Bài Pháp Đầu Tiên Của Đức Phật

29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 2950)
Bài Pháp Đầu Tiên Của Đức Phật
 Buddha-Face2A
 (Hình: Thus Have I Heard)


Bài Pháp Đầu Tiên Của Đức Phật
HT. Thích Thanh Từ (1986)
Nguồn: budsas.org
 
____________________

 

 

Mỗi khi xuân về, theo thông lệ của tu viện Chân Không, đến ngày 30 Tết, quý tăng niphật tử tụ hội về đây để nghe những lời chỉ dậy quý báu của thầy viện chủ trong đêm Giao Thừa. Thiền đường của tu viện vẫn giữ bộ mặt xưa, lặng lẽ tôn nghiêm giữa những hàng cây cổ thụ, những tảng đá biến thành những băng ngồi, nay vẫn đang phơi mình dưới nắng sương. Bên trong thiền đường cũng vẫn là cái giản dị thường nhật của tu viện. Tượng Đức Phật Thích Ca bằng xi măng mỉm cười nhìn xuống. Hai bên là hoa quả và lọ hương đang nghi ngút trước đài.

 

Xin mời quý vị nghe bài giảng thứ nhất của thầy Viện Chủ trong đêm Giao Thừa. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

____________________

 

 

Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật đã vạch sẵn, và cũng để cho mọi người biết được nguồn gốc của sự tu.

 

Khi bắt đầu vào bài đó, tôi nói những lý do để cho quý vị thấy cái điều cần yếu của sự tu, bởi vì tất cả chúng tacon người, thì con người nào cũng mang nặng những tánh yêu thương, quý trọng, gìn giữ, lo âu, sợ hãi, khổ đau v.v. là tại sao? Đều là vì cái bản thân này mà ra. Thì như vậy chủ yếu của sự tu hànhchúng ta phải biết được cái bản thân của người chúng ta như thế nào.

 

Lâu nay mỗi người chúng ta cứ quen nhìn ra ngoài, cứ thấy cái hay, những cái dở, cái tốt, cái xấu. Nói chung lại là chúng ta cứ chạy theo ngũ dục, chạy theo sáu trần mà quên ngay rằng con người mình là thế nào. Bởi không biết mình như thế nào, cho nên cả đời cứ quay cuồng trong cái tạo nghiệp, thọ khổ mà tự mình không biết. Vì vậy cho nên Đức Phật đầu tiên khi nói pháp cho năm anh em ông Kiều Trần Như thì ngài đi thẳng vào vấn đề. Vấn đề đó là gì? Ngài không nói tất cả cái gì khác, mà chỉ thẳng nơi con ngườị Phải biết con người mình như thế nào. Con người mình đau khổ hay là an vui? Nếu mình thương nó, mình trọng nó, mình gìn giữ nó thì hỏi nó là thật an vui mà mình quý trọng, mình thương yêu, mình gìn giữ, hay là nó là đau khổ mà mình quý trọng, mình thương yêu. Nếu không hiểu nó, mà mình đi hiểu tất cả cái bên ngoài thì đó là ngọn nhánh chớ không phải cội gốc.

 

Nếu chúng ta đem hết tâm tư, đem hết khả năng của mình tìm kiếm, hiểu những cái gì ngoài chúng ta, thì đó chưa phải là căn bản. Cũng như cái nhà, chúng ta muốn hiểu cái nhà đó, trước tiên phải hiểu ông chủ nhà. Ông chủ nhà biết rồi thì cái nhà chúng ta phanh phui tìm hiểu không khó. Thì như vậy, con người mới là chủ, còn tất cả sự vật chung quanh chỉ là bạn mà thôi. Theo danh từ chuyên môn trong nhà Phật gọi là Chánh BáoY Báo. Chánh Báocon người, mà Y Báohoàn cảnh hay là ngoại cảnh. Chánh Báo tốt thì Y Báo theo đó mà tốt. Chánh Báo xấu thì Y Báo theo đó mà xấu. Vì vậy cho nên Chánh Báo là cái chủ mà Y Báo là cái phụ. Thế mà chúng ta quen tìm hiểu cái Y Báo, mà không thấy rõ được cái Chánh Báo. Đó là một khuyết điểm lớn lao.

 

Vì vậy cho nên khi Phật muốn dậy tu, đầu tiên Đức Phật bắt chúng ta phải xác định thân này là khổ hay vui? Thấy rõ điều đó, thì mọi vấn đề chúng ta mới thấy đúng. Bởi vì mọi phán đoán đều qua chúng ta, rồi mới nhìn sự vật. Nếu mình không biết mình, mà nói biết sự vật đúng lẽ thật thì chắc không bao giờ có. Cho nên phải biết mình đúng như sự thật rồi mới biết ngoại cảnh, biết nơi người đúng như sự thật. Còn nơi mình mà mình biết một cách sai lầm, thì với người, mình cũng biết một cách sai lầm! Rồi với ngoại cảnh mình cũng biết một cách sai lầm! Chủ yếu của đạo Phật là phải biết mình. Cho nên cái bài thuyết giảng đầu tiên của Đức Phật mang đề tài - Pháp Tứ Đế. mà trong Pháp Tứ Đế đó có cái đế số một Phật nói về là Khổ Đế. Nghe nói Khổ Đế thì quý vị tưởng nói cái khổ đó là cái gì xa lạ bên ngoài, nhưng sự thật cái Khổ Đế là chỉ xác nhận nơi con người. Nơi con người này là khổ hay vui? Phải xác nhận lại con người mình là khổ hay vui. Nếu mình biết nó là khổ thì mình phải cố gắng mà tu để cho nó hết khổ. Còn mình biết nó là vui, thì tu làm chi cho thừa. Như vậy thì khi nhìn thẳng thân này, chúng ta biết nó là khổ hay là vui? Biết đúng như thật rồi thì sau đó mới nói tới chuyện tu hành. Còn nếu chưa biết nó đúng như thật thì đừng nói tu làm gì. Tại sao vậy? Bởi vì thân này là cái gốc, là cội nguồn mà nếu mình không biết nó thì nói gì khác cũng là chuyện bên ngoài thôi. Cho nên Phật bắt chúng ta phải xác nhận thân này là khổ hay là vui. Đó là cái gốc của bài thuyết pháp đầu tiên.

 

Nhưng mà nói tới cái gốc đó, thì mọi người chúng ta nghe Phật nói thân này là khổ. Mà mình xác nhận có khổ thật không? Đây là điều tôi phải nhắc lại lần nữa cho quý vị thấy. Ai nấy nghe Đức Phật nói thân này là khổ, thì họ đều cho rằng quan niệm đạo Phậtbi quan. Nghĩa là nhìn tới thân là thấy khổ. Khổ rồi đâm ra chán đời. Nhưng mà sự thật không phải vậy. Đây là lẽ Đức Phật bắt chúng ta phải nhì thấy cho đúng. Cho nên chữ "Khổ" không chưa đủ mà phải thêm chữ "Khổ Đế", cái khổ đó là đúng như thật. Chớ không phải chuyện tưởng tượng, không phải chuyện phi lý. Đức Phật nêu lên hoặc là Tứ Khổ hoặc là Bát Khổ.

 

Tứ khổ là sinh, già, bệnh, chết. Nói sinh thì ta cứ nghĩ sinh là khi mình mới lọt lòng mẹ rồi thì khóc oa oa. Đó là khổ. Nhưng theo tôi thì mình phải nói sinh ra là trong một cuộc sống. Sinh hoạt hiện tại của mình, là khổ hay vui? Chứ lúc mới lọt lòng mẹ có khóc đi nữa, cũng không có cảm giác đau khổ như thế nào. Bây giờ ngay trong cuộc sống hàng ngày mà mình đang sống, quý vị thấy khổ hay vui? Nếu chúng ta xét kỹ từ thuở bé cho đến hiện giờ, người già thì sáu bẩy mươi, trẻ hơn thì bốn năm mươi, người trẻ nữa thì hai ba mươi, trong thời gian quý vị sống đó, những điều mình muốn được như ý nhiều hay là bất như ý nhiều? Muốn mười điều, nếu đạt được cao lắm là ba điều, bốn điều. Còn có khi mười điều mà chưa được một điều nữa. Mà cái gì như ý gọi là vui, còn bất như ý thì khổ. Như vậy tóm lại trong mười điều muốn được có hai ba điều vừa ý, còn đến bẩy tám điều không vừa ý, thì như vậy cái nào nhiều? Khổ nhiều hay vui nhiều? Dĩ nhiên chúng ta thấy đó là khổ nhiều, chứ không phải vui nhiều. Vì trong cuộc sống xẩy ra những điều bất như ý tức là đau khổ. Như vậy sinh là khổ hay là vui? Trong cuộc sống có bất như ý tức là phải khổ. Đó là lẽ thật không chối cãi được.

 

Rồi già có khổ không? Thì điều đó không ai chối cãi được. Khi trẻ thì đi chơi tự do, tự tại, muốn làm gì thì làm được. Còn khi già thì bị hạn chế đủ hết. Đi thì không được vững vàng, nói năng thì có khi lập cà lập cập, ăn thì răng rụng hoặc lung lay. Rồi cho tới mọi việc không được sung sướng như lúc xuân thời. Do đó già là khổ. Rồi tới cái thứ ba, bệnh có khổ không? Bệnh thì không ai thấy vui được hết. Bệnh là khổ. Đến cái thứ tư, chết có vui không? Chết cũng là khổ luôn. Thì như vậy, sinh , già, bệnh, chết là bốn cái không ai chối được "không phải đau khổ", mà đều thẩy là đau khổ.

 

Như vậy đau khổ đó từ đâu mà ra? Bởi vì sinh, già, bệnh, chết đổi thay luôn luôn, không ở nguyên một vị trí cho nên mình bị chuyển biến. Chuyển biến cho nên mình buồn khổ, rồi mình nhọc nhằn đau khổ. Cái đau khổ đó là căn cứ trên cái thân vô thường. Bởi thân vô thường cho nên có sinh, có già, có bệnh, có chết. Thì trong bốn cái khổ đó, quý vị kiếm lại coi trên nhân gian này có người nào thoát khỏi bốn cái khổ đó không? Chắc không ai có. Người nào cũng phải chịu chung như vậy.

 

Vì vậy cho nên Phật nói "Khổ Đế" , cái Khổ Đế là lẽ thật. Còn nếu đi xa chút nữa, thì Phật nói tám cái khổ: Ái Biệt Ly, Cầu Bất Đắc, Oán Tắng Hội, Ngũ Ấm Xí Thạnh. Ái Biệt Ly tức là yêu thươngxa lìa, vui hay khổ? Người thân mình xa lìa thì mình đau khổ. Rồi những người mình không ưa mà cứ giáp mặt hoài thì sao? Thì cũng không vui, cũng là khổ. Rồi cái mình thích, mong cầu mà không được như ý, đó cũng là khổ. Thì như vậy ba cái khổ đó là ba cái khổ về liên hệ bên ngoài. Còn bốn cái khổ trước là ngay nơi bản thân mình bị sinh, già, bệnh, chết. Nó đổi thay nên đau khổ. Rồi sự liên hệ mình và người, và những sự vật chung quanh. Những cái mình thích mà không được, đó là Cầu Bất Đắc. Rồi cái mình yêu thương mà bị xa lìa, đó là Ái Biệt Ly. Những cái mình không ưa mà cứ phải gặp, đó là Oán Tắng Hội. Rồi tới cái thứ tám là Ngũ Ấm Xí Thạnh, tức là mang cái thân ngũ ấm này, nó là cái gốc của sự đau khổ, cái đó là cái chung.

 

Nói tám khổ nhưng chỉ có bẩy cái. Bốn cái thuộc về thân tứ đại, còn ba cái thuộc về đối với hoàn cảnh, đối với mọi người chung quanh. Cái thứ tám chung cả thể xác lẫn tình thần tức là ngũ ấm, là phần vật chấttinh thần của con người chung hợp lại là một vòng biến chuyển. Cho nên nói nó là đau khổ thì như vậy, nói chung lại mang cái thân vô thường là mang cái đau khổ. Nếu biết nó là vô thường, biết nó là đau khổ, thì mình có say mê để vun bồi, mà tô điểm, mà tạo những cái gì cho thật hơn người để nó hưởng hay không? Cũng như bây giờ quý vị biết rõ một món đồ giả, xài hai ba năm là bể , là hư, thì quý vị có nghĩ rằng để món đồ đó mình ráng tìm cách giữ được trăn năm, có nghĩ như vậy không? Hay là biết nó đúng hai năm, ba năm là phải hư, thì bây giờ trong khi mình cần thì nên tận dụng nó cho hữu ích. Chứ còn giữ nó, nó cũng hư!

 

Như vậy mình biết rõ thân này là tạm bợ, là vô thường, là đau khổ, thì nếu mình không sử dụng nó bằng cách lợi mình, lợi người thì rất uổng một cuộc đời. Vì vậy cho nên, thấy được thân đau khổ, tạm bợ rồi, chúng ta mới nẩy ra những tâm hồn vì người, lợi người, hay là làm lợi ích cho chúng sinh. Còn nếu thấy mình là lâu dài, là tốt đẹp, là quý báu thì sẽ sinh ra kiêu hãnh, ngã mạn. Thấy mình lâu dài, lo tích lũy dành dụm. Thấy mình hơn người thì tức là mình khinh kẻ khác. Do đó vừa thấy nó là hơn , là lâu dài, là qúy báu thì bao nhiêu cái tật xấu nó theo đó. Chúng taPhật Tử đều thấy thân này vô thường, đau khổ.

 

Đành rằng lý là như vậy, nhưng mà nhận để mà sống thì không dám nhận. Đó là những điều mà người ta không gan, biết lẽ thật là như vậy mà không dám nhìn đúng lẽ thật đó, rồi cứ tưởng tượng mình còn sống dai. Vì vậy cho nên sự tu của mình vẫn còn yếu, việc làm lợi ích cho chúng sinh cũng vẫn nhè nhẹ chứ không dám nhiều. Đó là cái khuyết điểm của người Phật Tử chúng ta, cho nên đầu tiên Đức Phật bảo mình phải nhận cho xác thật thân này là đau khổ. Đã là đau khổ thì mình phải làm sao cho mình hết khổ, cho người hết khổ. Chứ không phải nói đau khổ rồi bó tay, bó gối rồi than khóc.

 

Thấy khổ rồi, phải làm sao cho mình hết khổ, cho người hết khổ. Đó là mục tiêu của Phật dậy. Vì vậy cho nên tới cái Đế thứ hai là Tập Đế. Vì mình biết thân này là đau khổ, mà muốn hết thì phải làm sao? Thử hỏi tại sao mình mang cái thân đau khổ này? Tức là phải tìm nguyên nhân của nó. Đức Phật chỉ cho mình thấy nguyên nhân của nó. Nói đơn giản là do tham, sân, si, tức là ba cái thứ độc. Còn nếu nói nhiều hơn nữa, thì nói rằng sáu thứ căn bản phiền não tham, sân, si, mạng, nghi, ác kiến. Đó là cái nhân tích tụ để rồi thành cái quả của cái thân đau khổ này. Từ thấy cái quả đau khổ, mình phăng lần tìm coi do nguyên nhân nào mà mang cái thân đau khổ này. Mình truy tìm thấu đáo thì mới biết do tham, sân, si, mạng, nghi, ác kiến.

 

Nói về tham, sân, si, sở dĩ chúng ta khổ trong cuộc sống là vì có những điều bất như ý. Trong cuộc sống có những cái bất như ý, mà cái gì làm mình bấy như ý? Tại mình muốn cái đó mà không được. Mà muốn là thuộc về tham. Bởi có tham mới có bất như ý! Bởi vì cái tham của mình là tham vừa khả năng mình, hay là tham quá khả năng mình? Khả năng mình có năm mà mình tham tới cả ngàn. Tham quá sức như vậy, cho nên cái bất như ý quá nhiều. Thì như vậy mới biết rõ tham là gốc của đau khổ. Quý vị thấy có người nào, tham một cái này được rồi không tham nũa không? Hễ muốn cái này rồi thì muốn cái thứ hai. Thứ hai được rồi muốn cái thứ ba. Lúc nào tham cũng kéo tới. Nó chạy dài dài không có nơi đứng, không có chỗ thắng (hãm). Bởi không thắng được cho nên con người không bao giờ được như ý! Nghĩa là ở địa vị nào cũng bất như ý hết. Bởi vì lòng tham vô chừng, mà khả năng mình hữu hạn. Khả năng hữu hạn mà mang lòng tham vô chừng vô hạn thì làm sao mà không đau khổ. Vì vậy cho nên có lòng tham là có đau khổ. Rồi tôi hỏi quý vị, khi quý vị già, cảm thấy già quý vị khổ. Tại sao già lại là khổ? Tại mình muốn trẻ không muốn già. Mình muốn trẻ tức là mình tham trẻ, mà cái già nó đến thì tức nhiên là bất như ý rồi! Chớ mình đừng có tham trẻ, thì cái già nó tới, cứ cười với cái già thì có khổ gì đâu? Rồi hỏi tại sao chết là khổ? Tại mình muốn sống. Mình muốn sống mà cái chết nó đến thì mình thấy khổ.

 

Thì như vậy sinh khổ, già khổ, bịnh khổ, tử khổ gốc tại cái gì mà ra? Từ lòng tham, thì như vậy cái khổ đó từ lòng tham. Nếu hết lòng tham thì bốn cái khổ đó đâu còn. Do tham mà có khổ. Do sân thì có khổ. Do si có khổ cũng dễ hiểu, bởi vì si là không thấy đúng sự thật. Bởi vì không thấy đúng như thật cho nên mới tham bậy, tham bướng. Thấy đúng lẽ thật rồi thì khả năng mình bao nhiêu, thì thấy rõ bấy nhiêu. Thấy không sai lầm thì mình đâu có tham bậy, thì đâu có khổ. Tham rồi bất như ý mới khổ. Vì vậy cho nên tham, sân, si là gốc của đau khổ, là nguyên nhân của đau khổ. Rõ ràng như vậy. Biết rõ cái đau khổ không phải bỗng dưng có, mà gốc từ tham, sân, si hay là chung cả sáu cái căn bản phiền não. Như vậy thì muốn hết đau khổ phải làm sao? Phải tìm nguyên nhân bịnh, mà tìm được nguyên nhân bịnh rồi thì chừng đó trị cái nhân hay cái quả? Nếu nhân trị hết thì quả tự nhiên đâu còn. Diệt Đế tức là diệt cho hết nguyên nhân đã tạo thành cái quả đau khổ đó. Cái nguyên nhân đó diệt sạch rồi thì hết cái quả đau khổ. Mà hết cái quả đau khổ đó gọi là gì? Hết khổ gọi là vui.

 

Như vậy chủ yếu của đạo Phật là dậy cho chúng ta từ thấy được cái quả đau khổ rồi, phăng tới cái nguyên nhân. Biết được nguyên nhân rồi tiêu diệt nguyên nhân đó, thì cái quả đau khổ hết. Cũng như mình biết bịnh đó là do vi trùng vì nó quấy phá hoành hành, bi giờ biết rồi dùng thuốc trị vi trùng đó, vi trùng đó chết hết rồi thì bịnh đó được sạch hết, được lành. Trị hết nguyên nhân rồi thì cái quả đau khổ đâu còn. Chữ "Diệt" này là diệt sạch nguyên nhân đau khổ. Thì cũng giống hệt như ông thầy thuốc trị hết vi trùng, vì trùng mà làm cho bịnh phát ra đó, diệt hết thì bịnh tự nhiên lành. Đó là tình thần Diệt Đế.

 

Nhưng mà bây giờ biết được nguyên nhân thì phải có phương pháp để tiêu diệt nó. Cũng như mình biết được vi trùng rồi, bi giờ dùng thuốc gì đây? Thuốc gì có công hiệu nhất đối với đám vi trùng này, thì đó là phương pháp. Vì vậy cho nên tới cái thứ tư là Đạo Đế. Đạo Đế tức la cái phương thuốc diệt hết nguyên nhân đau khổ. Đạo Đế thì nhiều lắm, nói theo trong các kinh A Hàm có ba mươi bẩy (37) phẩm trợ đạo. Nhưng mà phần nhiều cái gốc thì nói Bát Chánh Đạo. Đó là tôi nói cho quý vị căn bản của Tứ Diệu Đế, chứ tôi không có giải thích hết những chi tiết về Tứ Đế. Như vậy thì chúng ta thấy rõ Đức Phật nói Khổ Đế là chỉ lẽ thật ngay nơi bản thân chúng ta, để mình nhận thức thấu đáo lễ thật đó. Rồi mình phăng lần tới nguyên nhân. Vì nguyên nhân nào có hiện tượng đau khổ này? Biết được nguyên nhân đó rồi, mình tìm cách tiêu diệt nguyên nhân đó cho sạch, nếu sạch rồi thì quả khổ không còn. Bây giờ muốn tiêu diệt nó, phải có phương pháp. Phương pháp đó là Đạo Đế. Như vậy bốn cái đế để nhắm thẳng vào con người của chúng ta, từ quả đến, rồi từ cái khổ đưa đến cái hết khổ. Chứ không có nghĩa khổ rồi cam chịu khổ, như người đời mang thân khổ mà không biết đau khổ. Bởi vì không biết khổ nên họ nói cần gì tiêu diệt khổ. Cho nên khi mang thân khổ, họ tưởng là vui, rồi tự hào hãnh diện, rồi đủ thứ bịnh theo đó. Họ mang thân khổ mà lại không hay, không biết. Chúng ta nghĩ là đáng giận hay đáng thương? Thí dụ như bi giờ có một người bịnh nặng, không sống bao lâu nữa, kéo dài lắm 6 tháng hay 1 năm. Nhưng mà người bịnh trầm trọng như vậy, mà họ cứ giận người này, cứ khinh người kia, họ hung dữ với kẻ nọ, tất cả cái tham lam tật xấu đó họ hiện đủ hết. Thì mình thấy như vậy là đáng thương hay đáng giận? Mình biết họ mang cái thân khổ đau, mỏng manh mà không tự biết. Họ lại dùng nó không đúng, cho nên đáng thương chứ không đáng ghét.

 

Cho nên chúng ta tu Phật mở màn bằng chữ "Khổ", nhưng kết thúc bằng chữ "Lạc". Biết khổ rồi, tiêu diệt nguyên nhân khổ, để được vui chứ đâu phải biết khổ để chịu khổ. Như vậy biết khổ rồi tiêu diệt nguyên nhân khổ để được vui, đó là pháp Phật. Còn thế gian thì mở màn bằng vui nhưng mà kết thúc bằng khổ. Thí dụ một người chưa biết uống rượu, mà gặp bạn bè kêu lại nài nỉ uống rượu thì lúc đó vui lắm, hỉ hả lắm. Nhưng mà uống rồi say, ngã bờ ngã bụi lúc đó lại khổ. Mở màn là vui, kết quả là khổ. Đó là cái lầm lẫn của con người. Cho nên đối với đạo Phật, ngài chỉ thẳng cái đau khổ là cái căn bản. Cho nên nói khổ để rồi tìm cách tiêu diệt nó, để cho được an vui.

 

Bây giờ tôi xin hỏi quý vị cái vui trong đạo Phật là cái vui làm sao? Thí dụ quý vị bị đói bụng, đói bụng làm cho mình khổ. Lúc đói bụng làm xót xa trong bao tử làm cho mình khổ. Nếu được vài chén cơm ăn no thì lại vui. Như vậy cái khổ của sự đói bụng lúc trước không còn, tức là hết khổ. Mà hết khổ người ta nói là được vui. Vui đó không phải cái vui như đi coi hát. Không phải cái vui như tiệc trà, tiệc rượu. Mà là cái vui an ổn, an nhiên, tự tại trong bản thân mình. Lúc nẫy đói quá đi không nổi, ngồi đứng không an. sau khi ăn được đôi ba chén cơm thì khỏe mạnh lại. Muốn đi thì được, muốn làm gì thì làm được. Đó gọi là vui.

 

Cũng như vậy, chúng ta còn mang tấm thân này mà trong đó chứa chấp tham, sân, si thì chúng ta còn đau khổ. Nếu tiêu diệt hết tham, sân, si thì còn thân này mà lúc đó còn đau khổ không? Hồi nẫy tôi nói cái thân này là đau khổ. Nhưng bi giờ đây ta biết nguyên nhân đau khổ chính là tham. sân, si. Khi dẹp hết tham, sân, si thì còn thân này, mà lúc đó có đau khổ không? Điều này phải xác nhận cho thật rõ. Nếu không thì nghe nói "Thân này là khổ thì còn thân này là còn khổ." Như vậy những vị A La Hán khi chứng được quả A La Hán; tham, sân, si không còn, thì lúc đó các ngài cũng hãy còn thân, mà có khổ như mình không? Khi các ngài già các ngài có rên rỉ không? Khi các ngài chết, có buồn thảm không? Thì như vậy để thấy rằng tuy còn thân mà hết cái nhân tham, sân, si rồi thì cũng hết đau khổ. Vậy cho nên các vị A La Hán khi gần tịch, các vị vui vẻ tịch, không có sợ sệt như mình.

 

Như vậy để thấy rõ ràng cái nhân đau khổ không còn, dù còn thân này mà cái quả đau khổ đã giảm, cũng đã bớt đi rồi. Hiểu như vậy quý vị mới thấy cái hiệu nghiệm của sự tu. Chứ để nhiều người không hiểu nói: "Như vậy Diệt Đế là diệt sạch cái nhân đau khổ, rồi chết mình mới được Niết Bàn, chừng đó mới hết khổ." Thì cái đó người ta nói chết rồi ai biết mình được Niết bàn? Ai biết mình hết đau khổ? Đó là chuyện hứa hẹn xa xôi quá, thiếu thực tế! Ngay trong cuộc sống này, như các vị chứng được A La Hán hay như Đức Phật, sau khi thành Phật rồi ngài mới được ba mươi mấy tuổi. Trong khoảng ba mươi mốt tuổi đó cho tới tám mươi tuổi thời gian bốn mươi chín năm đó ngài cũng già, cũng bịnh, cũng chết, mà ngài có khổ như mình không?

 

Như vậy mới thấy rằng diệt hết nguyên nhân đau khổ rồi tuy còn thân này mà vẫn không có khổ. Đó là bằng chứng cụ thể của sự tu. Ngay trong thân này khi mình đạt đến chỗ đó rồi cũng hết đau khổ như thường. Vì vậy cho nên các vị A La Hán, hay các vị Bồ Tát, các ngài cũng mang thân mà các ngài không khổ là chỗ đó. Vậy để quý vị thấy rõ rằng chúng ta tu là cốt diệt khổ, mà diệt khổ là để hết khổ, mà hết khổ là chúng ta an vui.

 

Rồi chúng ta muốn đem cái an vui cho mọi người. Đó là tự lợi, lợi tha. Mà đó cũng là lòng từ bi. Mình biết làm như vậy hết khổ mà ngườimà người khác đang còn chịu đau khổ, mình phải thương họ. Thì cái thương đó là lòng từ bi. Lúc nào mình có giác ngộ thì liền có từ bi. Còn nếu không giác ngộ thì lòng từ bi gượng gượng thôi. Không có từ bi thật. Tại sao vậy? Bởi mình không giác ngộ, còn mê lầm, thì còn đau khổ. Mà nếu có thương người ta, thì gượng mà thương thôi bởi vì mình có hết khổ đâu mà lo cho người ta hết khổ được. Thí dụ, nếu mà mình có của nhiều, tự mình không có đói, không có thiếu, gặp người khác đói mình muốn giúp để cho họ bớt thiếu thì dễ. Còn mình đang đói thiếu như họ mà nói tới thương anh quá, thương chị quá thì nói bằng miệng chứ thực tế mình không làm gì được cho họ. Cho nên có giác ngộ rồi mới có từ bi, thì cái từ bi đó là từ bi chân thật, do mình hưởng được sự an vui của mình rồi mình mới đem sự an vui đó lại cho mọi người.

 

Vì vậy cho nên người tu như chúng ta hiện tại chưa có làm lợi ích cho nhiều người. Nhưng mà ráng nỗ lực đi tu; nỗ lực dẹp hết tham, sân, si của mình. Khi nó sạch, nó an ổn rồi, khi đó mình muốn giúp lợi ích cho người thì rất là thuận lợi. Chứ còn mình chưa hết mà muốn cho người ta được lợi ích thì nhiều khi hơi trục trặc. Thí dụ như bình thường thì mình cũng tỉnh táo, cũng sáng suốt. Khi mình tỉnh táo sáng suốt thấy huynh đệ nào họ có những cái phiền não rối reng thì mình có thể khuyên bảo, giảng dậy nghe được lắm. Nhưng mà tới lúc mình gặp gia cảnh bối rối, mình cũng làm những cái không được sáng sủa, nói lời không được sáng suốt, làm cho người ta mất lòng tin. Vì vậy cho nên cái lợi tha không được trọn. Còn nếu mình được tỉnh mãi mãi, thì không bao giờ mình mất lòng tin. Cho nên hễ khi nào mình tỉnh giác trọn vẹn, thì cái lợi tha mới được trọn vẹn.

 

Như vậy căn cứ ở trên thân này, chúng ta thấy rõ là phải biết nó, bản chất nó là vô thường, là đau khổ để rồi chúng ta cố gắng tạo điều kiện cho cái đau khổ được tiêu diệt. Mà sạch hết đau khổ rồi thì chúng ta được an vui. Đó là tinh thần của pháp Tứ Đế mà trong các bộ kinh A Hàm chúng ta đã học. Bây giờ nói xa hơn chút nữa, từ nơi thân vô thường đau khổ này, qua cái nhìn của các vị Bồ Tát. Thân này Bồ Tát thấy nó vô thường không? Có đau khổ hay không? Nó cũng vô thường, cũng đau khổ nhưng mà các ngày thấy khác nhau một chút. Bởi ngay cái thân vô thường đau khổ này, các ngài bươi ra được một cái không vô thường, không đau khổ. Hồi nẫy là nói theo Tứ Đế. Cái nhìn của Tứ Đế chỉ nhìn nơi thân, nơi tướng cho nên thấy thân này là vô thường đau khổ do từ tham, sân, si mà ra. Dẹp được hết tham, sân, si thì đau khổ theo đó mà hết.

 

Nhưng mà ở đây, qua Đại Thừa hay qua cái nhìn của các thiền sư, thì chúng ta thấy một bước khác. Ngay trong cái thân vô thường đau khổ các ngài cũng thấy rõ như vậy, biết nó là vô thường đau khổ. Cái đó là cái gì? Như quý vị học kinh Lăng Nghiêm nhờ Đức Phật nói chuyện với vua Ba Tư Nặc. Vua Ba Tư Nặc nói thân của ông lúc mười tuổi thì trẻ hơn lúc hai mươi tuổi, và lúc hai mươi tuổi thì trẻ hơn lúc ba mươi tuổi, cho tới ngày nay, năm nay, già hơn năm rồi, tháng này già hơn tháng trước v.v. Mỗi ngày đổi thay từng phút từng giây. Đức Phật mới bảo rằng trong cái sinh diệt vô thường hay trong cái già chết đổi thay đó có một cái chưa từng già chết. Đức Phật mới chỉ cho ông cái không già không chết, ở ngay trong cái thân già chết.

 

Cái không già không chết là cái gì? Cái không già không chết đó Đức Phật chỉ từ cái thấy, từ cái nghe. Trong kinh Lăng Nghiêm có đoạn Phật đưa tay lên xòe nắm, xòe nắm. Phật hỏi A Nan có thấy không? Ngài A Nan trả lời thấỵ Phật hỏi thấy cái gì? Ngài A Nan nói thấy tay Phật xòe nắm. Phật hỏi: "Tay ta xòe nắm mà cái thấy của ông có xòe nắm không?" Ngài A Nan trả lời: "Tay Phật xòe nắm, chớ cái thấy của con không xòe nắm." Xòe nắm tức là động, động thì vô thường. Như vậy chúng ta thấy ngay trong cái thân vô thường này có cái không phải vô thường, không phải sinh diệt. Vì vậy mà ngài Vĩnh Gia Huyền Giác mở đầu Chứng Đạo ca bằng những câu:

 

Pháp thân giác liễu vô nhứt vật
Bản nguyên tự tánh thiên chân Phật
Ngũ uẩn phù vân không khứ lai

 

Ngộ được có cái thân, cái pháp thân, rồi cái pháp thân đó không có một vật, mà cái pháp thân đó cũng gọi là bản nguyên, cũng gọi là tự tánh, cũng gọi là Phật thiện chân. Nó sẵn trong đó. Khi mà mình giác ngộ được có pháp thân rồi, thì nhìn lại cái thân ngũ uẩn này như: "Ngũ uẩn phù vân không khứ lai." Nghĩa là cái thân ngũ uẩn này, chẳng khác nào mây nổi bay qua lại trong bầu trời. Mây bay trong bầu trời quan trọng tới mức nào? Lát thì hợp, lát thì tan, khi thì trụ, khi thì tan, lúc có lúc không. Có nghĩa lý gì đâu.

 

Vì vậy cho nên nhận được cáo pháp thân trong cái thân ngũ uẩn này, chừng đó mình mới thấy cái thân ngũ uẩn này nó như là mây nổi chợt còn, chợt mất không có nghĩa lý gì. Rồi lúc đó thấy: "Tam độc thủy bào hư xuất một." Tam độc là tham, sân, si chẳng khác nào như cái bọt nước nó chợt nổi rồi chợt tan. Như vậy chúng ta còn thân này, chúng ta có khổ hay không? Nếu thấy được cái đó chúng ta có khổ hay không? Đối với hàng Nhị Thừa thấy thân này là khổ. Rồi nguyên nhân của cái khổ đó là ba độc tham, sân, si. Thì qua tới Đại Thừa, nhất là tới Thiền Tông thì ngay cái thân khổ đó, vô thường đó, thấy được có pháp thân chưa từng vô thường, chưa từng sinh diệt. Bởi vậy đứng từ cái pháp thân đó mà nhìn lại cái thân vô thường sinh diệt này chẳng khác nào như đám mây nổi. Còn ba độc tham, sân, si như cái bóng nước.

 

Như vậy cái nhân và cái quả của thân này đều là tạm bợ giả dối không có nghĩa lý gì hết. Thấy được như vậy rồi thì đối với thân này còn buồn, còn khổ không? Sự còn mất của nó mình có rên rỉ không? Hiểu như vậy mới thấy rằng ngay trong cái thân vô thường, đau khổchúng ta tỉnh giác nhận ra được cái pháp thân chân thật rồi, thì chừng đó, cái thân vô thường đau khổ này không còn có gì là quan trọng đối với mình. Bởi vậy cho nên Bồ Tát nhìn thấy thân này như mây nổi, thấy tam độc như là bong bóng nước cho nên không sợ tam độc mà cũng không quý tiếc cái thân này. Mà tại sao các ngài không sợ tam độc? Bởi vì thấy cái pháp thân ở trong thân sinh diệt rồi, thì lúc đó các ngài còn si hay không? Bởi vì thấy cái thân này như mây nổi còn gì nữa mà tham. Mà hết tham thì không còn sân. Vì vậy các ngài thất tam độc như bong bóng nước nổi rồi tan, không có gì thiệt mà phải sợ.

 

Vì mình thấy thân này là thiệt, đó là si mê. Bởi si mê nên tham lam rồi sân hận. Vì vậy mình sợ tham, sân, si. Đó là cái nhân rồi sợ cái quả khổ. Còn Bồ Tát, bởi thấy rõ cái đó, thì các ngài giác ngộ. Mà giác cho nên hết si, hết si cho nên hết tham, hết tham thì hết sân. Do đó các ngài coi cái tham cũng như là bong bóng nước. Hiểu như vậy các hàng Bồ Tát không còn sợ cái thân này là đau khổ. Không còn sợ cái nguyên nhân tạo thành cái thân đau khổ nữa. Bởi vậy cho nên các ngài vui vẻ. Có vị Bồ Tát nào mà buồn không?

 

Còn các vị mà chưa chứng được Bồ Tát, còn tu theo hạnh A La Hán thì các vị đó đang tu có vui không? Bởi vì thấy thân này là đau khổ sinh tử; rồi thấy tham, sân, si là gốc của đau khổ, mà chưa dẹp hết được thì các ngài chưa vui được, lúc nào cũng cố gắng để tiêu diệt. Vì vậy mà các ngài khổ hạnh đủ thứ. Còn Bồ Tát bởi thấy trong cái thân vô thường có cái thường, bởi vậy cho nên các ngài không sợ sệt, không hoảng hốt mà tâm các ngài hằng an, hằng tĩnh, đó là cái giai đoạn của Bồ Tát. Thì như vậy chúng ta biết rõ chư Bồ Tát, đã thấy được cái tâm này, ngay nơi trong thân này có cái chân thật rồi, thì các ngài sẽ làm sao?

 

Tôi dẫn thêm vị Cổ Đức nói một bài tụng:

 

Chư Phật tại tâm đầu
Người mê chạy ngoài cầu
Trong ôm báu vô giá
Chẳng biết một đời thôi

 

Chư Phật tại tâm đầu, tức là ở ngay nơi đầu tâm mình. Sao không nói ở đuôi tâm mà nói ở đầu tâm? Bởi vì khi mình thấy niệm lên, trước khi dấy niệm lúc đó là động hay là tịnh? Nó tịnh rồi mới dấy động chớ? Như vậy trước khi chưa dấy niệm thì lúc đó Phật ở ngay trong đó rồị mà dấy niệm là thành chúng sinh. Cho nên nói chư Phật ở tâm đầu. Chưa dấy niệm đó, ngay đó là Phật rồi mà mình không biết. Nghĩa là đừng dấy niệm tức là Phật đó rồi, nhưng vừa dấy niệm Phật thành ở dưới, tức nhiên đợi niệm lắng xuống thì thấy Phật hiện nữa. Như vậy thấy rằng niệm dấy lên, thiên hạ chấp cái đó là tâm. Mà thật ra Phật ở đầu niệm chớ không đâu hết. Trước khi niệm sinh là có Phật rồi, mà dấy niệm thành chúng sinh, mà chúng sinh lắng xuống trở về Phật lại chứ có xa xôi gì đâu. Vậy mà "Người mê chạy ngoài cầu". Người mê chạy kiếm ông Phật ở chỗ này, chỗ kia, ở Tà Lơn, Ông Cấm gì đó, chứ không chịu thấy ông Phật ngay tâm mình. "Trong ôm báu vô giá", "Chẳng biết một đời thôi", nghĩa là trong tâm mình đã ôm sẵn một hòn ngọc báu vô giá mà mình không chịu biết hòn ngọc đó, rồi một đời để trôi qua, uổng một đời.

 

Qua bốn câu rất là đơn giản của các ngài, mình thấy rõ là Phật đâu có ở xa mình. Bởi ở ngay đầu tâm đó mà rồi không hiết cứ chạy đầu này đầu kia. Chạy hì hục, leo non, leo núi để tìm Phật. Rốt cuộc rồi có gặp Phật không? Có gặp thì gặp cái gì chứ không gặp Phật. Rồi mình đã sẵn một hòn ngọc báu vô giá ở trong lòng mình mà không biết, để trôi một đời thật đáng tiếc. Đó là một vị thiền sư nhắc cho chúng ta biết.

 

Tôi nhắc lại một lần nữa, dầu tu theo hạng Thanh Văn hay là hạnh Bồ Tát, đều có một mục đích để đạt được sự yên vui. Nghĩa là hàng Thanh Văn thấy thân khổ để tìm nguyên nhân tiêu diệt cái khổ, hết khổ rồi được vui. Còn Bồ Tát thấy rõ trong cái thân đau khổ có cái chân thường an lạc. Cho nên biết có chân thường an lạc rồi các ngài trở về sống với sự an lạc đó cũng là an vui. Nhưng mà khi ở hai điểm có hai cái từ bi khác nhau. Khi ở hàng Nhị Thừa thấy cái thân này vô thường, đau khổ rồi tìm nguyên nhân diệt hết cái nguyên nhân đau khổ, cho được an vui. Nhìn lại những người mang thân đau khổ mà không biết đau khổ, rồi lại say sưa trong đó, các ngài khởi từ bi thường chỉ dậy để cho người ta diệt cái nguyên nhân đau khổ để cùng được vuị Đó là tinh thần của Nhị Thừa.

 

Còn Bồ tát thì khác. Bồ Tát thấy ngay trong thân vô thường đau khổ có cái chân thường, an lạc trong đó cho nên các ngài không dậy mình cái lối dẹp tham sân si, mà các ngài dậy mình phải giác ngộ. Phải thấy được cái chân thật ngay trong cái hư dối. Nếu thấy được chân thật ấy rồi, thì đó là phá được si. Phá được si rồi thì tham cũng hết, sân cũng hết. Thì đó cũng là dẹp tham, sân, si. Nhưng mà ở đây dẹp mà không dạy pháp tu mà chỉ mình phải thấy. Vì vậyThiền Tông gọi là Kiến Tánh Khởi Tu. Thấy được chân thật rồi sau đó mình từ từ xóa bỏ mê lầm.

 

Vì vậy cho nên, vào hàng Đại Thừa, khi mà dậy người ta thấy cái khổ rồi để thoát khổ, bằng cách chỉ thẳng cái đó hơn là chỉ cách diệt ba độc. Và chỉ thẳng cho mình thấy trong cái thân vô thường có cái chân thường. Bao giờ lúc nào cũng chỉ cái đó cho nên bao nhiêu kinh điển Đại Thừa, nếu quý vị đọc sẽ thấy. Thí dụ như trong kinh Pháp Hoa thì Phật nói chỉ có một Phật Thừa, rồi chỉ thẳng cho mình cái tri kiến Phật. Kinh Lăng Nghiêm cốt chỉ cho mình được cái chân tâm. Còn kinh Viên Giác cốt chỉ cho mình thấy tính Viên Giác. Thì kinh nào cũng nhằm cái đó là cái gốc. Như vậy mình phải hiểu tại sao tinh thần Đại Thừa nhắm thẳng vào đó.

 

Cho đến Thiền Tông cũng vậy. Chỉ cho mình kiến tánh, nhận cho ra cái đó rồi mới kiến tánh khởi tu. Thì cái đó là cái gốc của sự tu, đó là nguồn gốc cho mình thấy ngay cái thân tạm bợ hư dối có cái chân thật. Vì cái chủ yếu của mình tu đây là đừng lầm cái thân giả dối cho là chân thật. Mà nếu lầm cái giả dối cho là chân thật rồi mỗi cái lầm kéo theo dài dài không bao giờ kể hết. Còn bây giờ mình thấy rõ nó rồi, từ cái giả dối mình tìm ra cái chân thật ở trong, rồi tự nhiên mình thấy nó là tầm thường như mây nổi. Tự nó giải quyết được bao nhiêu vấn đề.

 

Vì vậy cho nên Đại Thừađốn ngộ, mau là ở chỗ đó. Vì vậy lòng từ bi của Đại Thừa, khi nhận mình có cái chân thật rồi, đối với thân này mình hết quan trọng. Bởi hết quan trọng thì mình hết đau khổ, thì lúc đó thương xót muốn chỉ dậy cho người ta. Chỉ dậy điều gì? Thì giống như trong kinh Pháp Hoa mà nói, cho rằng thấy bạn nghèo quá, lang thang, say sưa liền cho hòn ngọc báu, cột trong chéo áo đó. Cho cái đó, nếu bạn quên, chỉ cho cái đó lấy ra xài thôi. Lấy cái đó làm then chốt để dậy tu, lòng từ bi chỉ thẳng chỗ đó. Cho nên quý vị thấy rõ ràng cả đời Bồ Tát Thường Bất Khinh làm việc gì, gặp ai ngài cũng nói: "Tôi không dám khinh các ngài, vì các ngài đều sẽ thành Phật." Tức là cốt chỉ cho ai nấy cũng đều có cái của báu đó. Nghĩa là nhận cho ra của báu đó là một việc làm suốt cả cuộc đời của các ngài.

 

Hiểu được chỗ đó quý vị mới thấy bao nhiêu chư Bồ Tát đều nhằm thẳng chỉ cho chúng ta phải làm sao nhận ra hòn ngọc báu đó. Thì như vậy quý vị mới thấy rõ không có nói riêng về hàng Đại Thừa, Bồ Tát mới có từ bi mà hàng Nhị Thừa cũng có từ bi vậy. Nhưng từ bi nhìn khác hơn bên Đại Thừa. Hai bên khác nhau như vậy cho nên chúng ta mới thấy có chia ra Tiểu Thừa, Đại Thừa. Nhưng mà mục tiêu chính yếu đều là thấy rõ thân này là gốc.

 

Thấy rõ thân này là gốc rồi kế đó là tìm cách nào giải hết cái đau khổ đưa tới an vui. Như vậy là chủ yếu đạo Phật dù Tiểu Thừa, Đại Thừa cũng là đem lại nguồn an vui cho chúng sinh. Chứ không nói đau khổ, chán nản. Đem lại nguồn vui tức là an ổn phấn khởi vui tươi. Cho nên quý vị thấy ai mà tu lâu, tu có hiệu lực thì người đó không phải người buồn mà là người vui. Ngoài ra tu lôi thôi thì còn nghĩ cái được, cái mất nhiều, thì cái đó còn buồn vui. Chứ thật tình tu có đạo lực thì ít có buồn vui. Thì như vậy mới thấy rõ đạo Phật là đem lại nguồn vui cho chúng sinh, chứ không phải đau khổ.

 

Vì vậy cho nên người tu theo đạo Phật là cốt hết khổ. Cho nên tất cả chúng ta từ Tăng Ni cho tới Phật Tử nam nữ, mỗi người tu làm sao mỗi ngày bớt khổ thì mới gọi là thật tu. Chứ còn tu mà cứ càng ngày càng chồng chất thêm những cái khổ đau, đó chưa phải là biết tu. Như vậy tu có nghĩa là giải khổ, chứ không phải tu để mà thêm khổ. Dầu cho ở chùa, dầu cho học đạo nhiều năm mà chưa có bớt khổ cũng chưa phải là biết tu. Thì như vậy chúng ta học đạo là cốt làm sao cho hết khổ. Mà muốn hết khổ là phải nhận ra hòn ngọc báu của mình hay là nhận ra được pháp thân.

 

Cho nên tôi nhắc lại câu chuyện của ngài Cảnh Thăng. Ngài ngồi trong am với chú thị giả nghe ở ngoài kia có con rắn nó bắt con nhái thì con nhái kêu ẹo ẹo ở ngoài. Ngài hỏi chú thị giả tiếng gì ở ngoàỉ Chú thị giả đáp là tiếng rắn bắt nhái kêu. Ngài nói: "Chúng sinh khổ, lại có khổ chúng sinh." Như vậy thì con rắn bắt con nhái, thì con nhái bị con rắn bắt là chúng sinh khổ, còn khổ chúng sinh là ai? Là chú thị giả hay là ai? Là người mà quên mình theo vật. Ai quên mình theo vật thì người đó đều khổ hết. Đó là khổ chúng sinh. Bởi vì chúng ta ngay nơi mình có hòn ngọc báu mà lúc nào cũng quên nó, mà cứ chạy theo âm thanh sắc tướng bên ngoài. Bởi chạy theo âm thanh sắc tướng bên ngoài cho nên bị vô thường chi phối. Do đó mà khổ. Bởi vậy cho nên khi nghe tiếng mà chỉ biết tiếng chứ không nhớ mình. Vì vậy cho nên cảnh khổ là chúng sinh khổ. Mà quên mình đó là khổ chúng sinh. Để thế cho ông thị giảtrả lời cho câu hỏi của ngài Cảnh Thanh thì tôi sẽ nói: "Quan Âm diệu trí lực. Năng cứu chúng sinh khổ."

 

Để kết luận bài nói chuyện hôm nay, tôi xin dẫn một bài kệ của thiền sư Chân NguyênViệt Nam đời Lê để cho quý vị nhớ mà tu:

 

Nhất tánh viên minh cả cá đồng
Bao la thiên địa tổng hư không
Ngã kim trực chỉ Tây Lai ý
Tâm tịch linh tri thị chánh tông

 

Nói rằng "Nhất tánh viên minh cả cá đồng" tức là một tánh tròn sáng mà mỗi người ai cũng đồng có, ai cũng có tánh tròn sáng như vậy. "Bao la thiên địa tổng hư không" tức là nó bao trùm cả trời đất và hư không. Nếu mình thấy được tánh đó thì cái thân này thật là bọt bèo không đáng kể gì hết. "Ngã kim trực chỉ Tây Lai ý" nghĩa là nay tôi nhắm thẳng ý Tây Lai, tức là ý của tổ sư từ Ấn Độ sang, ý đó là "tâm tịch linh tri thị chánh tông." "Tâm tịch", chữ "Tâm" hồi nẫy tôi nói là tâm đầu. Tâm là chỉ cho cái tâm vọng tưởng phân biệt của mình đó. Mà cái tâm vọng tưởng phân biệt nó lặng đi rồi thì còn cái "Linh Tri" tức là cái biết sáng suốt, không phân biệt. Đó chính là "Chánh Tông". "Tâm tịch linh tri thị chánh tông" nghĩa là những cái tâm vọng tưởng lặng xuống còn cái linh tri sáng suốt đó, tức là "Chánh Tông" mà tổ Bồ Đề Đạt Ma đem sang. Vì vậy cho nên bản dịch:

 

Một tánh sáng tròn mỗi mỗi đồng
Bao trùm trời đất cả hư không
Nay ta nhắm thẳng Tây lai ý
Lòng vắng biết thiêng ấy chánh tông

 

Như vậy tất cả chúng sinh ta tu mà nhất là tu thiền thì thấy cái ý tổ sư từ Ấn Độ sang rõ ràng bằng một câu kết thúc này: "Lòng vắng biết thiêng ấy chánh tông". Thì quý vị nhớ rằng ứng dụng như vậy thì đời tu chúng ta không uổng, mà đó cũng là ý của tổ sư từ Ấn Độ sang.

 

Thiền viện Chân Không, Vũng Tầu
Xuân Bính Dần, 1986.
Thích Thanh Từ

 

 

____________________

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 3417)
08 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 3395)
03 Tháng Mười Hai 2020(Xem: 3070)
30 Tháng Mười Một 2020(Xem: 3014)
28 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2988)
27 Tháng Mười Một 2020(Xem: 3191)
23 Tháng Mười Một 2020(Xem: 3477)
18 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2843)
13 Tháng Mười Một 2020(Xem: 3089)
12 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2837)
11 Tháng Mười Một 2020(Xem: 2989)
27 Tháng Mười 2020(Xem: 2796)
26 Tháng Mười 2020(Xem: 2629)
05 Tháng Mười 20209:30 SA(Xem: 2651)
Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại bắt đầu buông lời khuyên nhủ, nhưng nào phải những gì tôi đang cần ở bạn đâu. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, bạn lại tuôn lời giải thích, lý do tôi không nên cảm thấy muộn phiền. Nhưng có biết không, bạn đang giẵm đạp lên tình cảm của tôi rồi. Khi tôi cần bạn lắng nghe tôi, thì bạn lại muốn làm điều gì đó
22 Tháng Chín 202010:02 SA(Xem: 2402)
Theo kinh Địa Tạng, những người tạo ác nghiệp khi chết sẽ trở thành ngạ quỷ hay súc sanh. Ngạ quỷ là quỷ đói, bụng to bằng cái trống nhưng cái họng chỉ bé bằng cái kim nên ăn uống mãi mà cũng không no. Có lẽ điều này ám chỉ những vong linh còn nhiều dục vọng, vẫn thèm khát cái thú vui vật chất nhưng vì không còn thể xác để
20 Tháng Tám 20209:00 SA(Xem: 4186)
Những Miếng Thịt Chay Bằng Đậu Nành (Soy Curls) là một loại thực phẩm hoàn toàn tự nhiên, dùng để thay thế cho thịt, có lợi ích cho tim (vì làm bằng đậu nành), ngon miệng, và dễ xử dụng. Soy Curls trông khá giống miếng thịt (sau khi làm xong), có mùi vị thơm ngon, và tính linh hoạt của Soy Curls thì các thực phẩm khác không thể so sánh được.
20 Tháng Tám 20208:00 SA(Xem: 1071676)
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần. Đã mang lấy nghiệp vào thân, 3250.Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Lời quê chắp nhặt dông dài, 3254.Mua vui cũng được một vài trống canh.
12 Tháng Bảy 20201:49 CH(Xem: 4469)
Hành trình về phương đông của giáo sư Spalding kể chuyện một đoàn khoa học gồm các chuyên môn khác nhau Hội Khoa học Hoàng gia Anh (tức Viện Hàn lâm Khoa học) cử sang Ấn Độ nghiên cứu về “huyền học”. Sau hai năm trời lang thang khắp các đền chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí “làm tiền” du khách,
11 Tháng Bảy 20209:48 CH(Xem: 4067)
Tâm hồn con người hiện nay đã trở nên quá máy móc, thụ động, không thể tự chữa phải được nâng lên một bình diện khác cao hơn để mở rộng ra, nhìn mọi sự qua một nhãn quan mới. Chỉ có áp dụng cách đó việc chữa trị mới mang lại kết quả tốt đẹp được.” [Trang 13] Những câu chữ trích dẫn nói trên chính là quan điểm của tác giả,
10 Tháng Bảy 20208:57 CH(Xem: 3779)
Ngay trong phần đầu cuốn sách, tác giả Swami Amar Jyoti đã “khuyến cáo” rằng “Cuốn sách này không phải là hồi ký, vì các nhân vật đều không có thực. Tuy nhiên, đây cũng không phải một tiểu thuyết hư cấu vì nó tiêu biểu cho những giai đoạn đi tìm đạo vẫn thường xảy ra tại Ấn Độ suốt mấy ngàn năm nay”. Và tác giả hy vọng “cuốn sách
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 3627)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
08 Tháng Sáu 20203:30 CH(Xem: 2793)
Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học. Nói một cách trung thực thì ngày hôm nay tôi tiếp cận nhất với buổi lễ ra tốt nghiệp đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra
04 Tháng Sáu 202011:07 CH(Xem: 2952)
Người bao nhiêu dặm đường trần phải bước. Để thiên hạ gọi là được thành nhân? Bao biển xa bồ câu cần bay lướt. Mới về được cồn cát mượt ngủ yên? Vâng! Đại bác bắn bao viên tàn phá. Rồi người ta mới lệnh cấm ban ra? Câu trả lời, bạn ơi, hòa trong gió. Câu trả lời theo gió thổi bay xa!
18 Tháng Tư 202011:18 CH(Xem: 2348)
Vì vậy, nếu một số quốc gia chỉ xét nghiệm những bệnh nhân nặng nhập viện - và không xét nghiệm bệnh nhân Covid-19 nhẹ (hoặc thậm chí có những bệnh nhân không hề có triệu chứng) không đến bệnh viện (ví dụ như cách Vương quốc Anh hiện đang áp dụng), thì tỷ lệ tử vong có vẻ như cao hơn so với các quốc gia nơi xét nghiệm
14 Tháng Tư 20209:39 CH(Xem: 2477)
Vi-rút corona là một họ lớn của vi-rút gây nhiễm trùng đường hô hấp. Các trường hợp nhiễm bệnh có thể ở mức từ cảm lạnh thông thường đến các chứng bệnh nghiêm trọng hơn như Hội chứng Hô hấp Cấp tính Trầm trọng (SARS) và Hội chứng Hô hấp Trung Đông (MERS). Loại vi-rút corona chủng mới này bắt nguồn từ tỉnh Hồ Bắc,
09 Tháng Tư 20206:47 SA(Xem: 2710)
Chúng ta có thể nhiễm Covid-19 do chạm vào các bề mặt bị nhiễm virus. Nhưng chỉ mới đây người ta mới hiểu rõ dần về việc loại virus này có thể tồn tại bao lâu bên ngoài cơ thể người. Khi Covid-19 lây lan, nỗi sợ hãi của chúng ta về các bề mặt nhiễm bẩn cũng tăng. Bây giờ mọi người đã quen với cảnh ở nơi công cộng trên khắp thế giới
07 Tháng Tư 20206:18 CH(Xem: 3197)
Tu sĩ Richard Hendrick sống và làm việc ở Ireland (Ái Nhĩ Lan). Ông đã đăng tải bài thơ “Lockdown” (“Phong tỏa”) của ông trên facebook vào ngày 13 tháng Ba năm 2020. Bài thơ đã được rất nhiều người tán thưởng. Bài thơ muốn truyền giao một thông điệp mạnh mẽ về niềm Hy Vọng trong cơn hỗn loạn vì bệnh dịch “corona” (Covid-19)
06 Tháng Tư 202012:27 CH(Xem: 2354)
Nhóm cố vấn sẽ cân nhắc các nghiên cứu về việc liệu virus có thể lây lan hơn so với suy nghĩ trước đây hay không; một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy giọt ho có thể bắn đi tới 6m và hắt hơi tới 8m. Chủ tịch hội thảo, Giáo sư David Heymann, nói với BBC News rằng nghiên cứu mới có thể dẫn đến sự thay đổi trong lời khuyên về việc đeo khẩu trang.
05 Tháng Tư 20209:35 CH(Xem: 2460)
Virus corona đang lây lan khắp thế giới nhưng chưa có một loại thuốc nào có thể giết chúng hoặc một loại vaccine nào có thể giúp bảo vệ con người khỏi việc lây nhiễm chúng. Vậy chúng ta còn bao xa mới có được loại thuốc cứu mạng này?
04 Tháng Tư 202010:01 CH(Xem: 2891)
Thế giới đang đóng cửa. Những nơi từng tấp nập với cuộc sống hối hả hàng ngày đã trở thành những thị trấn ma với những lệnh cấm áp lên đời sống của chúng ta - từ giới nghiêm tới đóng cửa trường học đến hạn chế đi lại và cấm tụ tập đông người. Đó là một phản ứng toàn cầu vô song đối với một căn bệnh. Nhưng khi nào nó sẽ kết thúc
02 Tháng Tư 20209:40 CH(Xem: 2343)
Bảo vệ bản thân thế nào? WHO khuyến nghị: - Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc gel rửa tay có thể diệt trừ virus - Che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi - lý tưởng nhất là dùng khăn giấy - và sau đó rửa tay để ngăn sự lây lan của virus - Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng - nếu tay bạn nhiễm virus có thể khiến virus
01 Tháng Tư 20207:07 CH(Xem: 3384)
Bệnh Dịch Do Vi-rút Corona (Covid-19) - Corona Virus (Covid-19)
18 Tháng Ba 202011:35 CH(Xem: 3174)
Trong một viện dưỡng lão ở nước Úc, cụ ông Mak Filiser, 86 tuổi, không có thân nhân nào thăm viếng trong nhiều năm. Khi cụ qua đời cô y tá dọn dẹp căn phòng của cụ và bất ngờ khám phá ra một mảnh giấy nhàu nát với những dòng chữ viết nguệch ngoạc. Đó là một bài thơ của cụ và đó là tài sản duy nhất, là cái vốn liếng quý giá nhất
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 4108)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 5753)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 7641)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 3869)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 3804)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 3382)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 3477)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 9354)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 2992)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 3094)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 5999)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 5201)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng