Phương Pháp Tu Thiền - The Method Of Meditation

26 Tháng Mười Hai 20188:11 SA(Xem: 132)
Phương Pháp Tu Thiền - The Method Of Meditation

zen_4B


Phương Pháp Tu Thiền - The Method Of Meditation

HT. Thích Thanh Từ (Zen Master Thich Thanh Tu)

Translators: Thuan Tue, Huyen Bach, Thuy Lien Shutt

Source-Nguồn: dieunhan.weebly.com

 

__________________

PHƯƠNG PHÁP TU THIỀN
(Trích đoạn từ sách "Chìa Khóa Học Phật - Keys To Buddhism")

 

Tu thiền là lối tu hướng thẳng vào nội tâm, dẹp sạch vọng tưởng suy tính của mình. Muốn dẹp sạch vọng tưởng cũng có chia phương tiện và cứu cánh.

 

Phương tiện của thiền là “Dùng trí tuệ dẹp tình cảm”, tức là nhìn thẳng vào sự vật – quan sát phân tích để thấy sự tạm bợ giả dối của chúng, khiến lòng lạnh nhạt không còn phiền rộn say mê. Do đó, hành giả dụng công tu tập tâm dễ được an định.

 

Thiền có nhiều phương pháp khác nhau, có thiền ngoại đạo, thiền Phật giáo. Trong thiền Phật giáo đại loại chia làm hai: Thiền đối trị và Thiền tuyệt đối.

 

THIỀN ĐỐI TRỊ

 

Tùy theo sự đắm nhiễm của chúng sanh, Phật dạy phương pháp đối trị, như theo bệnh cho thuốc. Nếu hành giả có bệnh gì nặng, vị Thiện tri thức phải biết rõ để chỉ dạy pháp tu đối trị đúng bệnh. Song phải khéo ứng dụng phương tiện của thiền, sự tu hành mới mong đạt kết quả như nguyện.

 

Phương tiện của thiền đối trị là, nhìn thẳng trên hình tướng sự vật thấy rõ nó sinh diệt vô thường và biết thật do nhân duyên hòa hợp mà có. Dùng trí tuệ quán sát vạn vật vô thường, duyên hợp, không có cái gì lâu bền và nguyên thể. Lòng đắm nhiễm nhân đó từ từ lắng dịu. Tiếp sau, chúng ta mới áp dụng lối tu đối trị.

 

Pháp tu đối trị có nhiều môn, hành giả nặng về bệnh gì thì dùng môn đó đối trị. Như người nhiều vọng tưởng dùng “Sổ tức quán” đối trị. Người nặng sắc dục dùng “Bất tịnh quán” đối trị. Người thường nóng giận dùng “Từ bi quán” đối trị. Người quá ngu si dùng “Giới phân biệt quán” đối trị. Trong những phương pháp đối trị đều dùng đề mục để tham cứu quán sát lâu ngày thuần thục, tâm an định. Ở đây chỉ đơn cử một pháp phổ thông nhất là “Sổ tức quán”.

 

Nếu người nhiều vọng tưởng nên tu pháp thiền “Sổ tức”. Sổ tức là đếm hơi thở. Đây là pháp tu thông dụng nhất trong giới tu thiền. Vì vọng tưởng là bệnh chung của tất cả chúng sanh, muốn ngăn chận nó trước phải nhờ phương pháp đếm hơi thở. Hơn nữa, người mới tập tu thiền trước phải điều hòa hơi thở, hơi thở là mạch sống thiết yếu nhất của con người. Điều hòa được hơi thở là bước thành công đầu của sức khỏe và an tâm. Thân khỏe mạnh, tâm an ổn, hành giả mới nỗ lực tiến thẳng vào pháp môn thâm diệu được.

 

Pháp sổ tức là tên pháp đầu của “Lục diệu pháp môn”. Trong sáu pháp môn nhiệm mầu này, đầu tiên là Sổ tức (đếm hơi thở), kế Tùy tức (theo hơi thở), Chỉ (dừng lại một chỗ), Quán (quán sát), Hoàn (xem xét trở lại), Tịnh (lóng lặng trong sạch). Hành giả ứng dụng pháp thiền “Đếm hơi thở” phải tu từ thô đến tế, đầy đủ sáu pháp mới được viên mãn. Sáu pháp này có công hiệu dừng lặng mọi vọng tưởng một cách thần diệu, nên gọi là Lục Diệu Pháp Môn. Ở đây chỉ giải thích đơn giản sáu pháp như sau:

 

- SỔ TỨC

Hành giả sau khi ngồi ngay thẳng đúng pháp và sử dụng lối nhập thiền đầy đủ, liền ứng dụng lối pháp đếm hơi thở để trụ tâm. Hành giả hít hơi vô đến cùng, thở ra sạch, đếm một. Hít đến vô cùng, thở ra sạch, đếm hai. Mãi thế, đếm mười bỏ. Đếm lại một… Nếu giữa chừng tâm tán loạn quên số, phạt đếm lại một. Phải chú tâm vào số và hơi thở một cách tinh tế, tâm vừa xao lãng chỉnh lại ngay. Nếu tâm xao xuyến khó kềm, nên dùng cách đếm nhặt hơn. Hít hơi vô đến cùng, đếm một, thở ra sạch, đếm hai. Đếm đến mười bỏ, trở lại một, như cách đếm ở trên. Đến khi nào ngồi nửa giờ, một giờ mà đếm không lộn, không quên hơi thở, là tâm đã tạm yên. Liền tiến lên pháp khác.

 

- TÙY TỨC

Hành giả bỏ không đếm số nữa, chỉ chú tâm theo hơi thở. Hơi thở vào đến đâu biết đến đó. Hơi thở ra cũng biết rành rõ. Hơi thở dài, ngắn, lạnh, nóng đều biết rõ mồn một. Theo dõi hơi thở, như người chủ nợ theo dõi con nợ vậy. Khi ngồi thời gian bao lâu, tâm cũng chỉ duyên theo hơi thở không xao lãng, tức là tâm an định. Cần chuyển lên pháp kế.

 

- CHỈ

Hành giả không theo hơi thở vô ra nữa, cần dừng trụ tại mũi để xem hơi thở ra vào. Tâm an trụ không dao động, hằng thấy hơi thở ra vào không lửng quên. Suốt thời gian ngồi, tâm vẫn an trụ, không loạn động, nên tiến lên pháp tế hơn.

 

- QUÁN

Hành giả không an trụ yên lặng, khởi quán sát hơi thở, hơi thở vô rồi không dừng trụ, tức là vô thường. Thân mạng nương hơi thở mà sống, nên cũng đồng là vô thường. Hơi thở ra vào thời gian thật ngắn ngủi, thân mạng tựa vào hơi thở cũng chợt có chợt không. Hơi thở vào không có chỗ nơi, hơi thở ra không xứ sở. Chỗ nơi xứ sở không, thì hơi thở làm gì thật có. Thân mạng nương hơi thở mà còn thật quá tạm bợ giả dối. Quán sát như thế thì tâm chấp thật ngã tan biến. Đã không còn chấp thân là thật, là lâu dài, cần phải sang pháp khác.

 

- HOÀN

Hành giả chiếu soi lại tâm hay quán sát trước, xem nó ra sao và ở đâu? Soi tới soi lui vẫn không thấy hình bóng nó. Hằng chiếu soi lại tâm năng quán, tâm này tự lặng lẽ, tức là an định. Đến đây phải tiến lên nấc chót.

 

- TỊNH

Hành giả buông cả chiếu soi lại tâm năng quán, chỉ còn một tâm thanh tịnh tỉnh sáng. Không loạn tưởng, chẳng hôn trầm, thuần một tâm lặng lẽ tỉnh sáng. Hằng sống với cái tỉnh sáng này, tức là chỗ cứu cánh của Lục Diệu Pháp Môn.

 

Đến đây, dòng ý thức sanh diệt đã tan biến, những vọng nghiệp do ý thức gây tạo cũng trong sạch, còn gì phiền rộn lôi cuốn hành giả đi vào đường luân hồi.

 

Hành giả khéo ứng dụng đúng mức Lục Diệu Pháp môn là, đầy đủ hiệu dụng thoát khỏi luân hồi sanh tử. Song lúc tu hành ắt còn gặp nhiều khó khăn trở ngại và những tướng trạng lạ phát hiện, hành giả cần được thầy có thực nghiệm – hướng dẫn, mới hy vọng tu tiến dễ dàng.

 

 

THIỀN TUYỆT ĐỐI

 

Pháp thiền này do Phật Thích-ca ở trong hội Linh Sơn đưa cành hoa lên, Tổ Ca Diếp cười chúm chím rồi được truyền tâm ấn. Truyền thừa mãi đến vị Tổ thứ 28 là Bồ-đề Đạt-ma, Ngài sang Trung Quốc truyền cho Tổ Huệ Khả, lan dần sang Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản và tiếp tục đến hiện nay. Khi đến Trung Quốc, Tổ Đạt-ma dõng dạc tuyên bố pháp này là:

 

“Giáo ngoại biệt truyền,

Trực chỉ nhân tâm,

Kiến tánh thành Phật.”

 

Dịch:       

Truyền ngoài giáo lý,

Chỉ thẳng tâm người,

Thấy tánh thành Phật.

 

Qua câu tuyên bố của ngài, chúng ta thấy rõ tính cách tuyệt đối của nó.

 

Thiền này tạm nói có hai lối tu: Hoặc từ Không vào Có, hoặc từ Có ra Không. Từ không vào có là, trước biết rõ tất cả pháp giả dối không thật, sau nhận ra chân tâm chân thật là thực thể tuyệt đối bất sanh bất diệt, hằng sống với nó  là đạt đạo. Từ có ra không là, trước nhận ra Ông chủ chân tâm, sau nhìn ra các pháp đều hư giả tạm bợ, thường sống với ông chủ của mình là thấy tánh thành Phật.

 

Từ không vào có, hành giả dùng trí tuệ bát nhã soi thấy sự vật do duyên hợp mà có, tự tánh là không, không có thật tánh, chỉ có giả tướng duyên hợp. Nhìn trên giả tướng thấy rõ tự tánh của nó là không, tánh không nên duyên hợp giả có. Duyên hợp tạm gọi là sanh, duyên tan tạm gọi là diệt. Sanh, diệt không có thực thể, chỉ là việc duyên hợp duyên tan. Sanh không thật, diệt không thật thì khắp nhân gian còn vật nào thật đâu? Hằng dùng trí tuệ chiếu soi như thế, thấy tất cả sự vật quả là cái bóng, hòn bọt, sự thể là không. Thế nên cửa thiền người đời gọi là cửa KHÔNG.

 

Nương cửa bát nhã tiến vào trong nhà thấy được Ông chủ là thành công. Tức là từ cái giả nhận ra lẽ thật, dứt sạch vô minh ngàn đời, sống với trí tuệ viên mãn là giác ngộ giải thoát. Lầm lẫn những giả tướng cho là thật, bỏ quên cái thật muôn đời, là vô minh. Giả tướng thì sanh diệt, thực thể chẳng hề sanh diệt, nên nhận ra là sống được với thực thể, là giải thoát luân hồi sanh tử. Đây là “Chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”. Tánh là chỉ thực thể sẵn có nơi mọi chúng sinh, không do tạo tác thành, không do tu tập được. Người khéo biết mọi cái giả rồi tự nhận ra thực thể này, hằng sống với nó là “Thấy tánh thành Phật” hiển bày rành rõ nơi đây vậy.

 

Song nói pháp này không có pháp, vì nó không còn đối đãi đối trị, nên nói “pháp vốn không pháp” (pháp bổn vô pháp). Không còn khuôn trong hình thức nào, nên không có cách “Nhập, trụ, xuất” như các pháp thiền khác. Đọc hết tập sách nói về thiền này, chúng ta không tìm đâu thấy một phương thức tu tập thứ tự. Vì thế, đừng đòi hỏi một phương thức tu tập, hành giả cần tận dụng chiếc gươm bát nhã dọn sạch khu rừng kiến chấp thì Bảo sở hiện bày. Băn khoăn tìm kiếm phương pháp tu tập, chúng ta sẽ hoàn toàn thất vọng.

 

Hãy nghe câu hỏi của Tổ Huệ Khả cầu xin nơi Tổ Đạt-ma:

-       Tâm con chẳng an, xin Hòa thượng dạy con phương pháp an tâm?

-       Đem tâm ra, ta an cho.

-       Con tìm tâm không được.

-       Ta đã an tâm cho ngươi rồi.

Tổ Huệ Khả lãnh hội yếu chỉ.

 

Đọc đoạn sử này, chúng ta hoàn toàn vô vọng, tìm đâu ra “pháp an tâm”. Lời cầu xin tha thiết của Tổ Huệ Khả, đáp lại bằng câu nửa hư nửa thật của Tổ Đạt-ma, khiến chúng ta bối rối khó hiểu. Song ngay lúc đó Tổ Huệ Khả lãnh hội được. Thật là việc lạ đời ít có.

 

Trong lúc tọa thiền bị vọng tưởng dấy khởi nhiễu loạn khiến tâm bất an. Băn khoăn tìm kiếm một phương pháp an tâm là một điều tối cần yếu. Cho nên nghe ở đâu có bậc thiện tri thức tu thiền, liền khăn gói lên đường đến cầu pháp an tâm. Nếu học được pháp này hay pháp nọ để an tâm, rốt cuộc cũng chỉ là lấy nóng trừ lạnh, dùng sáng đuổi tối mà thôi. Tất cả thứ đối đãi ấy đều là tướng giả dối không thật. Tổ Đạt-ma không dạy theo lối ấy, chỉ bảo “Đem tâm ra, ta an cho”. Nhìn thẳng lại cái tâm nhiễu động lăng xăng kia, nó biến mất không còn tăm dạng. Tổ Huệ Khả đành thưa: “Con tìm tâm không được”. Tổ Đạt-ma chỉ cần nói thêm một câu: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi”. Tổ Huệ Khả liền thấy lối đi.

 

Từ thuở nào, chúng ta cứ tin rằng cái tâm suy nghĩ lăng xăng là thật có, hôm nay tìm lại không thấy bóng dáng, mới biết nó là không. Biết nó không thì nó đâu còn khả năng lôi cuốn quấy nhiễu chúng ta nữa. Chúng dấy lên, ta không theo, tâm chẳng an là gì? Sở dĩ tâm ta chẳng an, vì vọng vừa dấy lên ta tùy thuận theo chúng, nghĩ việc này chưa xong, tiếp đến việc khác chạy mãi không dừng. Nay đây, chúng ta vừa dấy lên, ta biết là không, không theo, tự nó lặng mất quả là “Diệu thuật an tâm”.

 

Không nương một pháp chẳng mượn một tướng, nhìn thẳng mặt vọng tưởng tự nó biến tan như mây khói, đây là trực chỉ không nương phương tiện. Ai khờ gì đuổi theo cái hư giả, cũng không khờ gì cố tình trừ diệt, chỉ cần biết nó hư ảo không theo là đủ. Yếu chỉ an tâm của Tổ Đạt- ma là ở chỗ đó.

 

Có vị tăng hỏi Thiền sư Tông Mật (Khuê Phong): “Thế nào là tu?” Sư đáp: “Biết vọng tức là tu”. Thật là đơn giản mà quá đầy đủ. Biết vọng không theo tâm tự yên lặng, là diệu thuật của môn thiền này. Tuy nói tu mà không tu, vì có trừ có dẹp, có bồi bổ gì đâu? Chẳng qua dùng trí tuệ soi thấu cái giả dối, tâm tự lặng lẽ, tạm gọi là tu.

 

Pháp tu không tu này, mở màn bằng trí tuệ, chung cuộc sống với tâm thể nhất như. Thiền sư Duy Tín đời Tống nói: “Trước ba mươi năm, tôi thấy núi sông là núi sông. Sau gặp thiện hữu tri thức chỉ dạy, tôi thấy núi sông không phải núi sông. Nay được chỗ dứt sạch, thấy núi sông là núi sông”.

 

Trước ba mươi năm là lúc Sư chưa biết tu thiền, cái nhìn của Sư cũng như tất cả cái nhìn của phàm phu khác – Thấy núi là thật núi, thấy sông là thật sông, thấy người là thật người... Sau khi được thiện hữu tri thức chỉ dạy, Sư nhìn núi sông không còn thật núi sông nữa, mà là hợp thể giả dối do các duyên chung hợp, tự tánh rỗng không. Sự mở mắt trí tuệ nhìn mọi vật, mãi đến nay mọi nhiễm ô dính mắc đều dứt sạch, chỉ hiện bày lồ lộ một tâm thể thanh tịnh nhất như. Đến đây, Sư nhìn núi sông là núi sông, vì đã dứt sạch mọi kiến chấp, mọi phân biệt. Quả là kẻ đi đến đích của quãng đường chim vậy.

 

Chúng ta sẽ thấy lối tu này cụ thể hơn, qua lời thầy Tri viên hỏi Thiền sư Duyên Quán:

-       Khi giặc nhà khó giữ thì thế nào?

-       Biết được chẳng phải oan gia.

-       Sau khi biết được thì sao?

-       Biến đến nước vô sanh.

-       Nước vô sanh không phải chỗ y an thân lập mạng ?

-       Nước chết không chứa được rồng.

-       Thế nào là nước sống chứa rồng?

-       Dậy mòi chẳng thành sóng.

-       Bỗng khi đầm nghiêng núi đổ thì thế nào?

Sư bước xuống giường thiền, nắm đứng thầy Tri viên bảo:

-       Chớ nói ướt góc ca sa của lão tăng.

 

Giặc nhà khó giữ là vọng tưởng do sáu chú giặc (Lục tặc) dẫn vào. Biết vọng tưởng là giả dối, nó không hại ta được, trái lại ta đã điều phục chúng. Sau khi biết nó, tự nó dừng lặng, càng lâu càng lặng là an trụ chỗ Vô sanh. Nhưng đừng thấy đây là cứu cánh, mà phải chết chìm trong ấy, cần phải phấn phát tỉnh giác, hằng tỉnh sáng đầy đủ diệu dụng là không động, mới thật nước sống chứa rồng. Đến đây dầu trời nghiêng đất sụp cũng không lay động tâm thiền giả, đó là “Không ướt góc ca-sa của lão tăng”.

 

Thành quả của lối tu này, không phải được thần thông mầu nhiệm, biến hóa tự tại, mà quí chỗ tám gió (Bát phong) thổi chẳng động.

 

Tám gió là:

Lợi: được tài lợi tâm không xao xuyến

Suy: gặp suy hao lòng vẫn thản nhiên

Hủy: bị hủy nhục lòng không bực tức

Dự: được công kênh tâm vẫn như không

Xưng: được ngợi khen tâm vẫn bình thản

Cơ: bị chê bai lòng không biến đổi

Khổ: gặp đau khổ lòng vẫn an nhiên

Lạc: được việc vui tâm không xao động.

 

Cho đến, dầu đối đầu với hoàn cảnh nào, gặp việc khó khăn gì, tâm vẫn như như bất động, đây là thành công viên mãn của người tu thiền.

 

Từ có ra không: Do nhận được chân tánh nơi mình, nhìn ra vạn vật đều là tướng giả dối do nhân duyên hòa hợp. Chân tánh là thật tướng mà không tướng, rời cả nhân duyên và tự nhiên, giác không tăng, mê cũng chẳng giảm, còn nói gì là thường hay vô thường. Linh minh tỉnh sáng, hằng có mặt nơi mọi chúng sinh mà chúng sinh tự bỏ quên, chúng sinh nhận được gọi là Phật.

 

Chúng ta hãy nghe Thiền sư Đại An hỏi Tổ Bá Trượng :

-       Con muốn cầu biết Phật, thế nào là phải?

-       Thật là người cưỡi trâu tìm trâu.

-       Sau khi biết thì thế nào?

-       Như người cưỡi trâu về đến nhà.

-       Chẳng biết trước sau gìn giữ thế nào?

-       Như người chăn trâu tìm roi dòm chừng, không cho nó ăn lúa mạ của người.

Sư lãnh hội ý chỉ.

 

Chúng ta đã có Phật mà không dám tự nhận mải chạy đi thưa hỏi, như người cưỡi trâu tìm trâu. Nhận được chân tánh nơi mình, không còn băn khoăn tìm kiếm, như người cưỡi trâu về đến nhà. Biết được chưa phải xong việc, cần bền chí chăm nom bảo vệ cho nó thuần thục, như chú mục đồng cầm roi chăn trâu. Đây là yếu chỉ tu hành của người trước nhận ra ông chủ.

 

Sau này, Thiền sư Đại An dạy chúng:

“Cả thảy các ngươi đến Đại An này tìm cầu cái gì? Nếu muốn làm Phật, các ngươi tự là Phật. Sao lại gánh Phật sang nhà bên cạnh tìm, luống tự nhọc nhằn. Ví như con nai khát nước mà chạy theo ánh nắng, biết bao giờ được khế hợp.

 

Cả thảy các ngươi mỗi người có hòn ngọc quí vô giá, từ cửa con mắt phóng quang soi sáng núi sông cây cỏ, từ cửa lỗ tai phóng quang nhận lãnh phân biệt tất cả âm thanh lành dữ, sáu cửa ngày đêm hằng phóng quang sáng, cũng gọi là phóng quang tam muội. Các ngươi tự chẳng biết, lại nhận bóng thân tứ đại. Nó là vật do trong ngoài giúp đỡ không dám chinh nghiêng, như người gánh nặng đi qua cây cầu khỉ, dè dặt sợ sẩy chân”.

 

Qua hai đoạn dạy chúng của Thiền sư Đại An, chúng ta thấy Phật tánh đã sẵn nơi mình, khéo nhận là được, đừng chạy tìm cầu bên ngoài, càng tìm càng nhọc nhằn vô ích. Phật tánh hiển lộ đầy đủ nơi sáu căn chúng ta, cần nhìn lại là thấy. Khổ nỗi, chúng ta không khi nào dám nhận nó, mà hằng nhận thân tứ đại này là mình. Thân tứ đại do duyên trong, ngoài giúp đỡ, thiếu duyên là nó hoại liền, như người gánh nặng đi qua cây độc mộc kiều, hớ thân là té nhào. Quên cái chân thật, nhận cái giả dối thì phút giây nào cũng lo âu sợ sệt, ngại cơn vô thường bất chợt đến với nó. Nhận được cái chân thật bất biến, mọi sợ sệt lo âu đều tan mất, vì còn cái gì hại được chân tánh này, quả là Niết-bàn hiện tại trần gian.

 

Có vị tăng hỏi Thiền sư Thạch Cựu:

-       Thế nào là hạt châu trong tay Địa Tạng ?

-       Trong tay ông lại có chăng?

-       Con chẳng hội.

-       Chớ dối đại chúng.

 

Sư nói tụng:

Bất thức tự gia bảo   

Tùy tha nhận ngoại trần    

Nhật trung đào ảnh chất    

Cảnh lý thất đầu nhân.      

 

Báu nhà mình chẳng biết

Theo người nhận ngoại trần

Giữa trưa chạy trốn bóng

Kẻ soi gương mất đầu.

 

Chúng sinh một bề chạy theo ngoại cảnh quên bẵng bản thân. Chỉ cần hỏi hạt châu trong tay Bồ tát Địa Tạng, quên lửng trong tay mình sẵn có hạt châu. Hạt châu ấy theo dõi chúng ta như bóng theo hình, mặc dầu ta lăn lộn sáu đường, lang thang trong tam giới, hạt châu hằng có mặt trong túi áo chúng ta. Chúng ta si mê bỏ quên nó, như chàng Diễn Nhã xem gương thấy bóng đầu mặt hiện ra trong gương, úp gương lại bóng đầu mặt mất đi, hoảng la lên “Tôi mất đầu”. Chàng ta phát cuồng ôm đầu chạy la “Tôi mất đầu”.

 

Tất cả chúng ta cũng thế, hằng ngày cứ chạy theo vọng tưởng suy tính, có nó là có mình, một khi vọng tưởng lặng xuống, hoảng la “mất mình”. Vọng tưởng là cái chợt sinh chợt diệt, không cội gốc nơi chốn, mà chấp là thật mình. Khi vọng tưởng lặng xuống, mọi công dụng thấy nghe hiểu biết vẫn nguyên vẹn mà nói “mất mình”. Thử hỏi ai là kẻ biết mất mình?

 

Khéo nhận ra ông chủ mới khỏi bị khách trần lừa gạt. Thiền sư Pháp Diễn nói:

 

“Ta có một vật chẳng thuộc phàm, chẳng thuộc thánh, chẳng thuộc tà, chẳng thuộc chánh, muôn việc khi đến tự nhiên hiệu lệnh...”

 

Ông chủ của chính mình là thực thể tuyệt đối, không còn thấy có hai bên phàm thánh, tà chánh đối đãi. Tuy không có niệm phân biệt đối đãi, song xúc duyên chạm cảnh liễu tri rành rõ. Ông chủ này chưa từng sanh, chưa từng diệt nên gọi là pháp thân bất diệt. Bởi không sanh diệt, nên chân thật thường hằng mà không có tướng trạng, thường ví như hư không. Từ pháp thân nhìn ra thân tâm vạn vật đều thấy tạm bợ giả dối, không có mảy tơ sợi tóc nào chân thật, nên nói: Như bọt, bóng, sương mù, điện chớp... Đi đứng nằm ngồi đều sống với ông chủ này là tu thiền Vô sanh.

 

Thiền sư Sư Nhan ngồi một mình trên tảng đá thỉnh thoảng gọi: “Ông chủ”. Tự đáp: “Dạ”. Bảo: “Phải tỉnh tỉnh đừng để người lừa”.

 

Tự gọi tự đáp, dường như việc đùa cợt chơi chính là lối tu tự nhắc mình không quên ông chủ. Đừng để ngoại cảnh đánh lừa, hằng tỉnh sáng với ông chủ ngàn đời của mình. Quả là, pháp tắc muôn đời cho những người biết sống trở lại mình. Biết trở lại mình là về quê hương, là đến Bảo sở, là cùng tử được cha trao sự nghiệp, là Niết-bàn, là giác ngộ, là giải thoát,… trăm ngàn danh từ khác nhau đều chỉ một việc “Trở về với mình”. Đúng với câu “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”. Bởi vì trở về được với mình, là muôn việc bên ngoài đều theo đó giải quyết xong.

 

Pháp thiền này có đặt thời khóa tu tập cố định không?

 

Thiền này không đặt nặng thời khóa (chỉ tùy hoàn cảnh thuận tiện), mà chú trọng tâm niệm trong tất cả thời, mọi hoạt động đi đứng, ngồi nằm, làm việc, nghỉ ngơi cần thấy rõ từng tâm niệm của mình để không theo hoặc hằng sống với ông chủ, không bị ngoại duyên lôi cuốn. Những phút giây nào quên lửng tâm niệm mình, coi như phạm tội buông lung đáng trách. Cho nên nói: “Đi, đứng, nói, nín, hái củi, lặt rau, thổi lửa, nấu cơm,… đều là thiền”. Người tu thiền này mới nhìn dường như họ buông thả lơi lỏng, thật ra họ miên mật từng tâm niệm. Thiền này là cội gốc thành Phật tác Tổ.

 

Một hôm, Vương Thường Thị vào thăm Thiền viện của Tổ Lâm Tế, đến nhà đông sang nhà tây, thấy chúng đông đảo, ông hỏi Tổ Lâm Tế:

 

-       Chúng đông đảo thế này, có dạy tụng kinh, tọa thiền chăng?

-       Không.

-       Dạy họ làm gì?

-       Dạy họ làm Phật làm Tổ.

 

Đây là pháp tu tinh tế vi mật trong tâm niệm không thuộc hình thức bên ngoài. Tổ Lâm Tế cũng nói: “Kẻ ngu cười ta, người trí biết ta”. Kẻ phàm ngu khó hiểu lối tu này, bậc trí giả khả dĩ thông suốt. Lối tu này không có cấp bậc phương tiện, chỉ một bề sống với lý tánh chân thật. Lý tánh không có tướng mạo, nên người tu khó nhận, khó thấy sự tiến bộ của mình. Do đó, đòi hỏi phải lập chí sắt đá mới mong có ngày thành công.

 

Tuy nhiên, cũng có những người học lóm pháp thiền này, ngoài miệng nói bô bô mà trong tâm không khi nào biết thúc liễm, chỉ mượn lời Phật Tổ nói để che lỗi của mình. Bọn này là kẻ trộm trong Phật pháp, mắc tội không nhỏ.

 

BIỆN MINH

 

Đọc phần Thiền tuyệt đối ở trên, đa số độc giả sanh nghi:

-       Đạo Phật chủ trương vô ngã, ở đây bảo trở về “ông chủ của mình” là có ngã, tức trái hẳn giáo lý?

 

Chúng tôi giải đáp nghi vấn này như sau:

-       Đạo Phật chủ trương vô ngã là vô ngã ngay nơi bản thân ngũ uẩn này. Bởi vì Bà-la-môn căn cứ vào thọ, tưởng, hành, thức chấp làm ngã, Phật biết rõ nó là tướng vô thường sanh diệt nên nói vô ngã. Phật chia nó làm bốn thứ. Đặt câu hỏi: Nếu chấp thọ làm ngã thì tưởng hành thức là cái gì? Ngược lại, các thứ kia cũng thế. Nhằm trên năm uẩn chấp làm ngã, thật sai lầm đáo để. Năm thứ này là tướng duyên hợp, vô thường sanh diệt chấp nó là “ta” làm sao khỏi luân hồi sanh tử. Vì thế, kẻ chấp năm uẩn làm ngã, Phật bảo là vô minh, ngài phản đối và nói là vô ngã.

 

Ông chủ của thiền này nói, cũng ngay nơi thân năm uẩn này, song là thể chẳng sanh chẳng diệt lặng ngầm trong ấy. Thể này, khi thọ tưởng hành thức lặng mất, nó mới hiện bày đầy đủ. Nó chẳng rời thọ tưởng hành thức, nhưng khi các thứ này hoạt động, tìm nó không ra. Ông chủ này là thể tịch tĩnh giác tri chưa từng xao động biến hoại. Chúng ta thử nghiệm xem, khi ngồi thiền hay ngồi một mình chỗ vắng, thọ tưởng hành thức lặng mất, không hoạt động ta vẫn tỉnh sáng mắt tai... vẫn tri giác như thường. Cái gì chịu trách nhiệm tri giác trong lúc này, nếu không phải tánh giác tịch tĩnh thường còn bên trong. Thế nên, ở đây nói “ông chủ” vẫn không trái với chủ trương Vô ngã của đạo Phật. Có sống thật, chúng ta mới thấy rõ điều này, đừng mắc kẹt trên văn tự, cãi lẽ suông vô ích.

 

Nghi vấn thứ hai:

-       Trong kinh Phật hằng quở chấp Thường, chấp Đoạn của ngoại đạo, ở đây nói “ông chủ thường hằng không biến đổi”, đâu không đồng chấp Thường của ngoại đạo?

 

-       Ngoại đạo chấp “Thường” cũng căn cứ trên thân năm uẩn mà chấp. Thân năm uẩn vốn là tướng sanh diệt vô thường, cái vô thường mà chấp là “Thường” nên bị Phật quở rách. Ông chủ ở đây nói, là thực thể chưa từng động, chưa từng sanh diệt, không có tướng mạo, vượt ngoài đối đãi hai bên, nói “thường hằng không biến đổi” là gượng gạo mà nói thôi. Vì thực thể tuyệt đối, còn dùng ngôn ngữ đối đãi nào phổ biến nó được. Có nhận thấy tánh giác này, chúng ta mới tin lẽ “thường hằng” của nó. Phàm cái gì có tướng mạo, có sinh diệt đều vô thường, tánh giác thoát ngoài tướng mạo, sinh diệt làm sao bắt nó vô thường. Nếu không có tánh giác này, cái gì chứng A-la-hán, cái gì thành Phật, sau khi thọ tưởng hành thức đều lặng mất. Vì lẽ đó, ở đây nói “Ông chủ thường còn chẳng biến hoại”, không trái với lý vô thường của Phật nói, cũng không thuộc chấp “thường” của ngoại đạo, mà là chủ yếu của Phật giáo.

 

THE METHOD OF MEDITATION

(Excerpts from book "Chìa Khóa Học Phật - Keys To Buddhism")
 

Practicing meditation is a way of looking directly inside and clearing out thoughts and plans. This method also includes temporary means and ultimate goals. A temporary means of this method is using wisdom to remove emotions. Practitioners directly examine and analyze phenomena, seeing that they are temporary and combined from numerous causes and conditions. With this realization, their emotions become cool and calm, not agitated or passionate as before. Therefore, they decide to begin practicing in order that their minds may also become settled.

 

There are many different meditation methods. Generally, Buddhist meditation includes relative meditation and absolute meditation.

 

RELATIVE MEDITATION

 

Due to human’s attachments to worldly things, the Buddha taught relative methods as a doctor prescribes medicine according to the disease. The teacher needs to know clearly the practitioner’s spiritual disease in order that they may give the suitable method for practicing. However, the practitioner has to skillfully apply the meditation method to achieve the desired results.

 

There are many different methods in relative meditation to cure the different spiritual diseases. People who often  think need  to use the method  of counting the breath. People who  have  strong lust need to use the method of contemplation of impurities. People who often have anger will find the  method of contemplation on compassion helpful. People with great ignorance may use the method of contemplation of distinguishing the realms, the analyzing of our body, both inside and outside, as different parts with its different limits. With these relative meditation methods, practitioners contemplate a subject until their minds grow accustomed to the object, becoming settled. Here, only the counting of the breath, the most common method, will be explained.

 

The method of breath counting, Anapanasati, is also the first of the Six Wonderful Strategies (25).  As mentioned earlier, this is the ideal method for those who often think. Thinking is a common habit of all human beings. This method will focus our thinking; starting with the breath because it is so crucial to human life. To begin, meditators regulate their breathing; the first step towards peace of mind and health of body. After this, they can approach the dharma door of the Six Wonderful Strategies.

 

The Six Wonderful Strategies are counting, following, focusing, contemplating, returning, and calming. Applying these steps, practitioners proceed from coarse to subtle levels as they progress through the six strategies. Also called the Six Wonderful Dharma Doors,  this method helps practitioners to effectively calm all their thoughts. Here are simple explanations of the six strategies.

 

COUNTING THE BREATH

 

After settling into a meditative posture, use the method of counting the breath to focus your minds. While inhaling deeply and exhaling thoroughly, count one. Inhaling deeply and exhaling thoroughly, count two. Continue until ten. Then, start again from one. If you become distracted and lose count, start from the beginning. Practitioners have to pay attention to the counting and the breath subtlety. If the mind becomes distracted, readjust immediately. If the mind is excited or uncontrollable, practitioners may divide the breath counting process into two parts, for example: inhaling, count one; exhaling, count two, etc. When the awareness and the counting of the breath can be sustained for half-an-hour to one hour, then the mind is fairly calm and the practitioner may go on to the next step.

 

FOLLOWING THE BREATH

 

At this stage, practitioners now follow instead of counting the breath. Keep the awareness  with the inhalations and exhalations. The same is true with long, short, cold, or hot breaths. We follow the breath as a lender follows his debtor. The mind follows the breath without any distractions. When the mind becomes calm and settled, practitioners may go on to the next step.

 

FOCUSING

 

Now, practitioners no longer follow the in and out breaths but place the mind on the nose to watch the breath. Focus the mind on one point around the nose area, such as the rims of the nostrils or just below the opening. Be aware of the breath at this point. During the sitting session, when the mind can sustain this stage, go on to the next step.

 

CONTEMPLATION

 

Not clinging to the calm state achieved in the focusing step, practitioners now start  to  observe the continuity of the in and out breath, noting its impermanence. The body depends on the breath, and, as such, it is also impermanent. The time it takes for one inhalation and exhalation is short just as the body exists then decays. The in-breath has no location and neither does the out-breath. Therefore, the breath does not truly exist. The body survives dependent on the breath, so it is ephemeral and not real. With this observation, attachment to the body- as-self loosens. When practitioners no longer believe that their body is real and ever-lasting, they may go on to the next step.

 

RETURNING

 

At this point, practitioners watch the observing mind to see what it is and where it resides. Look for it everywhere and see that it cannot be found. As the practitioner looks at the observing mind, the silence and stillness of the mind reveals itself. Now the practitioner is ready for the last step.

 

CALMING

 

Now, let go of the watching of  the observing mind until there is only the knowing that is the pure and alert mind, which has neither distractions nor drowsiness. Once the practitioner can stay with this state of mind all the time, the final goal of the six wonderful strategies is achieved. At this point, the changing stream of consciousness comes to an end and karma created by the mind consciousness is purified. This means that defilements can no longer draw practitioners into the cycle of birth and death.

 

If meditators can skillfully apply the six wonderful strategies, they can enjoy the fruit of their practice and escape from the cycle of birth and death. However, there will be other difficulties and obstacles as well as uncommon experiences during the practice process. Therefore, you will need to have an experienced teacher to guide you.

 

ABSOLUTE MEDITATION

 

This type of meditation originated from the story at Vulture Peak in which Shakyamuni Buddha raised a flower without speaking, at which time, Ma- hakashyapa smiled. With this act, he received transmission of the true Dharma. This understanding of the Buddha-dharma without words is considered the beginning of Zen. This transmission continues up to the twenty-eighth patriarch, Bodhidharma. From India, Bodhidharma went to China,  transmitting his teachings to Hui-Ke. The Buddha-dharma then spread to Viet Nam, Korea, and Japan. Bodhidharma’s main proclamation was:

 

“Not dependent upon words and letters,

Transmission beyond scriptures and doctrines,

Directly pointing at the mind,

Recognizing one’s true nature and becoming a buddha.”

 

From this proclamation, the absolute character of this meditation is revealed.

 

This meditation may be further divided  into two kinds of practices: from nothing to having and from having to nothing. From nothing to having is first knowing that all phenonmena are unreal and temporary and then realizing that one’s true mind is the absolute essence. Constantly living with this non-birth and non-death nature is achieving enlightenment. Conversely, from having to nothing is first recognizing one’s true mind, and then knowing that all phenomena are unreal and temporary. Constantly staying with one’s Owner is recognizing one’s true nature and becoming a buddha.

 

From Nothing to Having

 

When practitioners reflect, they can see that  all things which are created from conditions do not have solid or real nature, but are empty, of temporary and conditioned combinations. When conditions coalesce, things are called “born”; when conditions disperse, then we say things have “died.” “Born” or “die” has no real nature; just the coalescence and dispersion of conditions. When practitioners use their prajna wisdom(26) to reflect in this manner, they will realize that all things are like bubbles and shadows, empty of a solid self. This is why Zen meditation is consider the gate to understanding emptiness.

 

From the gate of prajna wisdom, practitioners may enter the house to see the Owner. Realizing the true from the false, practitioners end thousands of lifetimes of ignorance and live with complete wisdom. This is enlightenment and deliverance. Conversely, mistaking  the false  for the true and forgetting the eternal absolute truth is ignorance. False formations are “born” or “die” while true nature has never been “born” or “die.” Therefore, realizing and living with this true nature is to be free from the cycle of birth and death. This is “recognizing one’s true nature and becoming a buddha.” True nature is innate in every sentient being, not created nor achieved through practicing.

 

Also, there really is no Dharma to speak of since it is beyond dualistic descriptions. Reading thoroughly this section on Absolute Meditation, you will not be able to find any step-by-step method for practicing since it is not bound to any form. Therefore, there are no preparations, staying, or relaxation steps as in other types of meditations. Instead of asking for a practice method, practitioners need to use the prajna sword(27) to clear out the forest of  tightly grasped views. Only then will the ultimate goal appear. If practitioners try to search for a method of practice, they will be disappointed:

 

Hui-ke said to Bodhidharma, “My mind is not at peace. Please teach me how to pacify it.”

“Bring me your mind and I will pacify it,” Bodhidharma answered.

“I cannot find it.”

“There, I have pacified your mind for you.”

At this, Hui-ke understood the essence.

 

Reading  this,  practitioners  may  become disappointed, thinking “How can I find a method for pacifying the mind?” The half-real and half- false reply from Bodhidharma to Hui-ke’s earnest question makes us embarrassed. Yet, right at that moment, Hui-Ke understood. How amazing this is!

 

When practitioners have distracted, false thoughts during meditation,  their minds cannot be at peace. Many practitioners think that trying to pacify the mind is necessary. Therefore, when they hear about a Zen master, they immediately set out on their way to look for a method. If they study this method or that method to pacify their minds, this is only using hot to treat cold or using bright to erase darkness. All these dualisms are unreal and false symptoms. Bodhidharma did not teach that way. He simply said, “Bring me your mind and I will pacify it.” When one looks directly at the anxious mind, it will disappear, leaving no trace. Hui-ke had to say, “I cannot find it.” Bodhidharma only had to reply, “There, I have pacified your mind for you.” Hui-ke right away saw the Way.

 

For a long time now, we have believed that the agitated, thinking mind is real. However, if we look inside we will find no trace of the thinking mind and will then know it is empty of ownbeing. When we know it is empty, our thoughts no longer grab our attention and so will not disturb us. When thoughts arise, if we do not follow them, our minds will be calm. Following thoughts, thinking of this or that, never stopping, our minds cannot be at peace. The moment that a thought arises, if we know that it is empty and do not follow it, it will disappear by itself. This is a wonderful way for pacifying the mind. This way does not rely on any method or form.

 

Also, if we look directly at the false thoughts, they will disperse like clouds or smoke. This is “directly pointing at the mind,” not relying on any means. If we all practiced in this manner, no one would be unwise enough to run after their thoughts, trying to destroy illusions. We only need to know that thoughts are false and not follow them. This is the essence of Bodhidharma’s pacification of mind.

 

A monk once asked Zen Master Tsung-mi, “How does one practice Zen?” The master replied, “Knowing illusions is practicing.” This answer is simple and complete. Knowing that thoughts are false and not following them, our minds become calm by themselves. This is the wonderful practice of Zen. And, even though we say “practice,” it is not practice, because we do not create, destroy, or alter anything.

 

We use wisdom only to penetrate illusions. This “non-practice” practice begins with understanding the emptiness of the thinking mind and continues when you embrace the single mind essence. Master Wei-Hsin of Tong dynasty said, “Thirty years ago, I saw mountains and rivers as mountains and rivers. After I heard the Master’s teachings, I saw mountains and rivers not as mountains and rivers. Now my mind is clear so I see mountains and rivers being mountains and rivers.”

 

Before Master Wei-Hsin practiced Zen,  he  saw things the way most people do: only as physical mountains and rivers. After understanding Zen, he saw mountains and rivers as temporary, conditioned combinations; as things with non-real nature. After looking at everything through the eyes of wisdom, Master  Wei-Hsin  rid  himself  of  all  defilements. A pure, single mind essence was revealed. He saw mountains and rivers as mountains and rivers because he was free from all rigid viewpoints and discriminations. Master Wei-Hsin was really a person who reached the goal of the path of birds(28). Perhaps a more concrete example of this practice can be found in the conversation between Zen Master Yuan-Kuan and a monk who managed the garden:

 

The monk asked, “What should we do when we cannot control our internal enemies?”

“They would not be deadly foes if you knew them,” the Master replied.

“What should we do after we know them?”

“Banish them to the non-birth land.”

“Is non-birth land his(29) dwelling place?”

“Stagnant water cannot keep a dragon.”

“What is active water that will keep a dragon?”

“Spreading ripples yet not making waves.”

“How is it when suddenly swamps tilt and mountains crumble?”

“Do not say that any corner of my kasaya(30) gets wet,” said the Master, stepping down from his seat and grabbing the monk.

 

The hard to control “internal  enemies”  are the false thoughts arising when the six sense organs contact with the sense objects. When we know their false nature, they cannot harm us. On the contrary, we are able to control them, and then they become calmer and calmer. This is “staying in non-birth land.” However, we should not become stuck, thinking of this state as our ultimate goal. Our minds need to be in full awareness, alert and flexible yet not agitated - a state of boundless skillful abilities. This is “active water that can keep a dragon.” At this stage, although the sky may collapse or the ground may tilt, the practitioner’s mind cannot be disturbed. This is what is meant by “(no) corner of my kasaya gets wet.”

 

The point of this practice is not for achieving miraculous or supernatural powers. What is important is for practitioners to no longer be moved or disturbed by the eight winds(31). Although practitioners face challenges or difficulties, if their minds remain unmoved, this is complete success.

 

FROM HAVING TO NOTHING

 

When we recognize true nature in ourselves, we realize that all phenomena are temporary forms that are combined from conditions. True nature is formless, beyond both conditions and non-conditions, permanent and impermanent. This nature is always present in all sentient beings, bright and alert. It does not increase when one is enlightened. Neither does it decrease when one is ignorant. However, people usually forget this. When they can recognize this true nature in themselves, they become Buddhas:

 

One day, Ta-an asked Patriarch Pai-chang, “I want to know Buddha. What should I do?”

“It is like a person who looks for his ox while he is on its back,” Pai-chang replied.

“What is it like after knowing that?”

“Like the person who rides his ox home.”

“I do not know how to guard it?”

“It is like the herder who holds a rod while watching his ox, not letting it eats the rice in the paddy.”

At this, Ta-an understood.

 

We have a Buddha nature in each of us but we dare not accept it. Instead, we run around searching for it. We are like the man who is looking for the ox that he is sitting on! When we realize our true nature within ourselves, we will not worry and look for it any more; like the man who rides his ox home. However, knowing that we have not yet finished our task, we need to persistently watch and tame our thinking minds. It is like the ox herder who holds a rod while watching his ox. This is crucial practice for those who have just recognized their Owners. Zen Master Ta’an further instructed his disciples:

 

What are you all looking for when you come to Ta’an? If you want to become buddhas then see yourselves as buddhas. Why do you carry your buddhas to your neighbors, asking for buddhas?

 

You are like thirsty deer running after sunlight for water, chasing mirages. How could you ever succeed? Each of you has a priceless gem. It radiates through your eyes, illuminating mountains and rivers, trees and grass. It radiates through your ears, apprehending all good and evil sounds. Your six senses constantly radiated day and night. This is called the “light emanating samadhi.” You do not know this essence, embracing your four-constituent bodies(32) as solid selves. Yet, these bodies are dependent upon inside and outside conditions so need always to be carefully taken care of. It is like someone with a heavy load on his back, crossing a bridge made from a single tree trunk. This person has to always keep his balance for fear of losing his step.

 

Reading these lines, we know that Buddha nature is innate in each of us, manifesting through the six organs. The harder we run looking for Buddha nature, the more strained and tiresome we become. We just need to look back to see it. Unfortunately, we rarely accept our true natures. Instead, we accept the four-constituent bodies which readily decay when inside or outside conditions are insufficient. Therefore, we often are worried and fearful of impermanence. When we are able to embrace this unchanging true nature which cannot be harmed by anything, we can experience nirvana.

 

A monk asked Zen Master Shih-Chiu, “What is the gem in the hand of Kshitigarbha(33)?”

“Do you have it in your hand?” the Master responded.

“I do not understand.”

“Do not tell lies,” the Master replied. He then recited:

 

Not knowing your family treasure,

You follow outside phenomena.

It is like a person who stands in sunlight,

Yet at the same time, tries to escape his shadow,

Or, like an idiot who, without a mirror,

Cannot see his head so thinks he does not have one!

 

Human beings always run after outside phenomena and forget their true nature. It is like the monk in the story who wanted to ask about the gem in the hand of Kshitigarbha, forgetting the gem in his own hand. Even though we have drifted about in the six realms or wandered in the triple world, true nature is always with us as shadow follows form. We are like Yajnadatta in volume 4 of the Shurangama Sutra who looked in the mirror one day. He liked the head in the mirror because he could see it. However, when he stepped away from the mirror, Yajnadatta could not see his head. From this, he falsely reasoned that he had lost his head so ran madly about.

 

Everyday, we follow our thinking minds, believing these thoughts and then creating a self from them. When all thoughts calm down, we are startled, thinking that we have lost ourselves. Thoughts are always arising and disappearing, having neither location nor root. However, we grasp them as selves. When thoughts are calm, our faculties for seeing, hearing, and knowing still remain. How then can we say, “losing ourselves?” And who is it who is thinking “losing ourselves?” Only when we recognize the Owner, we will not be cheated by outside sense objects and false thoughts. As Zen Master Fa-Yen said, “I have a thing that is not worldly nor saintly, not wrong nor right, yet naturally know how to deal with events.”

 

The Owner in us is the absolute essence that is beyond duality. When in contact with the world, the Owner is aware and knows everything. This essence, also called the eternal Dharmakaya, was never born and will never be annihilated. It is true, permanent, and formless. It is, therefore, often described as emptiness. One who embraces the Dharmakaya sees his body, mind, and all phenomena as temporary and unreal, like bubbles, shadows, mist, or lightning. If one is always with the Owner while walking, standing, sitting, or lying down, one is doing “birthless practice.”

 

Zen Master Ruiyan Shiyan often sat on a rock, now and then calling to himself. “Owner!” he would shout. “Yes!” he would then answer, adding, “Be alert and do not let people deceive you!”

 

Calling and replying to oneself may seem silly, but this is an effective practice for remembering the Owner. Practitioners should be alert, always with their eternal Owners, and do not let the outside world deceive them. This is an everlasting principle for those who want to return to themselves. There are many different ways to express this returning  to  oneself: enlightenment, deliverance, Nirvana, or the Place of Jewels(34). When practitioners do return to themselves, nothing in the world can disturb them.

 

This type of meditation attaches special importance to the mind, not to a definite schedule. In all activities, while walking, standing, sitting, lying, and even resting, practitioners need to recognize every thought yet do not follow them. Therefore, outside conditions cannot grab their attention. Whenever they do not live with the Owner and lose their awareness, they are considered to be gravely distracted.  Those who are practicing this type of meditation may seem to be at leisure, but, in fact, they are paying attention to every thought. This practice is the foundation for becoming patriarchs and buddhas:

 

One day, Wang Chang Shi came to visit Patriarch Lin Chi’s monastery. He walked around and saw many monks staying there. Wang Chang Shi asked, “Do you teach them to meditate and recite the sutras?”

“No!” Lin Chi exclaimed.

“Then what do you teach them?”

“I teach them to become buddhas and patriarchs.”

 

This method of practice is subtle and internal, not belonging to any outward form. It seems difficult to understand, but people still can go through it. This practice has no levels and no means. Practitioners just live with their formless true nature. It may be rather hard for practitioners to evaluate their progress with this method but they must persist. There are people whose main aim in learning the Dharma is to expound it. Instead of practicing, they use buddhas’ and patriarchs’ sayings to cover their mistakes. These are called thieves of the Buddha Dharma.

 

In teaching the above ideas on Absolute Meditation, many have asked clarifying questions. Let’s look at a couple of these:

 

Question: Buddhism preaches “no-self ” but this section advises people to return to “an Owner.” Does the latter contradict the former?

 

Answer: Buddhism teaches “no-self ” in the sense that there is not a self in the body of five aggregates or components: form, feeling, conception, mental formation, and consciousness. We have a tendency to hold on these five aggregates as selves while the Buddha knew that they are conditioned, impermanent, and will cease. This is what he meant by the term “no self.” If one considers the existence of the five aggregate body as one’s self, how can one be free from the cycle of birth and death? Therefore, in Buddhism, one definition of ignorance is the holding on to of the five aggregates as a solid, enduring self.

 

The term “Owner” is used here to mean the non-birth-and-death essence within this body composed of the five aggregates. This essence will fully manifest itself when one’s feelings, conceptions, mental formations, and consciousness calm down. It is never apart with these aggregates, but when they are operating, we rarely realize this essence. The Owner is the tranquil, aware essence that has never been agitated, changed, or eradicated. To experience it, try this contemplation: When meditating or sitting alone at a quiet place, note how your feelings, conceptions, mental formations, and consciousness calm down, yet your eyes, your ears, etc.,  are full of awareness. Then, ask yourself, “Who is it that is seeing, hearing, etc.? Is it the permanent, tranquil, aware nature inside?” Therefore, the theory of “the Owner” mentioned here does not contradict the Buddha’s teaching about no self. When we have real experiences, we know it. It is useless to hang on to or argue over theories.

 

Question: In many sutras, the Buddha reprimanded views about permanence(35) and annihilation(36) while this section says, “the Owner is permanent and unchanging.” Is this section similar to heterodox views of permanence?”

 

Answer: The heretic holds on to the idea that the five-aggregate body is permanent when, in fact, it is impermanent, bound to birth and death. Therefore, the Buddha reprimanded their viewpoint. That which takes form and belongs to birth and death is impermanent. Since the Owner is formless, beyond duality, and free from birth and death, how can it be impermanent? We make efforts to express the Owner by saying that it is permanent and unchanging. In fact, when practitioners realize this aware nature in themselves, they will understand this sense of permanence that cannot be described. Therefore, when we say that the Owner is permanent and unchanging, it is not similar to heterodox views of permanence, and, as such, there is no contradiction.

NOTES:

25. Anapanasati is broadly used in various schools of Buddhism while the Six Wonderful Strategies is from the Mahayana branch.
26. Sanskrit for Fundamental Wisdom that is beyond intellect.
27. Clear wisdom that cuts through delusional views.
28. “The path of birds” is a Zen saying, meaning the fastest way to reach the goal.
29. The true Self
30. An ordained person’s robe
31. Eight worldly conditions of prosperity, decline, disgrace, honor, aise, censure, suffering, and pleasure.
32. According to Buddhism, sentient beings’ bodies are made of four basic constituents of earth (solid matter), water (liquid), fire (heat), and air (energy or motion).
33. Also known as Earth Repository or Earth Store Boddhisattva; who saves suffering beings in the hells, usually represented standing, holding in his left hand a pearl, and in his right hand a pilgrim’s staff. His famous quote is: “Not until the hells are emptied will I become a Buddha.”
34. Meaning “ultimate goal”; from the Lotus Sutra, in the chapter entitled “Magic City.”
35. The assertion of the permanence of ego.
36. The belief of human beings’ total annihilation after death.

_________________


Xem thêm - See more articles:
Chìa Khóa Học Phật - Keys To Buddhism

Thiền - Meditation (Nhiều Tác Giả - Many Authors)


_________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Giêng 20196:40 CH(Xem: 76)
Có nơi nào đủ da thú vật để bao phủ toàn bộ thế giới không? Chẳng cần thế, tôi chỉ cần đi một đôi dép bằng da thú vật, thì cũng giống như cả thế giới nầy được bao phủ bằng da. Cũng như thế, tôi không thể nào kềm chế các hiện tượng bên ngoài, nhưng tôi có thể kềm chế tâm của tôi. Nếu làm như vậy, tôi đâu cần kềm chế bất cứ điều gì khác?
02 Tháng Giêng 201910:36 SA(Xem: 154)
Quy Tắc Thứ Nhì - Bạn sẽ được trao tặng các bài học. Bạn được theo học tại một trường toàn thời gian (không chính thức) có tên là Cuộc Đời. Mỗi ngày ở trường học nầy bạn sẽ có cơ hội học các bài học. Bạn có thể thích hoặc ghét những bài học nầy, tuy nhiên, bạn đã sắp đặt chúng như một phần trong học trình của bạn.
25 Tháng Chín 20182:00 CH(Xem: 688)
Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện: --- Thót bụng thở ra. Phình bụng thở vào. Hai vai bất động. Chân tay thả lỏng. Êm chậm sâu đều. Tập trung theo dõi. Luồng ra luồng vào. Bình thường qua mũi. Khi gấp qua mồm. Đứng ngồi hay nằm. Ở đâu cũng được. Lúc nào cũng được!
15 Tháng Chín 20183:53 CH(Xem: 463)
Loại bỏ các âm thanh như tiếng vang/ tiếng kêu ầm/ tiếng hú/ âm-thanh phản-hồi từ micrô sang loa trong Windows 10 bằng cách không-chọn "listen to this device" ("nghe thiết bị này") - Eliminating the echo/clanking/howling/feedback sound from the microphone to the speaker in Windows 10 by unchecking the "listen to this device"
07 Tháng Chín 201810:44 SA(Xem: 457)
Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cánh tay bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”.
31 Tháng Tám 20189:57 SA(Xem: 354)
Dịu dàng, êm ái, dịu dàng. Phương Tây gió biển thênh thang thổi về, Thầm thì, êm ái, thầm thì. Phương Tây gió biển thổi về thênh thang! Gió theo sóng nước nhịp nhàng. Theo vầng trăng khuất sau làn mây bay. Đưa chàng về thiếp đêm này. Cùng con bé bỏng đang say giấc lành.
30 Tháng Tám 20183:59 CH(Xem: 393)
Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.
04 Tháng Tám 201811:02 SA(Xem: 447)
Một người đàn ông đang thất vọng cùng cực nói với một học giả: "Thế là hết! Tôi đã mất tất cả!". Nhà học giả hỏi: "Thế anh vẫn còn nhìn thấy, nghe thấy, đi lại...được đấy chứ?". Người đàn ông đáp:"Vâng!?". Nhà học giả nói: "Vậy thì tôi cho là cái gì anh cũng còn, chỉ có tiền là mất!". Một câu chuyện thật hay, phải không bạn?
06 Tháng Bảy 20186:17 CH(Xem: 1208)
Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn
05 Tháng Bảy 20189:27 CH(Xem: 669)
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ luôn luôn gặp những người khó chịu và khó tính; và trừ phi bạn muốn sống trong hang núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan), bạn sẽ phải học cách đối phó với những người nầy. Chúng ta không nên để những người khó tính làm xáo trộn tâm bình yên của chúng ta;
04 Tháng Bảy 20183:00 CH(Xem: 489)
Tôi không tuyên bố rằng, tôi là một ông bố kiên nhẫn nhất trên đời - nhưng đó là mục tiêu của tôi năm nay, và đấy là điều tôi mong muốn để trở thành. Bố mẹ nào cũng thường hay mất kiên nhẫn - đó là một sự thật của cuộc đời. Không có những thiên thần hoàn hảo nào khi nói đến các bà mẹ và các ông bố -
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1415)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
12 Tháng Sáu 20184:21 CH(Xem: 900)
1) Đảng Cộng Sản Trung quốc từ nhiều thập niên qua đã cố tình lấn chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta; gần đây đã công khai thực hiện việc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo sự căng thẳng nghiêm trọng với nguy cơ chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào tại Biển Đông; chúng ta nhất định phải ngày đêm nghiêm nhặt,
11 Tháng Năm 20189:00 SA(Xem: 4189)
Nếu con yêu Mẹ con ơi. Hãy yêu khi Mẹ còn nơi cõi trần. Mẹ còn cảm nhận tình chân. Ngọt ngào, êm dịu con dâng tràn đầy.
11 Tháng Năm 20188:30 SA(Xem: 8409)
Tới giờ con phải đi rồi. Mẹ ơi con phải đi thôi mẹ à. Khi trong bóng tối nhạt nhòa. Bình minh cô tịch hiện ra dịu hiền
22 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1424)
3. "Ở đời đừng có sure 100% về điều gì cả. Sách vở có thể làm hại mình, khiến mình nghĩ rằng đã hiểu biết lắm. Hầu hết những điều ta nói là lặp lại lời của người khác ấy mà": Trái với những lời khuyên thông thường về việc phải đọc sách nhiều vào, thì thầy tôi không thực sự khuyến khích. Sách vở cũng như thức ăn,
28 Tháng Ba 20187:00 SA(Xem: 593103)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
22 Tháng Ba 201811:06 CH(Xem: 1770)
Mấy hôm trước khi nghe pháp Sư giảng lần đầu tiên, con đã rất hỷ lạc suốt mấy ngày liền vì con tin là mình đã tìm được một vị minh sư. Tối hôm qua, khi nghe đến bài " Ai làm cho mình khổ", con lại khóc rất nhiều. Con không ngờ những bài pháp Sư giảng lại tác động mạnh mẽ đến tâm thức con như vậy.
20 Tháng Ba 20188:38 CH(Xem: 778)
Ngày hôm qua, con gặp lại bạn cũ học ĐH và add FB của bạn. Sau khi xem một vài hình ảnh chồng & con lai của bạn (con rất thích con lai) thì tâm con lại bị bấn loạn. Rất nhiều câu hỏi hiện ra trong đầu con như: sao mình như vầy (có công việc tốt, ngoại hình ko quá tệ...) mà ko quen được người tử tế? Làm sao để có được một em bé con lai dễ thương như vậy? ...
06 Tháng Ba 201810:35 CH(Xem: 1007)
Lần đầu tiên tôi nghe câu chuyện về võ thuật tôi yêu thích nầy, khi tôi mới bắt đầu học võ karate. Giờ đây tôi kể lại chuyện nầy cho những người học trò của tôi, và chẳng có gì là ngạc nhiên, khi tôi kể lại chuyện nầy cho các khách-hàng qua sự trình diễn cá nhân của tôi và khách-hàng doanh nghiệp của tôi. Đấy không phải là những chuyện nhiều kịch tính,
03 Tháng Giêng 20199:26 SA(Xem: 124)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1148)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1964)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 657)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 748)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2725)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
16 Tháng Giêng 20195:32 CH(Xem: 124)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama, là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
12 Tháng Giêng 20194:48 CH(Xem: 105)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 104)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 657)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 748)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 379)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript