giữ chánh-niệm, làm gì, nói gì, nghĩ gì, tâm đều đang biết rõ điều ấy và chỉ điều ấy mà thôi, chẳng lo ra việc khác.

 

- Thế-sự: Thế = đời; Sự = việc. Thế-sự là việc đời, việc thiên-hạ.

 

- Bực tịch-tịnh: dịch chữ Pali Muni, chữ Hán-Việt là Mâu-ni, có nghĩa là trầm-tĩnh, an-nhiên. Mâu-ni là danh-hiệu PhậtThích-ca Mâu-ni

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc các tỳ-kheo hiểu lầm thái-độ trầm-tĩnh, ít nói của Trưởng-lão San-ta-kha, cho đó là khác thường. Nhưng Đức Phật nhắc đến tiền-kiếp làm sư-tử chúa của Trưởng-lão, đi đứng oai-vệ, nằm ngồi lặng-lẽ và khuyên các tỳ-kheo nên noi gương trầm-tĩnh đó của Trưởng-lão.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện là: phải giữ thân-tâm an-tịnh, bằng cách giữ thân trầm-tĩnh, lời nói trầm-tĩnh và ý-nghĩ trầm-tĩnh, cả ba nghiệp đều thanh-tịnh.

 

(2) Ý-nghĩa của bài Kệ số 378:

 

Bài kệ dạy ta một điều rất quan-trọng trong việc tu-hành: giữ thân-tâm cho an-tịnh, đó là đường-lối tu tâm.

 

Xin phân-tách từng câu:

 

1) Thân an-tịnh, lời cùng an-tịnh: đây là nói về nghiệp thân và nghiệp khẩu ( = miệng). Thân an-tịnh có cử-chỉ từ-tốn, chẳng vụt-chạc, nghiêm-trang. Lời nói an-tịnh thì dễ nghe, dịu-dàng, ôn-tồn, khiến người nghe được vui lòng. Hai nghiệp nầy mà tịnh được thì tránh được biết bao tội-ác, gây thêm được biết bao căn lành.

 

2) Ý an-tịnh, tâm thường giác-tỉnh: đây là nói về ý-nghiệp, quan-trọng nhứt trong ba nghiệp, vì ý-nghiệp dẫn ta đi thác-sanh. Tâm tỉnh-giác được là nhờ luôn luôn giữ chánh-niệm, làm gì, nói gì, nghĩ gì, đều biết rõ cả, chẳng buông-lung chạy theo ngoại-cảnh.

 

3) Mọi thế-sự, tỳ-kheo dẹp qua, Mới xứng danh là "Bực tịch-tỉnh": dẹp chuyện Đời qua một bên, để lo chuyện Đạo, tức là lo tu sửa tâm-tánh mình. Người biết sống một mình, hằng theo dõi mọi biến-chuyển trong tâm mình, mới xứng danh là người theo gót Đức Mâu-ni.

The Story of Thera Santakaya

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verse (378) of this book, with reference to Thera Santakaya.

There was once a Thera named Santakaya, who had been a lion in his past existence. It is said that lions usually go out in search of food one day and then rest in a cave for the next seven days without moving. Thera Santakaya, having been a lion in his last existence, behaved very much like a lion. He moved about very little; his moments were slow and steady; and he was usually calm and composed. Other bhikkhus took his behaviour to be very queer and they reported about him to the Buddha. After hearing the account given by the bhikkhus, the Buddha said to all of them "Bhikkhus! A bhikkhu should be calm and composed; he should behave like Santakaya."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 378: The bhikkhu who is calm in body, calm in speech, and calm in mind, who is well-composed and has given up (lit., vomited) worldly pleasures, is called a "Tranquil One".


At the end of the discourse Thera Santakaya attained arahatship.

Dhammapada Verse 378
Santakayatthera Vatthu

Santakayo santavaco
santava susamahito
vantalokamiso bhikkhu
"Upasanto" ti vuccati.

Verse 378: The bhikkhu who is calm in body, calm in speech, and calm in mind, who is well-composed and has given up (lit., vomited) worldly pleasures, is called a "Tranquil One".


dhp379_B
dhp380_B
Verse-Kệ 379-380

(261).- Tích chuyện Trưởng-lãi Nan-ga-la - Kệ số 379 và 380

 

Tích chuyện nầy hơi giống với Tích chuyện số (116), về Trưởng-lão Phí-lộ-thi.

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ, trong một kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến Trưởng-lão Nan-ga-la.

 

Thuở ấy, ở nước Xá-vệ, có một người nông-phu nghèo khó phải đi cày ruộng mướn cho chủ, rất cực-khổ. Một hôm, một vị tỳ-kheo đi ngang qua, thấy anh ngồi nghỉ bên bờ ruộng, mới hỏi thăm. Biết cảnh khó-nhọc của kẻ làm mướn chẳng đủ ăn, vị tỳ-kheo hỏi anh có muốn đi tu không. Anh đồng-ý, theo vào chùa, làm lễ xuất-gia. Theo lời thầy dạy, vị tỳ-kheo mới đem cái cày và quần-áo cũ rách-rưới của mình, ra bỏ nơi gốc cây gần chùa. Thời-gian sau, ăn uống no đủ, anh mập-mạp ra, nhưng trong lòng lại nhớ đến cảnh sống ngày xưa và bắt đầu chán-ngán cuộc đời tu-hành. Anh liền đi đến bên gốc cây, nhìn lại chiếc cày và đống quần-áo cũ, thầm trách mình: "Sao mình chẳng biết hổ-thẹn, đã đi tu để được giải-thoát, lại còn muốn quay về với cuộc đời bần-cùng với chiếc cày nặng, với đống giẻ rách nầy?" Tự-trách mình như thế, ý-tưởng quay về đời sống thế-tục liền tan biến, anh trở lại chùa. Rồi độ bốn năm ngày sau, ý ấy lại khởi lên trong tâm anh, anh cũng trở lại gốc cây, cũng tự-trách như trước nữa. Các vị tỳ-kheo khác thấy anh mỗi tuần hai lần đi thăm chiếc cày như thế, mới đặt tên anh là tỳ-kheo Nan-ga-la, có nghĩa là chiếc cày.

 

Bẵng đi một dạo, chẳng thấy Nan-ga-la đi thăm gốc cây nữa, các vị tỳ-kheo lấy làm lạ, mới hỏi lý-do. Nan-ga-la đáp: "Trước kia tôi thường đến đấy, để thăm "thầy tôi" và học-hỏi thêm, nay tôi thấy chẳng còn cần-thiết nữa, nên thôi." Cho rằng Nan-ga-la có ý bảo ngầm rằng, mình nay đã thành bực vô-học, các vị tỳ-kheo ấy mới đến thưa cùng Đức Phật: "Bạch Thế-tôn, tỳ-kheo Nan-ga-la tự-phụ bảo mình là bực vô-học chứng quả A-la-hán." Đức Phật bảo: ‘Nầy chư Tỳ-kheo, Nan-ga-la là người biết tự quán-sát mình, tự-trách mình và tự tu sửa mình, quả thật, đã chứng được quả-vị A-la-hán."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Tỳ-kheo, hãy tự kiểm-thảo mình,

Tự mình phòng-hộ và dò soát.

Tâm-tư hằng tỉnh-giác,

Cuộc sống được an-lành.

(Kệ số 379.)

 

Mình là nơi mình đang nương-tựa,

Ta đi tìm ẩn-trú nơi ta.

Thế nên tự-chế, chớ lơ-là,

Như khách thương luyện thuần bầy ngựa.

(Kệ số 380.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Nan-ga-la: biệt-hiệu của vị Trưởng-lão nầy, Pali là: Nangalakula

 

- Xuất-gia: Xuất = ra khỏi; Gia = nhà; Xuất-gia là bỏ đời sống thế-tục, rời gia-đình, vào chùa tu.

 

- Thế-tục: Thế = đời; Tục = thường; Đời Thế-tục là đời sống của thường-nhơn có gia-đình trong xã-hội.

 

- Vô-học: dịch chữ Pali Asekha, bực đã học-hỏi xong cách diệt-trừ các phiền-não và tu-tập thành-công. Trái với bực vô-học, là bực hữu-học (Sekha), thấp hơn, còn phiền-não, cần học-tập cách tận-diệt các lậu-hoặc. Chứng được quả Thánh A-la-hán mới lên hàng Vô-học.

 

- Tự-phụ = khoe-khoang, tự-cao, xem mình là hơn.

 

- Tự-kiểm-thảo: tự mình xét lấy lỗi mình để tu sửa lại

 

- Phòng-hộ = bảo-vệ, giữ-gìn cẩn-thận.

 

- Tự-chế = tự mình kềm-chế lấy mình, chẳng buông lơ.

 

- Khách thương = người buôn-bán, làm nghề thương-mãi.

 

- Luyện thuần = huấn-luyện cho thuần-thục, nhuần-nhã, dễ khiến

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại một người nông-phu đi tu, mỗi khi trong tâm khởi lên ý-tưởng muốn quay về đời sống thế-tục, mới đến bên gốc cây, nhìn chiếc cày và đống quần-áo cũ, mà tự-trách mình sao chẳng chuyên-tu. Nhờ biết tự kiểm-thảo như thế, chẳng bao lâu người ấy trở thành bực vô-học, chứng quả Thánh.

 

(2) Ý-nghĩa của hai bài Kệ số 379 và 380:

 

Hai bài Kệ khuyên ta phải biết thường thưòng xét lỗi của chính mình, để tu sửa lại, chẳng nên lơ-là.

 

Bài Kệ số 379: khuyên hai điều: (1) tự kiểm-soát; (2) tỉnh-giác

 

1) Tỳ kheo, hãy tư kiểm-thảo mình, Tự mình phòng-hộ và dò-soát: Tự mình kiểm-thảo, phòng-hộ, dò-soát là biết nhìn vào trong tâm mình, xét thấy các lỗi-lầm của mình và tự mình sửa lại.

 

2) Tâm-tư hằng tỉnh-giác, Cuộc sống được an-lành: Muốn tự mình kiểm-thảo lấy mình cho đúng-đắn, tâm phải luôn luôn tỉnh-giác, nghĩa là mọi biến-chuyển trong lòng, đều được chánh-niệm theo dõi.

 

Chánh-niệm là gì? Chánh-niệm là niệm-giác, ý-nghĩ đứng-đắn khởi lên trong tâm để nhận-biết các ý-niệm khác vừa xảy ra trong tâm, ngay lúc chúng đang khởi lên, trong lúc chúng đang kéo dài, và lúc chúng đã tan biến đi. Niệm-giác chính là tâm đang nhìn chính tâm, biết rõ những gì đang diễn-biến nơi tâm. Đó cũng như vị cảnh-sát từ bên trong tâm, đang đứng ra canh-chừng tâm, tuy chẳng chuyên-chở thêm một ý-tưởng nào, một ý-niệm nào, nhưng lại biết rõ tất cả các niệm khác vừa hiện-diện nơi tâm.

 

Thông-thường, ta cứ để tâm muốn chạy đi đâu cũng chẳng để-ý, đó là cảnh thất-niệm tức là đang đánh mất chánh-niệm. Thắp sáng lên Chánh-niệm là ngay trong lúc lơ-là, liền bừng-tỉnh lại, chú-tâm nhìn vào tâm, ấy là gọi chánh-niệm chổi dậy nơi mình để theo dõi tâm.

 

Tu tâm là phải bắt đầu thắp sáng lên Chánh-niệm nơi tâm, giữ-gìn mãi chánh-niệm ấy, chẳng phút lơ-là, chẳng phút thất-niệm.

 

Bài Kệ số 380: khuyên ta phải biết tự-chế, chớ lơ-là, chớ buông-lung cho tâm chạy lang-thang.

 

1) Mình là nơi mình đang nương-tựa: chẳng có nơi nương-tựa nào an-toàn bằng chính tâm thanh-tịnh của mình. Muốn tâm mình an-tịnh, phải biết tự-chế, nghĩa là thắp sáng Chánh-niệm để luôn luôn tự kiểm-soát lấy mình, chận-đuổi mọi vọng-tưởng khởi lên trong tâm.

 

2)...Nên tự-chế,...như khách thương luyện thuần bầy ngựa: dùng Chánh-niệm dẹp yên "bầy ngựa ý" trong tâm, cũng giống như vị khách thương tập-luyện bầy ngựa, nghĩa là phải bền-chí, kiên-nhẫn.

The Story of Thera Nangalakula

While residing at the Jetavana monastery, the Buddha uttered Verses (379) and (380) of this book, with reference to Thera Nangala.

Nangala was a poor field labourer in the service of a farmer. One day, a bhikkhu, seeing him ploughing a field in his old clothes, asked him if he would like to become a bhikkhu. When he replied in the affirmative, the bhikkhu took him along to the monastery and made him a bhikkhu. After the admission to the Order, as instructed by his teacher, he left his plough and his old clothes in a tree not far away from the monastery. Because the poor man had left his plough to join the Order, he was known as Thera Nangala (nangala = plough). Due to better living conditions at the monastery, Thera Nangala became healthier and soon put on weight. However, after some time, he grew tired of the life of a bhikkhu and often felt like returning to home-life. Whenever this feeling arose in him, he would go to the tree near the monastery, the tree where he had left his plough and his old clothes. There he would reproach himself saying, "O you shameless man! Do you still want to put on these old rags and return to the hard, lowly life of a hired labourer ?" After this, his dissatisfaction with the life of a bhikkhu would disappear and he would go back to the monastery. Thus, he went to the tree at an interval of every three or four days, to remind himself of the wretchedness of his old life.

When other bhikkhus asked him about his frequent visits to the tree, he replied, "I have to go to my teacher." In course of time, he attained arahatship and he stopped going to the tree. Other bhikkhus, noticing this, asked him teasingly, "Why don't you go to your teacher now?" To those bhikkhus, he replied, "I used to go to my teacher because I had need of him; but now, I have no need to go to him." The bhikkhus understood what he meant by his answer and they went to the Buddha and reported, "Venerable Sir! Thera Nangala claims to have attained arahatship. It cannot be true; he must be boasting, he must be telling lies." To them the Buddha said, "Bhikkhus! Do not say so; for Nangala is not telling lies. My son Nangala, by reproaching himself and correcting himself, has indeed attained arahatship."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 379: O bhikkhu, by yourself exhort yourself, and examine yourself; thus guarding yourself and being mindful, you will live in peace.

Verse 380: One indeed is one's own refuge, (how could anyone else be one's refuge?) One indeed is one's own heaven; therefore, look after yourself as a horse dealer looks after a thoroughbred.


Dhammapada Verses 379 and 380
Nangalakulatthera Vatthu

Attana codayattanam
patimamsetha attana
so attagutto satima
sukham bhikkhu vihahisi.

Atta hi attano natho
(ko hi natho paro siya)
1
atta hi attano gati
tasma samyamamattanam
assam bhadramva vanijo.

Verse 379: O bhikkhu, by yourself exhort yourself, and examine yourself; thus guarding yourself and being mindful, you will live in peace.

Verse 380: One indeed is one's own refuge, (how could anyone else be one's refuge?)1 One indeed is one's own heaven; therefore, look after yourself as a horse dealer looks after a thoroughbred.


1. Not found in some foreign versions.


dhp381_B 
Verse-Kệ 381

(262).- Tích chuyện Tỳ-kheo Hoa-kha-ly - Kệ số 381

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại Tịnh-xá Trúc-lâm, gần thành Vương-xá, trong kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị tỳ-kheo Hoa-kha-ly.

 

Thuở ấy ở nước Ma-kiệt-đà, có người tên là Hoa-kha-ly, một hôm trông thấy Đức Phật đi khất-thực, nhìn dáng-mạo trang-nghiêm của Ngài, nên sanh lòng ngưỡng-mộ, muốn đi tu. Từ khi được gia-nhập Tăng-đoàn, Hoa-kha-ly cứ lẩn-bẩn gần bên Đức Phật, mà xao-lãng các bổn-phận của một vị tỳ-kheo, lơ-là việc hành Thiền. Đức Phật thấy thế mới bảo: "Nầy Hoa-kha-ly, ông cứ đứng mãi bên ta, có được ích lợi gì? Gần Phật, thấy được Như-lai, là phải biết gần Chánh-pháp, học-tập Chánh-pháp kia. Thôi, ông hãy lui ra, đừng đến trước mặt ta nữa."

 

Nghe Phật dạy thế, lòng Hoa-kha-ly buồn vô-cùng, chán-nản lui ra và nẩy ý-định leo lên núi Linh-thứu nhảy xuống tự-tử. Đoán biết tâm-trạng của Hoa-kha-ly, Đức Phật lên đỉnh Linh-sơn trước. Khi Hoa-kha-ly sắp thực-hiện ý-định đen tối, Ngài phóng hào-quang chiếu lên rực-rỡ. Hoa-kha-ly nhìn thấy, lòng hân-hoan dào-dạt, hết muốn tìm cái chết nữa, liền qùi xuống đảnh-lễ. Bấy giờ Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây, nhờ đó Hoa-kha-ly tỉnh-ngộ, nỗ-lực tu-tập, chẳng bao lâu chứng được quả-vị A-la-hán:

 

Tỳ-kheo thường hân-hoan dào-dạt,

Vững niềm tin giáo-pháp Phật-đà.

Cảnh-giới tịch-tịnh sớm chứng qua,

Các hành hữu-lậu được tịnh-lạc.

(Kệ số 381.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Hoa-kha-ly: tên vị tỳ-kheo nầy, tiếng Pali là Vakkali.

 

- Trúc-lâm, Vương-xá, Ma-kiệt-đà: Tịnh-xá Trúc-lâm (Veluvana), do vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara) cất trong vườn trúc, gần thành Vương-xá (Ràjagaha), thủ-đô xứ Ma-kiệt-đà (Magadha), miền Bắc Ấn-độ xưa.

 

- Như-Lai: tiếng tự-xưng của Đức Phật, chỉ pháp-thân Phật; tiếng Pali là Tathàgata ( = bực đã đến đây như thế ) (Như = như thế; Lai =đến)

 

- Linh-thứu: tên đỉnh núi giống hình chim kên-kên (Gijjhakuta).

 

- Hân-hoan dào-dạt = vui mừng hết sức.

 

-Phật-đà: phiên âm chữ Buddha. Phật có nghĩa là giác, hiểu biết thấu-đáo về tất cả muôn loài. Đức Phật là bực đại-giác.

 

- Cảnh-giới tịch-tịnh: Cảnh-giới là cõi; Tịch-tịnh là vắng-vẻ và lặng-lẽ;Cảnh-giới tịch-tịnh, ở đây, là cảnh-giới Niết-bàn yên-vui, tự-tại

 

- Các hành hữu-lậu: Các hành chỉ thân-tâm; hữu-lậu là chứa các phiền-não, dơ-xấu, rỉ chảy ra., thành hành-động bất-thiện.

 

- Tịnh-lạc = Tịnh = thanh-tịnh, trong-sạch; Lạc = vui. Các hành hữu-lậu được tịnh-lạc = thân-tâm còn phiền-não nầy được thanh-tịnh-hoá.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại một vị tỳ-kheo chỉ vì quá ngưỡng-mộ thân-tướng trang nghiêm đẹp-đẽ của Đức Phật mà xin đi tu để được gần luôn bên Phật. Đức Phật bảo, thấy Như-Lai, gần Như-Lai, là biết đến Chánh-pháp, học-tập để thấy được pháp-thân của Phật, chớ lẩn-bẩn bên Phật mà chẳng lo tu-tập, thì chẳng được ích-lợi gì. Vị tỳ-kheo hiểu được lời Phật, nỗ-lực tu-tập, sớm chứng được quả-vị Thánh.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện: ngưỡng-mộ Phật là biết đem Chánh-pháp Phật dạy ra tu-tập để được giác-ngộ và giải-thoát.

 

Về một phương-diện khác, nghe nói Kinh nầy linh-thiêng lắm, thỉnh về, đóng bià da, mạ chữ vàng, kính-cẩn đặt trên bàn thờ Phật, mà chẳng hề mở ra đọc-tụng, thì sự linh-thiêng kia chẳng cảm-ứng được đạo-tâm của mình, làm sao mà hưởng được sự lợi-lạc!

 

(2) Ý-nghĩa cửa bài Kệ số 381:

 

Bài Kệ khuyên ta nên vững tin nơi Giáo-pháp, hân-hoan học-tập, để thanh-tịnh-hoá thân-tâm, sớm chứng được cảnh an-vui Niết-bàn.

 

1) Tỳ-kheo thường hân-hoan dào-dạt, Vững niềm tin giáo-pháp Phật-đà: đây là hai đức-tánh quan-trọng của một vị tỳ-kheo: (1) niềm tin ở Tam-Bảo thật vững chắc, (2) vui-thích trong nỗ-lực tu-hành.

 

2) Cảnh-giới tịch-tịnh sớm chứng qua: nhờ nỗ-lực tu-tập, mà sớm chứng được cảnh-giới tịch-tịnh, an-vui và vắng-vẻ của Niết-Bàn, tức là sớm có được tâm-trạng an-nhiên và tự-tại, trong đời sống tu-hành.

 

3) Các hành hữu-lậu được tịnh-lạc: thân-tâm năm uẩn đầy phiền-não nầy sẽ sớm được thanh-tịnh-hoá, mà dẹp sạch được các lậu-hoặc.

The Story of Thera Vakkali

While residing at the Veluvana monastery, the Buddha uttered Verse (381) of this book, with reference to Thera Vakkali.

Vakkali was a brahmin who lived in Savatthi. One day when he saw the Buddha going on an alms-round in the city, he was very much impressed by the noble appearance of the Buddha. At the same time, he felt much affection and great reverence for the Buddha and asked permission to join the Order just to be near him. As a bhikkhu, Vakkali always kept close to the Buddha; he did not care much about other duties of a bhikkhu and did not at all practise concentration meditation. So, the Buddha said to him, "Vakkali, it will be of no use to you by always keeping close to me, looking at my face. You should practise concentration meditation; for, indeed, only the one who sees the Dhamma sees me. One who does not see the Dhamma does not see me. So, you must leave my presence." When he heard those words Vakkali felt very depressed. He left the Buddha as ordered, and climbed the Gijjhakuta hill with the intention of committing suicide by jumping down from the peak.

The Buddha, knowing full well the extent of Vakkali's grief and despondency, reflected that because of his great sorrow and despondency Vakkali might miss the chance of attaining the Maggas. Accordingly, he sent forth his radiance to Vakkali, made him feel his presence and appeared as if in person to Vakkali. With the Buddha near him, Vakkali soon forgot all his sorrow; he became cheerful and very much heartened.

To him the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 381: The bhikkhu who frequently feels joy and is devoted to the Teaching of the Buddha will realize Nibbana — the Tranquil, the Unconditioned, the Blissful.


At the end of the discourse Vakkali attained arahatship.

Dhammapada Verse 381
Vakkalitthera Vatthu

Pamojjabahulo bhikkhu
pasanno buddhasasane
adhigacche padam santam
sankharupasamam sukham.

Verse 381: The bhikkhu who frequently feels joy and is devoted to the Teaching of the Buddha will realize Nibbana — the Tranquil, the Unconditioned, the Blissful.


dhp382_B
Verse-Kệ 382

(263).- Tích chuyện Sa-di Sữ-mã - Kệ số 382

 

Vào một thời kia, Đức Phật ngụ tại tu-viện Đông-viên, nước Xá-vệ, trong kỳ giảng-pháp, có đề-cập đến vị sa-di trẻ tuổi tên là Sử-mã.

 

Sa-di Sử-mã, đệ-tử của Trưởng-lão A-na-luật, tuy mới lên bảy tuổi mà tu-tập rất giỏi, chứng được quả Thánh A-la-hán, đắc được thần-thông. Khi Trưởng-lão A-na-luật trú gần dãy Hi-mã-lạp-sơn, một hôm bị bịnh, sa-di Sử-ma đã bay đến hồ An-nô-ta cách đó hơn trăm dặm, lấy nước về cho thầy dùng. Đến khi Trưởng-lão trở về Xá-vệ, tới đảnh-lễ Đức Phật, có dẫn sa-di Sử-mã đi theo.

 

Tại tu-viện Đông-viên, các chú tiểu thấy sa-di còn trẻ, cứ theo chọc-ghẹo, kẻ véo tai, người cú đầu, mà Sử-mã cũng chẳng chút nào hờn-giận. Bấy giờ, Đức Phật trông thấy, Ngài mới nghĩ cách khiến cho mọi người phải thán-phục sa-di Sử-mã, liền cho gọi Tôn-giả A-nan vào bảo, Ngài cần dùng một lu lớn chứa nước từ hồ An-nô-ta đem về. Chẳng vị tỳ-kheo, hay sa-di nào đi lấy nước được, vì hồ An-nô-ta cách đây hơn mấy trăm dặm, mà cái lu lại vừa to vừa nặng. Sau cùng, sa-di Sử-mã tình-nguyện đi lấy nước. Trong khoảnh-khắc, với sức thần-thông, sa-di Sử-mã vác lu bay đến hồ múc nước rồi trở về chờ lịnh. Mọi người tập-họp ở giảng-đường, hết lời khen-tặng kỳ-công của Sử-mã. Đức Phật nói: "Nầy chư Tăng, người tu-tập theo Chánh-pháp ngày đêm chuyên-cần, chứng được quả-vị quả-vị Thánh và đắc thần-thông, mặc dầu còn trẻ tuỗi, như sa-di Sử-mã đây."

 

Rồi Đức Phật mới nói lên bài Kệ sau đây:

 

Tỳ-kheo dẫu tuổi đời còn trẻ,

Siêng tu theo pháp Phật hằng ngày,

Sáng soi rực-rỡ thế-gian nầy,

Như vầng trăng vừa thoát khỏi mây.

(Kệ số 382.)

 

TÌM HIỂU:

 

A.- Nghĩa Chữ:

 

- Sa-di: người mới vào chùa tập-sư tu-hành, chưa thọ-giới tỳ-kheo; trong chùa thường gọi là chú tiểu. Tiếng Pali là Sàmanera.

 

- Sử-mã: tên vị Sa-di nầy, tiếng Pali là Sumana.

 

- Tu-viện Đông-viên: do bà Vi-sa-kha cất, ở phiá Đông chùa Kỳ-viên; tên tiếng Pali là Pubbàràma.

 

- A-na-luật: còn gọi là A-nâu-lâu-đà, đại-đệ-tử của Đức Phật Thích-ca; tên tiếng Pali là Anuruddha.

 

- A-nan: tên vị thị-giả hầu bên Phật, tiếng Pali là Ànanda.

 

- Hi-mã-lạp-sơn: tên dãy núi cao nhứt thế-giới ở biên-giới Ấn-độ và Trung-hoa; tiếng Pali là Himalaya, có nghĩa: quanh-năm có tuyết.

 

- An-nô-ta: tên hồ nước nầy, tiếng Pali là Anotatta.

 

- Thần-thông: khả-năng đặc-biệt như bay bổng trên không, đi trên mặt nước v.v. nhờ định-lực tu-tập cao.

 

- A-la-hán: quả-vị thứ tư, cao nhứt; tiếng Pali là Arahant. Chữ A-la-hán có ba nghĩa: (1) ứng-cúng, xứng-đáng được Trời, Người cúng-dường; (2) sát-tặc, giết hết giặc, giặc phiền-não; (3)vô-sanh, chẳng còn bị tái-sanh ở cõi Luân-hồi nữa.

 

- Tuổi đời: tuổi đời khác với tuổi đạo; cứ tham-dự mỗi muà an-cư kiết-hạ là tăng thêm một tuổi đạo; tuổi đạo còn gọi là lạp-tuế.

 

B.- Nghĩa Ý:

 

(1) Ý-nghĩa của Tích chuyện:

 

Tích chuyện thuật lại việc một vị sa-di bảy tuổi đời, học đạo rất giỏi đắc được thần-thông, chứng quả A-la-hán. Vị ấy mang lu nặng từ chùa Đông-viên bay đến hồ An-nô-ta lấy nước, cách đó hơn mấy trăm dặm, đem về cho Phật, được mọi người thán-phục.

 

Ý-nghĩa của Tích chuyện: mặc dầu nhỏ tuổi, nếu tu-tập chuyên-cần, cũng chứng được quả-vị cao.

 

(2) Ý-nghĩa bài Kệ số 382:

 

Bài Kệ ý-nghĩa rất rõ-ràng: tu-hành tinh-tấn, mặc dầu còn trẻ tuổi, cũng chứng được quả-vị cao, đức-hạnh sáng ngời như vừng trăng thoát khỏi mây mờ.

 

HỌC TẬP:

 

Chẳng phải vì mong đắc được thần-thông mà cố sức tu-tập đêm ngày; chính sự phá tan các phiền-não, giải-thoát được thân-tâm, khỏi cảnh khổ tái-sanh lận-đận, mới là mục-đích chơn-chánh.

The Story of Samanera Sumana

While residing at the Pubbarama monastery, the Buddha uttered Verse (382) of this book, with reference to Samanera Sumana.

Samanera Sumana was a pupil of Thera Anuruddha. Although he was only seven years old he was an arahat, endowed with supernormal powers. Once, when his teacher Anuruddha was ill at a monastery in a forest of the Himalayas, he fetched water from the Anotatta lake which was five hundred yojanas away from the monastery. The journey was made not by land but by air through his supernormal power. Later, Thera Anuruddha took Samanera Sumana to the Buddha, who was then sojourning at Pubbarama, the monastery donated by Visakha.

There, other young bhikkhus and samaneras teased him by patting his head, or pulling his ears, nose and arms, and jokingly asked him if he was not feeling bored. The Buddha saw them and thought that he would make those young bhikkhus see the rare qualities of young Samanera Sumana. So it was made known by the Buddha that he wanted some samanera to get a jar of water from the Anotatta lake. The Venerable Ananda searched among the bhikkhus and samaneras of the Pubbarama monastery, but there was none who was able to undertake the job. Finally, the Venerable Ananda asked Samanera Sumana who readily agreed to fetch water from the Anotatta lake. He took a big golden jar front the monastery and soon brought the water from the Anotatta lake for the Buddha. As before, he went to the Anotatta lake and came back by air through his supernormal power.

At the congregation of the bhikkhus in the evening, the bhikkhus told the Buddha about the wonderful trip made by Samanera Sumana. To them the Buddha said, "Bhikkhus, one who practises the Dhamma vigilantly and zealously is capable of attaining supernormal powers, even though he is young."

Then the Buddha spoke in verse as follows:

Verse 382: A bhikkhu who, though young, devotes himself to the Teaching of the Buddha lights up the world, as does the moon freed from a cloud.


Dhammapada Verse 382
Sumanasamanera Vatthu

Yo have daharo bhikkhu
yunjati buddhasasane
so' mam lokam pabhaseti
abbha muttova candima.

Verse 382: A bhikkhu who, though young, devotes himself to the Teaching of the Buddha lights up the world, as does the moon freed from a cloud.

End of Chapter Twenty-five: The Bhikkhus

__________________


Xem thêm:
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26

__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Giêng 201910:04 CH(Xem: 168)
Ăn uống: Sử dụng nhiều rau xanh hàng ngày để bổ sung chất xơ cho đường tiêu hóa giúp làm nhuận tràng, hạn chế thực phẩm giàu béo, hạn chế dầu mỡ, thực phẩm chiên rán, hạn chế dùng chất kích thích như chè, café, bia rượu, chất cay, đắng, nóng. Uống đủ nước hàng ngày. – Vận động: Tránh béo phì, thường xuyên vận động
26 Tháng Giêng 20199:51 CH(Xem: 228)
Có một cậu sinh viên và một người Thầy lớn tuổi đang trao đổi với nhau về sự hoàn hảo. Chàng thanh niên với sức khỏe và lòng nhiệt huyết luôn muốn đi tìm cho mình mọi sự hoàn hảo. Người Thầy đã chú ý lắng nghe và thấu hiểu cậu sinh viên. Với bao nhiêu năm sống và hiểu biết bao chuyện xảy ra, ông nhẹ nhàng nói với cậu sinh viên:
21 Tháng Giêng 201910:37 CH(Xem: 203)
Từ trước khi được làm mẹ, tôi đã gặp chẳng ít những người mẹ đau khổ, luôn tự hỏi một câu: Tại sao mình đã hy sinh cho con tất cả, mà vẫn chẳng thể có được đứa con như mình mong muốn? Đứa con ấy có thể đã hỗn hào với mẹ, có thể đã cưới người vợ không hợp ý mẹ, đã lựa chọn một nghề nghiệp mà người mẹ kịch liệt phản đối,
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 257)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 485)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 860)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 878)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 697)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 488)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 551)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 602)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1455)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 834)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 627)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1649)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 1085)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4423)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8559)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1646)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 656404)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 494)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1413)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 2257)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 1051)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 1025)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 3106)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 163)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 542)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 659)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 3959)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
24 Tháng Giêng 20194:07 CH(Xem: 321)
Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Nhiều Tác Giả - Many Authors)
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 319)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,