Bình Đẳng Giới Và Trao Quyền Cho Nữ Giới Trong Phật Giáo Nguyên Thủy - Gender Equality and the Empowerment of Women in Theravada Buddhism

03 Tháng Giêng 20209:19 CH(Xem: 484)
Bình Đẳng Giới Và Trao Quyền Cho Nữ Giới Trong Phật Giáo Nguyên Thủy - Gender Equality and the Empowerment of Women in Theravada Buddhism

AjahnBrahm

Bình Đẳng Giới Và Trao Quyền Cho Nữ Giới Trong Phật Giáo Nguyên Thủy
Gender Equality and the Empowerment of Women in Theravada Buddhism
Ajahn Brahm - Việt dịch: Trần Như Mai
Nguồn: thuvienhoasen.org


__________________

Bình Đẳng Giới Và Trao Quyền Cho Nữ Giới Trong Phật Giáo Nguyên Thủy

Bản tin của Buddhist Channel (25/5/14 ) : Cổ động cho việc ‘ Phát triển bình đẳng giới và trao quyền cho nữ giới ’ là mục tiêu thứ 3 trong 8 Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ do Liên Hiệp Quốc công bố, và được Hội Đồng Phật Giáo Úc Châu Liên Bang (Federation of Australian Buddhist Councils = FABC) mạnh mẽ ủng hộ. Một trong những vị cao tăng của Úc, ngài Ajahn Brahm, được Việt Nam mời đọc tham luận về “ Bình Đẳng Giới và Trao Quyền cho Nữ Giới ” tại đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam vào tháng 5 , 2014. Thật không may là Ajahn Brahm đã không được phép trình bày bài tham luận này do một lệnh cấm từ Ban Tổ Chức UN Vesak áp đặt chỉ một ngày trước khi hội nghị bắt đầu. Bài tham luận của Ajahn Brahm đã được Ban Tổ Chức Hội Nghị chấp thuận nhiều tháng trước khi hội nghị diễn ra.

Hội Đồng Phật Giáo Úc Châu Liên Bang rất thất vọng khi bị bỏ qua cơ hội này để cổ động cho vấn đề quan trọng về bình đẳng giới tại một sự kiện Phật Giáo quốc tế đón mừng ngày lễ trọng đại nhất của Phật lịch.

Bài phát biểu của Ajahn Brahm trình bày một luận điểm vững chắc về việc truyền đại giới Tỳ-kheo-ni trong truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy, được hổ trợ bằng những tham khảo trích dẫn từ lời dạy của Đức Phật và những qui định trong Luật Tạng về việc điều hành sinh hoạt Giáo đoàn Phật giáo.

Dẫn Nhập:

Vào ngày 1 tháng 12 năm 1955, ở thành phố Montgomery thuộc tiểu bang Alabama, một phụ nữ người Mỹ gốc Phi châu đã từ chối lệnh của người tài xế xe buýt bảo bà phải nhường chỗ ngồi của mình trên xe bus cho một hành khách da trắng. Hành động đơn giản bày tỏ thái độ bất tuân ấy vì mục đích công bằng xã hội đã trở thành một trong những biểu tượng quan trọng nhất của Phong Trào Dân Quyền hiện đại ở Hoa Kỳ. Người phụ nữ ấy là Rosa Parks. Quốc Hội Hoa Kỳ đã gọi bà là “ đệ nhất phu nhân của dân quyền ” và là “ bà mẹ của phong trào tự do ”. Ngày 1 tháng 12 được tưởng niệm ở các tiểu bang CaliforniaOhio của Mỹ như là “Ngày Rosa Parks ”. Rosa Parks đã trở thành một Phật tử trước khi bà qua đời vào năm 2005 ở tuổi 92. Người ta có thể suy đoán rằng biểu tượng phụ nữ chống kỳ thị chủng tộc này đã chọn Phật Giáo bởi vì tôn giáo này rất thích hợp đế xúc tiến các vấn đề công bằng xã hội.

 

Trong bài tham luận này, tôi sẽ thảo luận bằng cách nào Phật giáo có thể xúc tiến vấn đề công bằng xã hội đặc biệt đối với Mục Tiêu Thứ Ba (MTT3) trong Những Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ của Liên Hiệp Quốc (LHQ) , qua đề tài : Bình Đẳng Giới và Trao Quyền Cho Nữ Giới. Tôi sẽ hướng trọng tâm vào giới lãnh đạo tăng đoàn hiên tại của Phật giáo Nguyên Thủy về nhu cầu cần bày tỏ rõ ràng sự cam kết của chính họ đối với MTT3 của Những Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ LHQ thông qua sự công nhận việc truyền đại giới Tỳ-kheo ni . Chỉ lúc đó tăng đoàn mới có thể sử dụng ảnh hưởng lớn lao của họ để làm cho thế giới chúng ta công bằng hơn, một thế giới trong đó con người được đánh giá bởi nhân cách của họ chứ không phải bởi giới tính.

 

Bất Bình Đẳng Giới ở Úc và Những Đóng Góp của Các Vị Lãnh Đạo Phật Giáo

 

Trong bản phúc trình về bình đẳng giới do Hội đồng Chính Phủ Úc ban hành vào ngày Thứ Ba, 19 tháng 11 năm 2011, người ta thấy mức lương trung bình của nữ sinh viên mới tốt nghiệp đại học ở Úc thấp hơn 10% so với nam sinh viên. Mặc dù họ có trình độ đạt tiêu chuẩn ngang nhau, phái nữ nhận lương ít hơn phái nam. Như vậy, trong một quốc gia phát triển như nước Úc, bất bình đẳng giới tính vẫn còn tồn tại. Trong những nước kém phát triển hơn, vấn đề này tệ hại hơn nhiều.

 

Người đồng nghiệp của tôi là Ajahn Sujato, vừa qua đã tham dự Nghi Viện Các Tôn Giáo vì Hòa Bình Thế Giới ở Vienna, do chính phủ Saudi Arabi tài trợ. Sư Sujato đã tường thuật lại trong blog của mình : “ Một chủ tọa đoàn được dành trọn để thảo luận vấn đề vai trò của nữ giới trong tôn giáo, và như có thể tiên đoán được, việc này gây ấn tượng mạnh mẽ và xúc động. Nạn hiếp dâm, bạo lực trong gia đình, buôn bán phụ nữ , ép buộc bán dâm, tử vong vì sinh sản: đó là những thực tại quá đau đớn đối với nhiều phụ nữ; trong lúc đó đạo đức tôn giáo do nam giới thống trị lại cứ bị ám ảnh về vấn đề giáo lý chính xác và ngăn chận đồng tính luyến ái. Những khổ đau của phụ nữ hiếm khi được mô tả trong các bài thuyết giảng tôn giáo, và như một trong những đại biểu đã nói, khi vấn đề đó được đề cập nó thường tẻ nhạt và mơ hồTuy nhiên, như những ai đang hoạt động trong vấn đề phát triển đất nước đều biết rõ, trao quyền cho nữ giới là phương tiện duy nhất có hiệu quả để các quốc gia thoát khỏi đói nghèo.”

 

Là những Phật tử ủng hộ lý tưởng từ bi vô điều kiên và tôn trọng con ngườiđánh giá con người theo cách hành xử của họ chứ không phải theo nguồn gốc họ sinh ra, chúng ta phải chuẩn bị tốt vị thế của mình để chứng tỏ tài lãnh đạo của chúng ta vể vấn đề phát triển bình đẳng giới trong thế giới hiện đại và đem lại kết quả là giảm thiểu nỗi thống khổ cho một nửa dân số trên thế giới này. Hơn nữa, nếu Phật giáo cần phải duy trì tính chất thích hợp với thời đại và phát triển, thì chúng ta phải đối đầu trực tiếp để giải quyết những vấn đề này. Nhưng làm sao chúng ta có thể bàn về vấn đề bình đẳng giới trong khi một số trong những tổ chức Phật giáo Nguyên Thủy vẫn còn phân biệt giới tính ?

 

Ở Úc, Giáo hội Cơ Đốc Anh đại diện cho 17.1% dân số ( theo Thống kê 2011) và vẫn duy trì tính chất hợp thời của họ bằng cách chấp nhận tấn phong nữ giám mục. Vào tháng 5 năm 2008, ở Perth, tôi được mời tham dự lễ thụ phong vị nữ giám mục đầu tiên trên thế giới của Giáo Hội Cơ Đốc Anh, đó là Giám mục Kay Goldsworthy. Giới truyền thông đã đáp ứng vô cùng tích cực đối với việc công nhận phụ nữ trong Giáo hội Cơ Đốc Anh. Những bước tiên phong như vậy đã tỏa sáng làm lộ rõ sự nổi bật đáng chê trách của các tôn giáo khác ở Úc vốn vẫn còn phân biệt đối xử dựa trên căn bản giới tính. Nhưng việc này lại tỏa ánh sáng tích cực vào Phật Giáo Nguyên Thủy ở Perth hiện đã có chư ni được thọ đại giới Tỳ-kheo-ni.

 

Thật không may là những chùa chiền tu viện Phật Giáo Nguyên Thủy khác ở Úc và ở các nơi khác trên thế giới vẫn còn giữ chặt không cho phép ni chúng được thọ đại giới để làm thành viên chính thức của Giáo đoàn. Tôi sẽ tranh luận về sau rằng không có một căn bản giới luật nào trong Luật Tạng, là Bộ Giới Bổn nguyên thủy của Phật Giáo, phủ nhận quyền được thọ đại giới của ni chúng. Hơn nữa, khi một số thành phần của Phật Giáo Nguyên Thủy nói chung vẫn được xem là đã ngăn cản một cách không hợp lý việc thọ đại giới của ni chúng, thì họ không có thẩm quyền đạo đức để bàn về bình đảng giới. Họ đã đánh mất cơ hội bàn về việc trao quyền cho nữ giới trong các lãnh vực khác của xã hội và xúc tiến Mục Tiêu Thứ Ba của Những Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ .

 

Khi Mahatma Gandhi còn là một sinh viên luật ở London, bà chủ nhà trọ của anh yêu cầu anh nói chuyện với con trai bà. Con trai bà ăn quá nhiều đường và không muốn nghe lời mẹ khi bà bảo cậu ấy ngưng ăn đường. Tuy nhiên, cậu ấy lại mến thích anh thanh niên Gandhi. Bà gợi ý là nếu anh Gandhi khuyên bảo con trai bà đừng ăn quá nhiều đường như thế, thì chắc là cậu ta sẽ nghe theo lời khuyên tốt đẹp ấy. Một hai tuần lễ trôi qua và cậu con trai bà chủ nhà trọ vẫn tiếp tuc ăn rất nhiều đường. Vì thế bà ấy đến gặp riêng anh Gandhi và hỏi anh tại sao anh không giữ lời hứa là sẽ nói chuyện với con trai bà. Anh Gandhi trả lời “Tôi đã nói chuyện với con trai bà, nhưng chỉ mới nói sáng nay.” - “ Vậy thì tại sao anh phải chờ lâu đến thế ? -“ Vì tôi cũng chỉ mới từ bỏ ăn đường ngày hôm qua”. Đó là câu trả lời của một người đàn ông vĩ đại.

 

Các nhà lãnh đạo tôn giáo, hơn ai hết, phải thực hành những gì họ thuyết giảng một cách nghiêm túc để cho lời khuyên của họ có hiệu quả.

 

Quyền Lực của Lãnh Đạo bằng cách Nêu Gương

 

Theo những số liệu mới nhất của Trang Mạng Wikipedia, có khoảng từ 506 triệu đến 1,146 triệu tín đồ Phật Giáo trên thế giới. Ngay cả với con số ước lượng thấp nhất thì đó cũng là một tỷ lệ đáng kể của dân số toàn cầu. Đại đa số những tín đồ đó nhìn vào các vị tăng sĩ và lạt-ma để tìm nguồn cảm hứng, hướng dẫn và lãnh đạo tâm linh. Hơn nữa, nhiều người trong số những Phật tử đó đang sống ở các quốc gia kém phát triển hay đang phát triển, nơi mà việc trao quyền cho nữ giới là rất quan trọng cho việc phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội của các quốc gia đó. Trong một thế giới được kết nối rất nhanh như ngày nay, lời nói chưa đủ. Cần phải hành động.

 

Ni Sư Chứng Nghiêm (Cheng Yen), người phụ nữ sáng lập Tổ Chức Từ Tế Quốc tế (International Tzu Chi Foundation), là một gương mẫu về quyền lực của một Ni Sư Phật GiáoNi Sư thọ đại giới ở Đài Loan vào năm 1962, vào thời điểm mà nữ giới có rất ít ảnh hưởng trong chính sách xã hội; ngày nay Ni sư được xem là một biểu tượng nổi bật trên khắp quê hương của bà cũng như trên trường quốc tế. Ni sư đã xây dựng những bệnh viện tối tân nhất có khả năng chống động đất ở Đài Loan năm 1962, dẫn đầu trong việc khuyến khích tái chế rác thải trong đất nước của ni sư, và thiết lập Tổ Chức Cứu Trợ Phật Giáo lớn nhất thế giới. Khi tôi viếng thăm Từ Tế Công Đức Hội ở Đài Loan vào tháng 5 năm 2013, tôi được nhân viên trình bày cho thấy làm cách nào những chai nhựa phế thải được chế biến thành những tấm mền để gởi đến cứu trợ các vùng bị thiên tai, như những vùng bị trận bão Haiyan tàn phá ở Philippines. Phần lớn việc này do những ông bà hưu trí thực hiện, những người đã tìm được ý nghĩa cuộc sống của họ khi cùng làm việc với nhau và nhận được rất nhiều lợi lạc về mặt tình cảm và sức khỏe từ những hoạt động xã hội như thế đem lại cho họ. Họ đang vui hưởng cuộc sống trong những năm cuối cùng của đời mình thay vì lãng phí thời gian nếu chỉ ở nhà. Không có nhà sư hay lat-ma nào đã làm việc gì tương tự có thể so sánh được.

 

Để Phật Giáo phát triển trong thế giới chúng tachúng ta cần hành động nhiều hơn là chỉ dạy thiền, thuyết giảng các bài pháp đầy hứng khởi, hay làm cho kinh điển được tiếp cận dễ dàng trên mạng Internet. Chúng ta rất giỏi nghiên cứu, xuất bản và truyền bá Phật pháp. Những gì chúng ta chưa được thành công lắm là việc bày tỏ lòng từ bi và vị tha của Giáo Pháp bằng những hành động của chúng taChúng ta đã viết rất nhiều trong sách của chúng ta hơn là nói vài lời tử tế với những người nghèo, đơn độc và tuyệt vọngChúng ta đã xây nhiều chùa hơn các cô nhi viện.

 

Nữ Giới Lãnh Đạo trong các Quốc Gia theo Phật Giáo Nguyên Thủy

 

Tích Lan (Sri Lanka) một quốc gia đa số dân chúng theo Phật giáo Nguyên Thủy, có thể hãnh diện là đã có nữ Thủ Tướng đầu tiên trên thế giới hiện đại, Bà Sirimavo Bandaranaik, vào năm 1960. Miến Điện (Myanmar) đáng lẽ đã có vị lãnh đạo chính phủ phái nữ đầu tiên vào năm 1990 khi Bà Aung San Su Kyi và đảng Liên Minh Quốc Gia Vì Dân Chủ ( National League for Democracy = NLD) của bà đã dành được 59% số phiếu phổ thông trong cuộc tổng tuyển cử toàn quốc, nhưng kết quả đã không được chấp nhận. Năm 2013, Thái Lan đã bầu vị nữ Thủ Tướng đầu tiên của họ là bà Yingluk Shinawatara.

 

Điều này chứng tỏ rằng cư sĩ Phật Giáo Nguyên thủy có thể chấp nhận phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, tại sao Tăng đoàn lại không thể làm như vậy ?

 

Truyền Thống

 

Nói chung, các tăng sĩ Phật Giáo Nguyên Thủy rất bảo thủ. Họ thường tuyên bố rằng họ là những người bảo hộ của “ Phật Giáo Nguyên Thủy cổ xưa “ từ thời Đức Phật. Họ cho rằng một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của họ là bảo tồn những giáo pháp đầu tiên quý báu và đích thực ấy. Trong bối cảnh này, những gì là truyền thống vào thời Đức Phật đối với vấn đề nữ giới trong Giáo Đoàn ?

 

Mọi tăng sĩ thuộc mọi truyền thống trong mọi quốc gia, cũng như tất cả những cư sĩ học giả Phật học, đều hoàn toàn chấp nhận rằng đã có những phụ nữ được thọ đại giới, gọi là Tỳ-kheo-ni, vào thời Đức Phật còn tại thế. Hơn nữa, điều này đã được khẳng định trong những bài thuyết giảng xưa cổ đầu tiên rằng một trong những mục tiêu của sứ mạng Đức Phật là ban cho phụ nữ quyền được thọ đại giới:

 

Này Ananda, một thời ta đang ở tại Uruvela trên bờ sông Ni-Liên-Thuyền (Neranjana) ( hiện nay là Bodh Gaya), dưới gốc cây Bồ đề ( Goatherd’s Banyan tree), khi ta mới thành đạo. Và lúc bấy giờ Ác ma đến chỗ ta ở, khi đến xong liền đứng một bên và nói : “ Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độThiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.”

 

Này Ananda, khi nghe như vậy, ta nói với Ác ma:” Này Ác ma, ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩnữ cư sĩ của ta chưa thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa vănduy trì Chánh phápthành tựu Chánh pháp và tùy Pháp; sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.”( Kinh Mahaparinibbana Sutta / Đại Bát Niết Bàn - Trường Bộ Kinh - bản dịch tiếng Việt của HT Thích Minh Châu)

 

Phật giáo Nguyên Thủy được thuận lợi hơn những tôn giáo lớn khác trên thế giới bởi vì truyền thống của họ đã công khai ban quyền bình đẳng ấy cho nữ giớiThiên Chúa giáo không có truyền thống bình đẳng giới trong các chức vụ giáo sĩHồi GiáoDo Thái Giáo hay nhiều trường phái khác nhau của Ấn Giáo cũng không có truyền thống này. Phật giáo đứng tách biệt và đi trước thời đại của họ khi ban cho phụ nữ địa vị bình đẳng ấy kể từ “ khi Ta (Đức Phật ) vừa mới chứng đắc giác ngộ tối thượng” ở Bồ Đề Đạo Tràng.

 

Như vậy, việc truyền đại giới cho phụ nữ là một phần của truyền thống cổ xưa nhất. Đó cũng là ước vọng đã được tuyên bố của Đức Phật.

 

Những Trở Ngại về Vấn Đề Bình Đẳng Giới trong Giáo Đoàn Nguyên Thủy

 

Có hai trở ngại chính về việc chấp nhận truyền đại giới Tỳ-kheo-ni trong Phật giáo Nguyên Thủy :

 

1) Không hiểu biết về việc ai có quyền đưa ra những quyết định điều hành Giáo đoàn.

 

2) Không hiểu biết về Luật Tạng, là các luật lệ do Đức Phật thiết lập để giới hạn những quyết định nào có thể được hình thành.

 

Nhiều tăng sĩ Thái lan lập luận rằng một điều luật của quy chế Tăng Già Thái Lan năm 1928 ngăn cấm việc truyền giới cho tu nữ :

 

Thông Báo

 

“ Không cho phép bất cứ Tỳ kheo nào truyền giới xuất gia cho phụ nữ.

 

Bất cứ phụ nữ nào có nguyện vọng được xuất gia như một Sa-di-ni, theo đúng sự chấp thuận của Đức Phật, phải được truyền giới từ một Tỳ-kheo-ni đã thọ đầy đủ đại giới . Đức Phật đã thiết lập qui định rằng chỉ có một Tỳ-kheo-ni đã trải qua hơn 12 tuổi hạ (Vassas ) mới được quyền làm Giáo Thọ (Preceptor).

 

Đức Phật không cho phép một Tỳ kheo làm Giáo Thọ trong lễ truyền giới này. Thật không may, dòng truyền thừa Tỳ-kheo-ni từ đó đã phai nhạt và mất hẳn. Kể từ đó, không còn Tỳ-kheo-ni thọ đầy đủ đại giới để tiếp tục dòng truyền thừa, do đó không còn Sa-di-ni nào được truyền giới đúng pháp từ một vị Tỳ-kheo-ni đã thọ đầy đủ đại giới.

 

Như vậy, cả dòng truyền thừa Tỳ-kheo-ni lẫn Sa-di-ni đều đã chấm dứt. Vì thế, bất cứ Tỳ kheo nào truyền giới cho một phụ nữ trở thành Sa-di-ni, có thể nói là vị Tỳ kheo đó không hành xử đúng theo pháp chế Đức Phật đã ban hành. Điểm cốt lõi là vị Tỳ kheo ấy đang làm theo đường lối của chính mình và tách rời khỏi đường lối hướng dẫn Đức Phật đã thiết lập. Đây là điều sẽ gây nguy hại cho Phật giáo và không phải là một tấm gương tốt cho những Tỳ kheo khác.”

 

Vì vậy, tất cả tăng chúng và các chú tiểu tập sự thuộc cả hai tông phái Nikayas bị cấm không được truyền giới cho bất cứ phụ nữ nào như là Tỳ-kheo-ni ( Bikkhuni), Thức-xoa-ma-ni (Sikkhamana) hay Sa-di-ni( Samenera) kể từ ngày này trở đi ”.

 

Phra Bancha Somdet Pra Sangharacha Jiao Gromluang Jinawarn Siriwad ( ngày18 tháng 6, PL 2471)

 

( Đây là thông báo chính thức trích từ Biên Bản Buổi Họp của Hội Đồng Tăng Già Thái Lan , Quyển số 16, trang 157)

 

Ghi nhận tính chất lỗi thời của điều luật này cũng như cần vạch rõ rằng Hội ĐồngTăng Già Thái Lan, cùng với Hội Đồng Trưởng Lão Thái Lan (Mahatherasamakom ), theo quy chế ràng buộc họ về mặt pháp lý , chỉ được phép điều hành những vấn đề trực tiếp liên hệ đến tăng chúng và các chú tiểu tập sự thuộc hai tông phái chính của Thái là Mahanikaya và Dhammayuttanikaya. Về mặt pháp lý họ không được trao quyền điều hành công việc của các tông phái khác, như chư tăng thuộc Bắc Tông Trung quốc ở Thái Lan, hay ni chúng. Đối với chư tăng có thiện chí muốn chờ đợi Hội Đồng Trưởng Lão quyết định tính hợp pháp của Tỳ-kheo-ni Nguyên Thủy, họ sẽ phải chờ đợi mãi mãi. Về mặt pháp lý, Hội Đồng Trưởng Lão Thái không được quyền điều hành những vấn đề vượt qua quyền hạn của họ.

 

Như cố Trưởng lão Somdet Phra Pootajarn, là vị đảm nhiệm chức vụ quyền lãnh đạo của Hội Đồng Trưởng Lão Thái lúc đó, đã nói với tôi vào năm 2009 liên quan đến vấn đề truyền đại giới Tỳ-kheo-ni : “ Luật pháp Thái Lan không thể áp dụng bên ngoài nước Thái ”. Điểm cốt lõi là Tăng Già Thái Lan không thể điều hành những tăng sự của Giáo Đoàn ở Sri Lanka hay ở Úc.

 

Thật vậy, Đức Phật đã quy định rằng tất cả quy chế tăng sự ( Sanghakamma), như là truyền đại giới Tỳ-kheo-ni, phải do cộng đồng Phật giáo địa phương quyết định, được định nghĩa như là những vị tăng ni trong cùng một biên cương đạo tràngQuyết định hay ý kiến của những hội chúng khác không có hiệu lực. Việc quản trị Giáo đoàn được ban cho mỗi hội chúng. Đây là qui luật của Đức Phật.

 

Tuy nhiên, mỗi hội chúng đều bắt buộc phải hành động trong phạm vi những điều luật gọi là Luật Tạng. Như vậy những điều luật đó có phải là một trở ngại cho việc truyền thọ đại giới Tỳ-kheo-ni ?

 

Quy chế Tăng già Thái lan năm 1928 đưa ra điều luật rằng một Tỳ kheo tăng không được truyền giới cho một Tỳ-kheo-ni, bởi vì cần phải có những Tỳ-kheo-ni khác truyền giới cho một tỳ-kheo-ni. Đây là điểm gây bất đồng ý kiến. Trong một bài báo xuất bản gần đây nhan đề “ Việc Phục Hoạt Giáo Đoàn Tỳ-kheo-ni và sự Suy Tàn của Giáo Pháp ” do một vị Tỳ kheo học giả Phật học nổi tiếng là Bhikkhu Analayo ( trong Đặc san Đạo Đức học Phật Giáo (Journal of Buddhist Ethics), tập 20- 2013, có thể đọc trên Mạng Internet ở địa chỉ  (Ghi Chú_1) , tác giả lập luận rằng việc truyền đại giới Tỳ-kheo-ni  hợp pháp. Nói tóm tắtTỳ kheo Analayo lập luận rằng trước tiên Đức Phật ban cho các Tỳ-kheo-tăng quyền truyền giới cho Tỳ-kheo-ni. Sau đó, Đức Phật ban cho các Tỳ-kheo-ni được thọ đại giới trong một giới đàn do nhị bộ tăng ni thực hiệntrước tiên là trong một Giáo đoàn Tỳ-kheo-ni, và sau đó là trong một Giáo đoàn Tỳ-kheo-tăng. Tuy nhiên, ngược lại với lịch sử của việc truyền đại giới Tỳ-kheo-tăng, theo đó người ta tìm thấy rằng bất cứ khi nào Đức Phật cho phép có một lễ truyền giới mới, thì nghi thức truyền giới trước đó bị bãi bỏ ngay tức khắcĐức Phật đã không hủy bỏ nghi thức truyến đại giới Tỳ-kheo-ni do Tỳ-kheo-tăng thực hiện lúc ban đầu. Nguyên tắc chung của Phật Giáo Nguyên Thủy là “ Không hủy bỏ những gì đã được Đức Phật chính thức cho phép” ( một trong bảy nguyên nhân để Phật giáo trường tồn – Tăng Chi Bộ Kinh 7, 23). Như vậy, đây là một luận điểm mạnh mẽ về tính hợp pháp của đại giới đàn Tỳ-kheo-ni chỉ do Tỳ-kheo-tăng truyền giới mà thôi.

 

Nhìn chung mọi người đều xem đại giới đàn Tỳ-kheo-ni đầu tiền trong thời hiện đại là giới đàn đã được tổ chức vào năm 1998 ở Bồ Đề Đạo Tràng. Đây là đại giới đàn do nhị bộ tăng ni thực hiệntrước tiên do các vị Tỳ-kheo-ni Trung quốc theo Giới Luật“ Pháp Tạng Bộ” (Dharmagupta) truyền giới, và sau đó là do một Giáo đoàn Tỳ-kheo-tăng Nguyên Thủy quốc tế truyền giới. Việc này có hợp pháp không ?

 

Có bốn cách, và chỉ bốn cách mà thôi, để một giới đàn được đánh giá là bất hợp pháp :

 

1) Simavipatti: khi có một vị tăng hay ni trong cùng một giới tràng, phải hiện diện, nhưng đã vắng mặt.

 

2) Parisavipatti: Khi không có đủ túc số Giới sư.

 

3) Vatthuvipatti: (để truyền giới) khi một ứng viên không đạt tiêu chuẩn để thọ giới, chẳng hạn như là chưa đủ tuổi.

 

4) Kammavacavipatti: khi nghi thức xướng lễ không đúng qui định, ví dụ như một lễ truyền giới không được tác pháp và ba lần yết ma.

 

Đối với giới đàn ở Bồ Đề Đạo Tràng, không có gì phải nghi ngờ vì :

 

  1. Tất cả tăng ni trong giới tràng đều hiện diện.
  2. Tất cả ứng viên đều đạt tiêu chuẩn (để thọ đại giới). và
  3. Nghi thức xướng lễ đúng pháp.

Nhưng có đủ túc số giới sư không? Chư Ni Đại Thừa có đạt tiêu chuẩn để làm giới sư không?

 

Không có bằng chứng hợp lý nào để nghi ngờ rằng các Tỳ-kheo-ni thực hành nghi thức giới đàn ở Bồ Đề Đạo Tràng không phải là những Tỳ-kheo-ni hợp pháp. Các văn kiện lưu trữ chứng minh rằng dòng truyền thừa của họ xuất phát từ Tích LanNghi thức truyền đại giới của họ không thiếu bất cứ điều kiện nào trong bốn điều kiện nêu trên. Chư Tỳ-kheo-ni này đã thực hiện nghi lễ với tất cả tăng ni đều hiện diện đầy đủ trong giới tràng ( mà họ gọi là ‘ giới đàn’ ). Luôn luôn có đầy đủ túc số giới sư. Các vị này bảo đảm rằng ứng viên đạt tiêu chuẩn để thọ giới. Và nghi lễ được tác pháp và ba lần yết ma giống như trong Phật Giáo Nguyên Thủy, cho dù họ xướng tụng bằng tiếng Hoa. Chư ni này là Tỳ-kheo-ni đúng theo Luật Tạng và họ có quyền truyền giới cho các tỳ-kheo-ni khác.

 

Nhưng còn vấn đề túc số giới sư của tông phái Đại Thừa truyền giới cho chư ni thuộc tông phái khác ( Nguyên Thủy ) ?

 

Các Tông Phái trong Phật Giáo

 

Các tông phái khác nhau của Phật giáo Nguyên Thủy được gọi là “nanasamvasa” trong Luật Tạng. Họ là những hội chúng riêng biệt thực hiện những luật lệ điều hành của riêng họ (Sanghakamma =Nội qui Tăng sự), ngay cả trong cùng một biên cương đạo tràngLuật Tạng xác định rằng chỉ có hai căn nguyên phát sinh các hội chúng riêng biệt (nanasamvasabhumi- Vinaya Mahavagga, Chương 10, câu 1.10):

 

  1. Một vị tăng tự quyết định mình thuộc về một hội chúng riêng biệt với các hội chúng khác. Hoặc là ,
  2. Giáo đoàn bắt buộc một vị tăng ra khỏi hội chúng bằng cách áp dụng hình phạt nghiêm khắc theo luật Tỳ Kheo Ukkepaniyakamma ( trục xuất một vị tăng phạm giới) bằng cách tác pháp và ba lần yết ma.

Nguyên nhân thứ hai để tách riêng hội chúng không còn áp dụng ngày nay. Như vậy chỉ còn nguyên nhân thứ nhất, đó là do sự chọn lưa cá nhân. Nói một cách đơn giản, theo Luật Tạng, một vị tăng được phép lựa chọn thi hành Nội qui Tăng sự (Sanghakamma) với bất cứ tăng đoàn nào mà vị ấy cảm thấy thích hợp. Không có một trở ngại pháp lý nào ngăn cấm một vị tăng Nguyên Thủy thi hành Nội Qui Tăng Sự với một Tỳ kheo Đại Thừa. Thật vậy, có thể nói một cách chính xác rằng không có Tỳ-kheo Nguyên Thủy hay Đại Thừa, theo Luật Tạng, chỉ có những Tỳ-kheo tùy duyên theo nghi thức Nguyên Thủy hay Đại thừa. Như vậy, một vị tăng đã thọ giới theo nghi lễ Nguyên Thủy có thể gia nhập vào một tu viện Đại Thừa mà không cần phài làm lễ thọ giới lại.

 

Như vậy, theo Luật Tạng, các Tỳ-kheo-ni Đại Thừa có thể thực hiện phần đầu của nghi thức truyền đại giới cho một vị tân Tỳ-kheo-ni, và sau đó vị tân Tỳ-kheo-ni có thể tiến hành phần thứ hai với chư tăng Nguyên Thủy, theo nghi lễ truyền đại giới do nhị bộ tăng ni thực hiện,. Đây là những gì đã xảy ra ở Bồ Đề Đạo Tràng. Không có lập luận hợp lý nào dựa trên Luật Tạng để vô hiệu hóa việc truyền thọ đại giới này. Và các Tỳ-kheo-ni thọ giới ở Bồ Đề Đạo Tràng thuộc về tông phái nào ? Tùy quý vị ấy lựa chọn !

 

Giới Đàn Tỳ-kheo-ni ở Perth năm 2009

 

Một khi đã có Tỳ-kheo-ni Nguyên Thủy thì việc tổ chức truyền đại giới cho bốn vị tu nữ trở thành Tỳ-kheo-ni ở Perth tương đối dễ dàng. Mặc dù vào thời điểm đó việc này cũng tạo nên một số rắc rối, bây giờ thì tất cả những vị Tỳ-kheo-ni được thọ đại giới đều đã được công nhận là Tỳ-kheo-ni theo đúng Luật Tạng. Như một câu danh ngôn xưa đã nói: “ Người ta không thể làm món trứng chiên mà không đập vỡ trứng ”.

 

Giáo đoàn Tỳ-kheo-ni đang phát triển. Ở Perth, Ni viện Dammasara hiện tại có 11 thành viên của Ni Đoàn cùng với một danh sách ghi tên chờ đợi của phụ nữ khắp thế mong muốn được thọ giớiMới đây, kênh Truyền hình Thái đã thăm viếng Ni Viện và phỏng vấn các Tỳ-kheo-ni. Ở Thái Lan có khoảng 100 Tỳ-kheo-ni (Theo Murray Hunter, ANU, 2/1/2014) và Tích Lan có khoảng 800 Tỳ-kheo-ni (Theo báo The Sunday Leader, Sri Lanka, 3 March 2013). Họ có thể không được tất cả chư tăng tôn trọng, nhưng họ đang được cộng đồng cư sĩ Phật tử kính trọng hơn bao giờ hết, nhất là trong các nước Tây phương. Chư Tỳ-kheo-ni ở Perth đang giảng pháp và dạy hành thiền. Chư ni đang giữ đúng vị trí của họ trong tứ chúng đồng tu của Phật giáo như Đức Phật mong muốn. Họ đang nhận được sự hổ trợ rộng lớn.

 

Đối với Giới Lãnh Đạo Phật Giáo Nguyên Thủy Hiện Nay Có Nhu Cầu Cần Chấp Thuận Giới Đàn Tỳ-kheo-ni

 

Có lẽ cũng đáng cho chư tăng Thái lan quan tâm khi biết rằng vị Giới sư tại giới đàn Tỳ-kheo-ni ở Perth, là Sư cô Ayya Tathhaloka, đã thăm viếng Ngài Trưởng Lão Ajahn Maha Boowa tại Chùa Wat Bahn That ở Udon chỉ một thời gian ngắn trước khi có giới đàn Tỳ-kheo-ni ở Perth. Ngài Ajahn Boowa đã mời sư cô nghỉ qua đêm trong khu vực ni xá, và đã công nhận giới phẩm của sư cô bằng cách mời sư cô lên ngồi trên sàng tọa cùng với chư tăng và giới thiệu sư cô là Tỳ-kheo-ni trước mặt Tăng Đoàn cùng với hội chúng cư sĩ .

 

Nhiều vị lãnh đạo uy quyền của Thái lan rất kính trọng Ngài Ajahn Boowa đến mức là sự kiện này có thể khuyến khích nhiều vị cao tăng khác chấp nhận sự hiện hữu của Tỳ-kheo-ni ở Thái lan. Sự chấp nhận của các vị tăng lãnh đạo sẽ đưa đến kết quả là địa vị của Tỳ-kheo-ni được giới cư sĩ Phật tử kính trọng nhiều hơn. Từ đó chư ni ấy sẽ được trao quyền lãnh đạo trong nhiều lãnh vực khác vì lợi lạc và tiến bộ của đất nước họ.

 

Sự Liên Quan của Giới Đàn Tỳ-kheo-ni đối với Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ Thứ Ba

 

Trong một bài tham luận được ấn hành gần đây của Emma Tomalin và Caroline Starkey (Bản tin báo Sakyadhita, Winter 2012), hai tác giả đã nghiên cứu tìm hiểu vai trò của Phật giáo Thái lan và Cambodia trong việc duy trì sự bất bình đẳng giới tính trong giáo dục và, “ cuối cùng hỏi rằng mối tương quan giữa việc tái khẳng định quyền được thọ đại giới theo truyền thống của phụ nữ và việc trao quyền cho nữ giới thông qua giáo dục là gì ? ”. Họ ghi nhận : “ Nhiều học giả, cả Thái lẫn Tây phương, đã gợi ý rằng Phật giáo là một yếu tố giải thích cho sự bất bình đẳng giới trong lịch sửđặc biệt là ở những vùng nghèo nhất”. Và “ Nhiều người cổ xúy cho việc truyền thọ đại giới Tỳ-kheo-ni cho rằng có một sự liên quan trực tiếp giữa địa vị thấp kém của nữ giới trong nhiều truyền thống Phật giáo và địa vị thấp kém của phụ nữ trong các xã hội Phật giáo”.

 

Như vậy, bằng cách phục hồi sự bình đẳng cho nữ giới trong Giáo Đoàn Nguyên Thủy qua việc trao trả lại quyền được thọ đại giới Tỳ-kheo-ni, chúng ta sẽ giải quyết được địa vị thấp kém của phụ nữ trong nhiều nước theo Phật giáo Nguyên Thủycổ động cho quyền bình đẳng giới trong giáo dục, và như vậy, tạo được một tuyên ngôn mạnh mẽ để ủng hộ cho Mục Tiêu thứ Ba trong những Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ của Liên Hiệp Quốc.

 

Bằng cách trước tiên sửa chữa lại ngôi nhà của chính chúng tachúng ta sẽ có cơ hội và thẩm quyền đạo đức rất lớn qua sách chúng ta viết và các bài thuyết pháp để khơi nguồn cảm hứng và khuyến khích tín đồ Phật giáo của chúng ta cùng hoạt động tiến tới bình đẳng giới trong những lãnh vực khác ngoài tôn giáo. Điều này sẽ đưa đến một thế giới bớt bạo độnglành mạnh hơn và thịnh vượng hơn.

 

Ajahn Brahm, Perth, Tháng Giêng 2014

Gender Equality and the Empowerment of Women in Theravada Buddhism

Hanoi, Vietnam -- Promoting Gender Equality and Empowering Women is No. 3 on the list of eight declared United Nations (UN) Millennium Development Goals, and is strongly supported by the FABC.

 

One of Australia's senior monks, Ajahn Brahm, was invited to deliver a speech on Gender Equality at the UN Day of Vesak Convention in Vietnam in May 2014. Unfortunately, Ajahn Brahm was prevented from delivering his speech by a ban imposed by conference organising committee the day before it was due to be given at the Convention. Ajahn Brahm's paper had been pre-approved by the conference organising committee several months before the event.

 

The FABC and Australian Buddhist communities are very disappointed at this missed opportunity to promote the important issue of Gender Equality at an international Buddhist event to celebrate the most important day in the Buddhist calendar.

 

Ajahn Brahm's paper presented a solid case for the full ordination of women in the Theravadin tradition, supported by references from the Buddha and the Vinaya rules that govern Buddhist monastic life.

 

Please read below the full text of Ajahn Brahm's banned paper: Theravada Buddhism and UN Millenium Development Goal 3 (MDG 3):

 


Gender Equality and the Empowerment of Women
in Theravada Buddhism


Introduction

 

On December1 1955, in Montgomery Alabama, an African-American woman refused to obey a bus driver’s order to give up her seat on the bus to a white passenger. That simple act of defiance for the cause of social justice became one of the most important symbols of the modern Civil Rights Movements in the USA. That woman was Rosa Parks. The United States Congress called her “the first lady of civil rights” and “the mother of the freedom movement”. December 1 is commemorated in the US states of California and Ohio as “Rosa Parks Day”.

 

Rosa Parks became a Buddhist before she passed away in 2005 aged 92. One can speculate that this female icon against discrimination chose Buddhism because it is well suited to advancing social justice issues.

 

In this paper, I will discuss how Buddhism may advance the particular social justice issue of Millennium Development Goal No. 3: Gender Equality and the Empowerment of Women. I will focus on the need for Theravada Buddhism’s current male leadership to clearly demonstrate its own commitment to MDG 3 through acceptance of the bhikkhuni ordination.

 

Only then can it use its considerable influence to make our world more fair, one where people are judged on their character and not on their gender.

 

Gender Inequality in Australia and the Contributions of Buddhist Leaders

 

In a report on gender equity issued by the Council of Australian Governments on Tuesday 19 November 2013, the median salary of new female graduates in Australia was found to be 10% less than that of male graduates. Even though they were equally qualified, women received less pay than men. Thus even in a developed country such as Australia, gender inequality still persists. In less developed countries it is far worse.

 

My colleague, Ajahn Sujato, recently attended the 2013 Religions for Peace World Assembly in Vienna, sponsored by the government of Saudi Arabia. He reported in his blog: One panel was devoted to the role of women in religion, and that was, predictably, powerful and moving. Rape, domestic violence, trafficking in women, forced prostitution, maternal mortality: these are all-too-painful realities for many women; and meanwhile male-dominated religious morality obsesses about correct doctrine and stopping gays. The suffering of women is rarely featured in religious discourse, and as one of the delegates said, when it is mentioned it is tepid and equivocal. Yet as those working in development know well, empowerment of women is the single most effective means of lifting countries out of poverty.

 

As Buddhists who espouse the ideal of unconditional loving kindness and respect, judging people on their behavior instead of their birth, we should be well positioned to show leadership on the development of gender equality in the modern world and the consequent reduction of suffering for half the world’s population. Moreover, if Buddhism is to remain relevant and grow, we must address these issues head on. But how can we speak about gender equality when some of our own Theravada Buddhist organizations are gender biased?

 

In Australia, the Anglican Christian Church represents 17.1% of the population (2011 National Census) and is maintaining its relevance by ordaining female bishops. In May 2008, in Perth, I was invited to attend the ordination of the world’s first female bishop in the Anglican Christian Church, Rev. Kay Goldsworthy. The media response to the recognition of women in the Anglican Church was overwhelmingly positive. Such initiatives shine a damming spotlight on other religions in Australia that still discriminate on the basis of gender. But it shone a positive light on Theravada Buddhism in Perth that has fully ordained nuns.

 

Unfortunately, other Theravada Buddhist temples and monasteries in Australia and in other parts of the world still adhere to excluding women from full membership of the Sangha. I will later argue that there is no legal basis in the Vinaya, the ancient Buddhist Monastic Code, to deny women full ordination.

 

Moreover, when parts of Theravada Buddhism are generally considered to unreasonably prevent women from full membership of the Sangha, then they have no moral authority to speak on gender equality. They have lost the opportunity to speak for the empowerment of women in other parts of society and advance the Third Millennium Development Goal.

 

When Mahatma Gandhi was a law student in London, the landlady of his boarding house asked him to have a talk with her son. Her boy was eating too much sugar and would not listen to his mother when she told him to stop. Yet the boy had a fondness for the young Mr. Gandhi. She suggested that if Mr. Gandhi advised her son not to eat so much sugar then he might follow the good advice. A week or two went by and the landlady’s son was still eating lots of sugar. So she took Mr. Gandhi aside and asked him why he had not kept his promise to talk with her son. “But I did talk with your son” Mr. Gandhi replied, “but only this morning.”

 

“So why did you wait so long?” “Because it was only yesterday that I gave up eating sugar”. Such was the reply of the great man.

 

Religious leaders, above all others, must practice what they preach to be taken seriously and for their advice to be effective.

 

The Power of Leading by Example

 

According to the latest figures from Wikipedia, there are between 506 million to 1,146 million Buddhists in our world. Even at the lower estimate that is a significant proportion of the global population. The vast majority of these look to their monks and lamas for inspiration, guidance and moral leadership.

 

Moreover, many of these Buddhists are in undeveloped or developing countries where the empowerment of women is crucial for those countries’ economic development and social progress. In today’s highly connected world, words are not enough. Actions are demanded.

 

Master Cheng Yen, the female founder of the International Tzu Chi Foundation, is an example of the power of an ordained Buddhist Nun. Ordained in Taiwan in 1962, at a time when women had little influence in social policy, she is now regarded as an icon throughout her homeland as well as internationally.

 

She has built state-of-the-art earthquake-proof hospitals in Taiwan, led the way in encouraging recycling of waste in her country, and established the largest Buddhist Relief Organization in our world. When I visited Tzu Chi Foundation in Taiwan in May 2013, I was shown how discarded plastic bottles were turned into blankets to be sent to natural disaster zones, such as the areas devastated by the recent Typhoon Haiyan in the Philippines. Much of the work was done by retired men and women who gained meaning in their lives together with the considerable emotional and health benefitsthat such a social activity provides. They were enjoying their twilight years instead of wasting away at home. No monk or lama has done anything comparable.

 

For Buddhism to grow in our modern world, we need to do more than teach meditation, preach inspiring sermons, and make the Sutras available over the internet. We are good at studying, publishing and spreading the word of Buddhism. What we have not been very successful at is showcasing the compassion and selflessness of the Dharma by our actions. We have written many more words in our books than what few kind words we have spoken to the poor, lonely and desperate. We have built so many more temples than orphanages.

 

Female Leadership in Theravada Buddhist Countries.

 

Sri Lanka, a majority Theravada Buddhist country, can be proud of having the modern world’s first female Prime Minister, Mrs Sirimavo Bandaranaike, in 1960. Myanmar would have had its first female head of government in 1990 when Aung San Su Kyi and her NLD party won 59% of the popular vote in the national election, but the election result was not accepted. In 2013, Thailand elected their first female Prime Minister, Yingluk Shinawatara.

 

This shows that Theravada Buddhist laypeople can accept women in leadership roles, why can’t the Sangha?

 

Tradition

 

Theravada Buddhist monks, generally speaking, are very conservative. They often claim that they are the guardians of “Original Buddhism” from the time of the Lord Buddha Himself. They consider that one of their most important duties is to preserve these precious and authentic early teachings. In this context, what was the tradition in the time of The Lord Buddha with regard to women in the Sangha?

 

All monks of all traditions in all countries, and all Buddhist lay scholars as well, fully accept that there were fully ordained women, called Bhikkhuni, in the lifetime of the Buddha. Moreover, it is clearly stated in these early teachings that one of the goals of the Lord Buddha’s mission was to give the full ordination to women:

 

Ananda, once I was staying at Uruvela on the bank of the river Neranjara (present day Bodh Gaya) under the Goatherd’s Banyan tree, when I had just attained supreme enlightenment. And Mara the Evil One had come to me, stood to one side and said “May the Blessed One now attain final Nibbana, may the Sugata now attain final Nibbana. Now is the time for the Blessed Lord’s final Nibbana.”

 

At this, I said to Mara: “Evil One, I will not take final Nibbana until I have bhikkhus, bhikkhunis, lay men and lay women followers, who are accomplished, trained, skilled, learned, knowers of the Dhamma, trained in conformity with the Dhamma, correctly trained and walking in the path of the Dhamma, who will pass on what they have gained from their Teacher, teach it, declare it, establish it, expound it, analyse it, make it clear, until they shall be able by means of the Dhamma to refute false teachings that have arisen, and teach the Dhamma of wondrous effect (MahaparinibbanaSutta 3. 34-35)

 

Theravada Buddhists should have an advantage over other major world religions because their tradition explicitly gives such equity to women. Christianity has no tradition of gender equality in their priesthood. Nor does Islam, Judaism or the various schools of Hinduism. Buddhism stands apart and ahead of its time in granting such status to women from “when I (the Lord Buddha) had just attained supreme enlightenment” at Bodh Gaya.

 

Therefore, full ordination of women is part of the earliest tradition. It is also the declared wish of the Lord Buddha

 

Obstacles to Gender Equality in the Theravada Sangha

 

There are two main obstacles to the acceptance of the Bhikkhuni Ordination in Theravada Buddhism: 1) Ignorance about who makes the decisions that govern the Sangha, and 2) Ignorance of the Vinaya, the rules established by the Lord Buddha that restrict what decisions may be made.

 

1. Many monks in Thailand argue that a ruling from the Sangharaja of Thailand in 1928 bans the ordination of female monks:

 

Announcement

 

“It is unallowable for any Bhikkhu to give the Going-Forth to Women.

 

Any woman who wishes to ordain as a Samaneri, in accordance with the Buddha’s allowances, has to be ordained by a fully ordained Bhikkhuni. The Buddha laid down the rule that only a Bhikkhuni over 12 vassas is eligible to be a Preceptor (pavattini).

 

The Buddha did not allow for a Bhikkhu to be the preceptor in this ceremony. Unfortunately, the Bhikkhuni lineage has since faded and died out. Since there is no more fully-fledged Bhikkhunis to pass on the lineage, there is henceforth no Samaneris who have obtained a proper ordination from a fully-fledged Bhikkhuni.

 

Therefore both the Bhikkhuni and Samaneri lineage has died out. So any Bhikkhu who gives the going forth to a woman to become a Samaneri, it can be said that the Bhikkhu is not acting in accordance with the regulations the Buddha laid down. In essence, he is following his own guidelines and diverging from the guidelines that the Buddha laid down. This is something that will jeopardize the Buddhist Religion and is not a good example for other Bhikkhus.

 

Therefore, all monks and novices in both Nikayas are forbidden to ordain any woman as a Bhikkhuni, Sikkhamana, or Samaneri from this day forth.”

 

Phra Bancha Somdet Phra Sangharacha Jiao Gromluang Jinawarn Siriwad (18 June 2471)

 

(An official announcement from the Sangha Committee Meeting minutes, Book 16 pp 157)

 

As well as noting the antiquity of this ruling, it should also be pointed out that the Sangharaja of Thailand, together with the Thai Council of Elders (Mahatherasamakom), are only permitted by their legally binding constitution to rule on matters directly concerning the monks and novices of the main two Thai Buddhist sects, Mahanikaya and Dhammayuttanikaya. They are legally not empowered to rule on the affairs of other monastic groups, such as Chinese Mahayana monks in Thailand, nor on nuns. For those well meaning monks waiting for the Thai Council of Elders to decide on the legitimacy of Theravada Bhikkhunis, they will need to wait forever. The Thai Council of Elders is not legally entitled to rule on matters beyond its remit.

 

As the Late Somdet Phra Pootajarn, the then acting leader of the Thai Council of Elders, told me in 2009 regarding the question of Bhikkhuni ordination “Thai law does not extend beyond Thailand”.In essence, a Sangha in Thailand cannot rule on the proceedings of a Sangha in Sri Lanka, nor in Australia.

 

Indeed, the Buddha established that all Sanghakamma (monastic acts), such as the ordination of Bhikkhunis, are to be decided on by the local monastic community, defined as those monks or nuns within the same monastic boundary. Decisions or opinions of other monastic communities are not binding. Governance of the Sangha is devolved to each monastic community.

 

This is the ruling of the Lord Buddha.

 

2. However, each monastic community is bound to act within the rules called the Vinaya. So are these rules an obstacle to Bhikkhuni Ordination?

 

The Thai Sangharaja’s 1928 ruling judged that a bhikkhu Sangha cannot give ordination to a bhikkhuni, because one needs other bhikkhunis to ordain a bhikkhuni. This is a moot point. In a recent publication “The Revival of the Bhikkhuni Order and the Decline of the Sasana” by the renowned scholar monk Bhikkhu Analayo (Journal of Buddhist Ethics, Vol. 20 2013, available on-line at Note_1, the author argues that such an ordination is valid. In short, he argues that at first the Lord Buddha gave the bhikkhus authority to ordain bhikkhunis.

 

Later, the Buddha gave authority for bhikkhunis to be ordained by a dual ordination ceremony; first in a Sangha of bhikkhunis and then in a Sangha of bhikkhus. However, in contrast with the history of the bhikkhu ordination, where one finds that whenever a new ordination is allowed by the Lord Buddha then the previous method is immediately abolished, the original ordination of bhikkhunis by bhikkhus was not abolished by the Lord Buddha. It is a general principle of Theravada Buddhism “Not to abolish what has been authorized by the Buddha” (one of the seven causes for the longevity of the Buddhist religion – Anguttara Sevens, 23). This, then, is a strong argument for the legitimacy of ordination of bhikkhunis by bhikkhus alone.

 

It is generally regarded that the first bhikkhuni ordination of modern times was that which occurred in 1998 in Bodh Gaya. This was a dual ordination performed first by Chinese bhikkhunis following the “Dharmagupta” Vinaya and then by an international Theravada Sangha of bhikkhus. Was this legitimate?

 

There are four, and only four,ways that an ordination may be judged illegitimate:

 

Simavipatti: when there is a monk or nun within the monastic boundary who should be present but is absent.

 

Parisavipatti: when there is not an adequate quorum.

 

Vatthuvipatti: (for ordinations) when the candidate is disqualified from ordination such as being underage.

 

Kammavacavipatti: when the procedure is chanted incorrectly, e.g. an ordination ceremony being chanted without a motion and three announcements.

 

In regard to the Bodh Gaya ordination, there is no doubt that:

 

1. All the monks and nuns within the monastic boundary were present,

 

2. The candidates were well qualified and

 

3. The procedure was chanted correctly.

 

But was there a quorum? May Mahayana bhikkhunis qualify as a quorum?

 

There are no reasonable grounds to suspect that the Chinese Mahayana nuns who performed the Bodh Gaya ordination are not legitimate bhikkhunis. The records show that their lineage came from Sri Lanka. Their own ordination procedure does not fail for any of the four reasons given above. They perform the ceremony with all present within a boundary (which they call a “platform”). There is always a quorum. They ensure that the candidate is qualified. And the ceremony is enacted by the same motion and three announcements as in Theravada, albeit chanted in Chinese. They are bhikkhunis according to the Vinaya and so can ordain other bhikkhunis.

 

But what about a quorum of one sect (Mahayana) ordaining nuns of another sect (Theravada)?

 

Sects in Buddhism

 

The different sects of Theravada are called “nanasamvasa” in the Vinaya. They are separate communities each performing their own acts of governance (Sanghakamma), even within the same monastic boundary. The Vinaya states that there are only two origins of separate communities (nanasamvasabhumi – Vinaya Mahavagga, chapter 10, verse 1.10):

 

1. A monk decides for himself to belong to a community separate from others, or

 

2. The Sangha forces a monk out of their community by enacting the severe penalty of Ukkhepaniyakamma by a motion and three announcements.

 

The second cause for a separate community is not used these days. This leaves only the first, that of personal choice. Put simply, according to Vinaya, a monk may choose to perform Sanghakamma with any group of monks he feels comfortable with. There is no legal impediment preventing a Theravada bhikkhu from performing a Sanghakamma with a Mahayana bhikksu.

 

Indeed, it may be accurately said that there are no Theravada or Mahayana bhikkhus, there are just bhikkhus, according to the Vinaya, who happen to follow Theravada customs or Mahayana practices. Thus, a monk ordained in a Theravada ceremony may join a Mahayana monastery without needing to be re-ordained.

 

Thus, according to the Vinaya, Mahayana bhikkhunis may perform the first part of the ordination ceremony for a new bhikkhuni, and then she may take the second part of the dual ordination in a gathering of Theravada bhikkhus. This is what happened in Bodh Gaya. There is no reasonable argument based on the Vinaya to invalidate this. And what sect to those bhikkhunis ordained at Bodh Gaya belong to? They choose!

 

The Perth Bhikkhuni Ordination in 2009

 

Once there were Theravada bhikkhunis, it was relatively easy to arrange for the ordination of four women as bhikkhunis in Perth in October 2009. Even though it caused some trouble at the time, the bhikkhunis that were ordained are now recognized by all as bhikkhunis according to the Vinaya. As the old saying goes: “One cannot make an omelette without cracking eggs”.

 

The Bhikkhuni Sangha is growing. In Perth, the Dhammasara Nuns Monastery currently has 11 members of the Sangha with a waiting list of women from around the world wanting to ordain. Recently, a Thai TV channel visited Dhammasara and interviewed the bhikkhunis. In Thailand there are around 100 bhikkhunis (Murray Hunter, ANU, 2/1/2014) and in Sri Lanka around 800 bhikkhunis (The Sunday Leader, Sri Lanka, 3 March 2013). They may not be respected by all monks but they are becoming ever more respected by the lay Buddhist community, especially in Western countries. The Perth bhikkhunis are giving talks and teaching meditation. They are taking their place in the fourfold assembly of Buddhism as the Lord Buddha wanted. They are getting ample support.

 

The Need for the Current Leadership of Theravada to Embrace Bhikkhuni Ordination

 

It may be of interest to Thai monks to know that the Preceptor (pavattini) at the Perth Bhikkhuni ordination, Ayya Tathhaaloka, visited Ajahn Maha Boowa at Wat Bahn That in Udon shortly before the Perth Bhikkhuni ordination. Ajahn Maha Boowa invited her to stay in the female quarters overnight, and gave her ordination recognition by inviting her up onto the monks’ platform and then addressing her as a bhikkhuni, in front of the Sangha together with the assembled laity.

 

Many influential leaders in Thailand respect Ajahn Maha Boowa to such an extent that this incident may encourage other senior monks to accept the existence of Theravada bhikkhunis in Thailand. Such acceptance by Buddhist monk leaders will result in greater respect for the status of bhikkhunis among the lay Buddhist followers. Then those women will be empowered to lead in many other areas for the benefit and progress of their nation.

 

The Relevance of Bhikkhuni Ordination for the Third Millennium Development Goal

 

In a recently published paper by Emma Tomalin and Caroline Starkey (Sakyadhita newsletter, Winter 2012), the authors explored the role that Buddhism in Thailand and Cambodia plays in maintaining gender disparity in education and, “ultimately ask what is the relationship between the reassertion of women’s traditional ordination rights and female empowerment through education?” They noted that “Several scholars, both Thai and Western, have implicated Buddhism as one explanatory factor for the historical inequality between genders, particularly in the poorest areas.”

 

Also that “Many advocates of the bhikkhuni ordination consider that that there is a direct relationship between the low status of women in many Buddhist traditions and the inferior status of women within Buddhist societies.

 

Thus, by restoring equity to women in the Theravada Sangha through the reinstating of the bhikkhuni ordination, we will be addressing the inferior status of women in many Theravada countries, promoting gender equity in education and, thereby, making a strong statement in support of the Third UN Millennium Development Goal.

 

By fixing our own house first, we have the considerable opportunity and moral authority through our books and sermons to inspire and encourage our Buddhist followers to also work towards gender equality in spheres other than religion. That will lead to a world with less violence, better health and more prosperity.

 

Ajahn Brahm, Perth, January 2014


__________________

Ghi Chú 1 / Note 1:
http://blogs.dickinson.edu/buddhistethics/files/2013/09/Analayo-Legality-final.pdf 

__________________




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Tám 2019(Xem: 742)
08 Tháng Tám 2019(Xem: 765)
07 Tháng Tám 2019(Xem: 1014)
27 Tháng Bảy 2019(Xem: 805)
23 Tháng Bảy 2019(Xem: 1300)
21 Tháng Bảy 2019(Xem: 2750)
07 Tháng Bảy 2019(Xem: 959)
05 Tháng Bảy 2019(Xem: 806)
02 Tháng Bảy 2019(Xem: 784)
02 Tháng Bảy 2019(Xem: 940)
01 Tháng Bảy 2019(Xem: 828)
30 Tháng Sáu 2019(Xem: 754)
29 Tháng Sáu 2019(Xem: 758)
28 Tháng Sáu 2019(Xem: 799)
27 Tháng Sáu 2019(Xem: 781)
26 Tháng Sáu 2019(Xem: 883)
25 Tháng Sáu 2019(Xem: 863)
24 Tháng Sáu 2019(Xem: 919)
22 Tháng Sáu 2019(Xem: 1233)
19 Tháng Sáu 2019(Xem: 795)
17 Tháng Giêng 20207:43 CH(Xem: 843963)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, Mua vui cũng được một vài trống canh.
07 Tháng Giêng 202012:43 CH(Xem: 325)
"Một lời dối trá nếu được lặp đi lặp lại đủ mức thì nó sẽ trở thành sự thật" là nguyên tắc tuyên truyền của Joseph Goebbels, một bộ trưởng tuyên truyền của Phát xít Đức. Các nhà tâm lý học gọi đây là 'ảo tưởng về sự thật' và dưới đây là cách phổ biến mà người ta thường thử nghiệm điều này: Những người tham gia được yêu cầu đánh giá
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 517)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
24 Tháng Mười Một 20199:00 SA(Xem: 2224)
Nhân vào ngày Lễ Tạ Ơn. Chúng ta cảm tạ vô vàn thành tâm. Những lời cầu nguyện quanh năm, Tạ ơn gia quyến muôn phần yêu thương, Tạ ơn bạn quý muôn phương. Dù là cố cựu hay dường mới quen, Tạ ơn tia sáng êm đềm. Vầng dương sưởi ấm áp thêm tháng ngày,
24 Tháng Chín 201911:37 CH(Xem: 617)
Lời nói đôi khi có những tác dụng không thể lường trước. Có những lời nói có thể đem lại an vui hạnh phúc đến cho mọi người. Có những lời nói có thể đem lại những sự ly tán, tan nát hạnh phúc của các người khác, đôi khi đổ vỡ hạnh phúc gia đình của chính người nói. Có những lời nói, làm cho người nghe, mỉm cười tươi tắn, vui vẻ khỏe khoắn.
22 Tháng Bảy 201910:19 CH(Xem: 786)
8h sáng một buổi sáng mùa hè nắng gắt tháng 6 tại Hà Nội, một chuyến xe hàng nhét chật những thuốc men và thiết bị y tế đậu lại trước văn phòng của một tổ chức thiện nguyện ở Hà Nội. Rồi từ đây, các thiết bị y tế và thuốc men sẽ đi cùng bác sỹ Tadashi Hattori đến nhiều miền quê rất nghèo của Việt Nam.
18 Tháng Bảy 201911:07 CH(Xem: 684)
Đài truyền hình CNN trong Tháng Sáu loan tin, năm 2017, tỉ lệ tự tử ở lứa tuổi giữa 15 và 19 là 11.8/100,000 trong năm. Với lứa tuổi từ 20 đến 24, tỉ lệ là 17/100,000. Trong khoảng bốn tháng từ Tháng Mười Hai, 2018, tới Tháng Ba, 2019, theo ghi nhận của cơ quan cảnh sát miền Nam California, có 17 trường hợp thanh thiếu niên đã chết
17 Tháng Bảy 20198:41 CH(Xem: 1134)
Kyle Huỳnh, 15 tuổi, học lớp 10 tại trung học Bolsa Grande, treo cổ tự tử tại nhà ngày 29 Tháng Mười Một gây xúc động mạnh nơi bạn học, đau buồn nơi gia đình, hoang mang nơi cộng đồng; và trên hết, để lại quá nhiều câu hỏi cho bất cứ bậc phụ huynh nào có con đang bước vào tuổi trưởng thành. Nguyên nhân cái chết thương tâm của Kyle
30 Tháng Sáu 20194:12 CH(Xem: 1398)
Rừng Thu (Autumn Forest) - 50 bài thơ chuyển ngữ Anh Việt. Xuất bản June 2019 - Tác phẩm mới của nhà thơ: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
11 Tháng Sáu 20199:53 CH(Xem: 738)
Trời mang sức mạnh núi này, Mang hùng vĩ của thân cây trên đồi, Hè mang hơi ấm mặt trời, Và bình lặng của biển khơi khắp miền, Mang hồn quảng đại thiên nhiên, Vòng tay an lạc của đêm lặng lờ, Mang thông thái của tuổi già, Tiềm năng chim phượng bay xa vô ngần,
04 Tháng Sáu 201911:04 SA(Xem: 1206)
1. Quy tắc đầu tiên: "Bất cứ người nào bạn gặp cũng đúng là người mà bạn cần gặp cả." Điều này có nghĩa rằng không ai xuất hiện trong cuộc đời chúng ta một cách tình cờ cả. Mỗi người xung quanh chúng ta, bất cứ ai chúng ta giao lưu, đều đại diện cho một điều gì đó, có thể là để dạy chúng ta điều gì đó hoặc giúp chúng ta cải thiện tình hình hiện tại.
03 Tháng Sáu 201911:47 SA(Xem: 1988)
Trong một lần bình luận của mình, Glenn Beck đã từng nói rằng: Một người bình thường muốn chứng minh bản thân bình thường là điều hết sức khó khăn. Có lẽ chỉ có người không muốn chứng minh điều gì hết, mới có thể được gọi là một người bình thường. Về sau, rất nhiều người đã để lại lời bình luận của riêng họ
02 Tháng Sáu 20199:08 CH(Xem: 1012)
Phóng viên nổi tiếng Sydney Harries và một người bạn dừng chân mua báo ở một quầy bán báo, người bạn mua xong rất lịch sự nói lời "Cám ơn!" nhưng người chủ quầy báo thì ngược lại, mặt lạnh như tiền, một tiếng cũng không thèm mở miệng. Hai người rời quầy báo tiếp tục đi về phía trước, Sydney Harries hỏi:
23 Tháng Năm 20199:43 SA(Xem: 1322)
Tiền kiếp – có hay không? Miêu tả 2500 trường hợp trẻ em thuộc dữ liệu của trường Đại học Virginia (Hoa Kỳ) được các nhà nghiên cứu tìm hiểu cẩn thận kể từ khi bác sĩ Ian Stevenson nghiên cứu trường hợp đầu tiên cách đây 40 năm. Những đứa trẻ này thường bắt đầu kể về kiếp trước ở độ tuổi hai hoặc ba và có thể nói về gia đình lúc trước
21 Tháng Năm 20196:01 CH(Xem: 1695)
Đây là cuốn sách thứ ba, trong loạt sách kể về những câu chuyện của các bệnh nhân của tôi. Tuy nhiên câu chuyện trong sách này có tính hấp dẫn nhất từ trước đến nay mà tôi đã được chứng kiến. Họ là một đôi bạn tri kỷ, mãi mãi gắn chặt vào nhau bằng tình yêu qua hết kiếp này sang kiếp khác. Làm thế nào mà chúng ta có thể tìm gặp
20 Tháng Năm 20199:06 CH(Xem: 1241)
Thời đại ngày nay là thời đại khoa học, nhưng có thể nói chính xác hơn là thời đại khoa học vật chất, còn khoa học tinh thần thì có lẽ mới chỉ là những bước đi chập chững. Từ thượng cổ người ta đã suy nghĩtìm hiểu xem có tiền kiếpluân hồi không, nhưng cho tới nay hầu như chưa có câu trả lời "khoa học". Những ý niệm, khái niệm,
11 Tháng Năm 201910:49 CH(Xem: 1188)
Một chàng trai đến tìm nhà sư, anh nói: - Thưa thầy con muốn buông vài thứ nhưng con do dự quá, con mệt mỏi vô cùng. Nhà sư đưa anh ta 1 cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng vừa mới pha xong. Chàng trai nóng quá nhưng anh vẫn không buông tay mà chuyển từ tay này sang tay kia cho đến khi nguội đi
19 Tháng Tư 201912:04 CH(Xem: 1198)
Nói dối là một phần được chấp nhận trong cuộc sống, từ việc chúng ta tự động trả lời 'Tốt' khi có ai hỏi 'Hôm nay cậu thế nào?' cho đến lời khen khi một người bạn hỏi chúng ta có thích kiểu đầu mới trông phát gớm của cô ấy không. Ấy vậy mà bất chấp sự phổ biến của nói dối trong cuộc sống chúng ta, đa số chúng ta không thật sự giỏi
18 Tháng Tư 20199:52 CH(Xem: 1039)
Wabi-sabi tạo nơi trú ẩn chống nỗi ám ảnh của thế giới hiện đại về sự hoàn hảo, và chấp nhận sự không hoàn hảo một cách có ý nghĩa hơn và đẹp hơn, theo cách riêng của họ. Rút tay một cách miễn cưỡng ra khỏi chiếc bát đang quay chầm chậm, tôi nhìn thành bát không được đồng đều từ từ dừng lại, mong có thể điều chỉnh nó thẳng lên chút nữa.
17 Tháng Tư 20199:51 CH(Xem: 1035)
Mọi đứa trẻ ở Nhật Bản được dạy dỗ 'gaman', tức là kiên trì nhẫn nại ở các thời điểm khó khăn. Đó có phải một cách để tạo ra một xã hội trật tự, hay 'gaman' có một mặt tối của nó? Ngày làm việc ở Tokyo thường bắt đầu bằng một chuyến đi qua hệ thống tàu điện ngầm nhộn nhịp nhất thế giới. Khoảng 20 triệu người đi tàu ở thủ đô Nhật Bản mỗi ngày.
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 517)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2134)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 3514)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
26 Tháng Hai 20208:14 CH(Xem: 47)
Nowadays, when Buddha-dhamma is being disseminated, there should be only one basis of teaching relating to the Middle Way or the Eightfold Path: the practice of morality, concentration, and acquisition of profound knowledge, and the Four Noble Truths.
26 Tháng Hai 20203:56 CH(Xem: 89)
Này các thầy Tỳ Khưu, đây là con đường duy nhất để thanh lọc (tâm) chúng sanh, chấm dứt lo âu phiền muộn, uất ức than khóc diệt khổ thân và khổ tâm, đạt Thánh ĐạoGiác Ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ. Bốn (cách quán sát đó) là gì? Này các thầy Tỳ Khưu,
21 Tháng Hai 20205:07 CH(Xem: 165)
Trong dòng lịch sử văn minh của nhân loại cách đây hơn 25 thế kỷ, những lời dạy về một nghệ thuật sống hoàn hảo, an bìnhhạnh phúc ngay trong hiện tại, một pháp môn tu tập có khả năng đưa đến giải thoát hoàn toàn mọi khổ đau được Đức Phật, bậc Thầy
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 251)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 277)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.
01 Tháng Hai 202010:51 SA(Xem: 415)
“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.
31 Tháng Giêng 20207:00 SA(Xem: 466)
“Kinh Chú Tâm vào Hơi Thở” là một trong hai bài kinh căn bảnĐức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là sự chú tâm thật mạnh dựa vào hơi thở. Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Anapanasati Sutta (Trung Bộ Kinh, MN 118).
24 Tháng Giêng 20208:00 SA(Xem: 5695)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻhạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
26 Tháng Mười 20199:33 CH(Xem: 739)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.