Kinh Kalama: Lời Phật Dạy Cho Người Kalama - Kalama Sutta: The Instruction To The Kalamas

06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 9536)
Kinh Kalama: Lời Phật Dạy Cho Người Kalama - Kalama Sutta: The Instruction To The Kalamas

TCPG_2B

 

Kinh Kalama: Lời Phật Dạy Cho Người Kalama
Kalama Sutta: The Instruction To The Kalamas
 
Translated from the Pali by Soma Thera - Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến
Source-Nguồn: accesstoinsight.org


__________________

Kinh Kalama: Lời Phật Dạy Cho Người Kalama - Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến

Kalama Sutta: The Instruction To The Kalamas - Translated from the Pali by Soma Thera


NGƯỜI KALAMA Ở KESAPUTTA ĐẾN NGHE ĐỨC PHẬT GIẢNG DẠY

 

1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca), trong chuyến đi hoằng pháp ở nước Kosala, ngài đã đến tỉnh nhỏ Kesaputta. Sự nổi tiếng của Đức Thế Tôn đã được lan rộng ra bằng cách sau đây: Đức Thế Tôn quả thật là một bậc toàn thiện, ngài là bậc hoàn toàn giác ngộ, ngài có đầy đủ kiến thức và sự thực hành, ngài tuyệt luân, ngài thấu hiểu về các thế giới, không ai so sánh với ngài được, ngài chuyển hóa con người hướng thiện, ngài là bậc thầy của trời và người, tự ngài có sự hiểu biết rõ ràng qua các trải nghiệm trực tiếp. Đức Thế Tôn đặt ra Giáo Pháp, tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, Giáo Pháp nầy có ngôn từthông điệp đầy ý nghĩa, và tất cả đều hoàn hảo; (qua đời sống của ngài,) ngài chứng minh cuộc sống của người xuất gia thì hoàn toàn trong sạch, và cao quý. Chúng ta gặp được những bậc toàn thiện như vậy, quả thật là một điều tốt đẹp

 

2. Người Kamala là các cư dân ở Kesaputta, sau đó họ đã đi đến nơi cư trú của Đức Thế Tôn. Khi đến nơi, một số người tỏ lòng tôn kính (đảnh lễ) ngài, rồi ngồi qua một bên; một số người trao đổi lời thăm hỏi ngài, và sau khi kết thúc cuộc nói chuyện thân thiện đáng nhớ, họ ngồi qua một bên; một số người chắp tay đảnh lễ ngài, rồi họ ngồi qua một bên; một số người cho ngài biết tên và gia đình của họ, rồi họ ngồi qua một bên; một số người không nói gì cả, rồi họ ngồi qua một bên.

THE KALAMAS OF KESAPUTTA GO TO SEE THE BUDDHA

 

1. I heard thus. Once the Blessed One, while wandering in the Kosala country with a large community of bhikkhus, entered a town of the Kalama people called Kesaputta. The Kalamas who were inhabitants of Kesaputta: "Reverend Gotama, the monk, the son of the Sakyans, has, while wandering in the Kosala country, entered Kesaputta. The good repute of the Reverend Gotama has been spread in this way: Indeed, the Blessed One is thus consummate, fully enlightened, endowed with knowledge and practice, sublime, knower of the worlds, peerless, guide of tamable men, teacher of divine and human beings, which he by himself has through direct knowledge understood clearly. He set forth the Dhamma, good in the beginning, good in the middle, good in the end, possessed of meaning and the letter, and complete in everything; and he proclaims the holy life that is perfectly pure. Seeing such consummate ones is good indeed."

 

2. Then the Kalamas who were inhabitants of Kesaputta went to where the Blessed One was. On arriving there some paid homage to him and sat down on one side; some exchanged greetings with him and after the ending of cordial memorable talk, sat down on one side; some saluted him raising their joined palms and sat down on one side; some announced their name and family and sat down on one side; some without speaking, sat down on one side.


NGƯỜI KALAMA Ở KESAPUTTA XIN ĐỨC PHẬT GIẢNG DẠY

 

3. Người Kamala là các cư dân ở Kesaputta, ngồi một bên thưa với Đức Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, có một số nhà sưBà La Môn, đến thăm Kesaputta. Họ chỉ giới thiệu, trình bày, và giải thích những giáo lý của họ; còn những giáo lý của người khác thì bị họ khinh thường, chửi rủa, và chỉ trích thậm tệ. Bạch Thế Tôn, cũng có một số nhà sưBà La Môn khác, họ đến thăm Kesaputta. Họ cũng chỉ giới thiệu, trình bày, và giải thích những giáo lý của họ; còn những giáo lý của người khác thì bị họ khinh thường, chửi rủa, và chỉ trích thậm tệ. Bạch Thế Tôn, chúng con có sự nghi ngờ, có sự không chắc chắn liên quan đến những vị nầy. Các nhà sưBà La Môn nầy, ai nói thật và ai nói dối đây?"

THE KALAMAS OF KESAPUTTA ASK FOR GUIDANCE FROM THE BUDDHA

 

3. The Kalamas who were inhabitants of Kesaputta sitting on one side said to the Blessed One: "There are some monks and brahmans, venerable sir, who visit Kesaputta. They expound and explain only their own doctrines; the doctrines of others they despise, revile, and pull to pieces. Some other monks and brahmans too, venerable sir, come to Kesaputta. They also expound and explain only their own doctrines; the doctrines of others they despise, revile, and pull to pieces. Venerable sir, there is doubt, there is uncertainty in us concerning them. Which of these reverend monks and brahmans spoke the truth and which falsehood?"


TIÊU CHUẨN ĐỂ BÁC BỎ (ĐỂ KHÔNG XỬ DỤNG)    

 

4. "Nầy các người Kalama, đấy là chuyện đúng đắn khi quý vị có sự nghi ngờ, có sự không chắc chắn; sự không chắc chắn đã nẩy sinh khi tâm quý vị cảm nhận có điều gì đáng nghi ngờ. Hãy đến đây, nầy các người Kalama. Đừng chấp nhận dựa trên những điều sau đây: những gì mình đã được nghe đi nghe lại nhiều lần; hoặc dựa trên truyền thống; hoặc dựa trên tin đồn; hoặc dựa trên kinh sách; hoặc dựa trên sự phỏng đoán; hoặc dựa trên một sự thật đã được chấp nhận; hoặc dựa trên sự xét đoán bề ngoài; hoặc dựa trên một thành kiến (​​về một ý tưởng đã được suy ngẫm); hoặc dựa trên một người xem là có khả năng; hoặc dựa trên 'một nhà sư là thầy của mình'. Nầy các người Kalama, khi chính quý vị hiểu biết điều sau đây: 'Những điều nầy là xấu; những điều nầy thì bị chê trách; những điều nầy bị lên án bởi người khôn ngoan; qua sự thực hiệnquan sát, những điều nầy dẫn đến sự đau khổbệnh hoạn,' thì quý vị nên bác bỏ chúng.

THE CRITERION FOR REJECTION

 

4. "It is proper for you, Kalamas, to doubt, to be uncertain; uncertainty has arisen in you about what is doubtful. Come, Kalamas. Do not go upon what has been acquired by repeated hearing; nor upon tradition; nor upon rumor; nor upon what is in a scripture; nor upon surmise; nor upon an axiom; nor upon specious reasoning; nor upon a bias toward a notion that has been pondered over; nor upon another's seeming ability; nor upon the consideration, 'The monk is our teacher.' Kalamas, when you yourselves know: 'These things are bad; these things are blamable; these things are censured by the wise; undertaken and observed, these things lead to harm and ill,' abandon them.


THAM LAM, SÂN HẬNSI MÊ (THAM SÂN SI)

 

5. "Nầy các người Kalama, quý vị nghĩ gì? Khi người nào có lòng tham lam, thì điều nầy có lợi hay là có hại cho họ?" - "Bạch Thế Tôn, có hại." - "Nầy các người Kalama, khi người nào có lòng tham lam, tâm họ bị lòng tham lam tràn ngập, tâm họ bị lòng tham lam đánh bại, người nầy sẽ đi giết người, đi trộm cắp, phạm tội tà dâm, và nói dối; người nầy cũng xúi giục người khác làm giống như họ. Các điều nầy sẽ làm cho họ đau khổbệnh hoạn lâu dài, có đúng không? - "Bạch Thế Tôn, dạ đúng."

 

6. "Nầy các người Kalama, quý vị nghĩ gì? Khi người nào có lòng sân hận, thì điều nầy có lợi hay là có hại cho họ?" - "Bạch Thế Tôn, có hại." - "Nầy các người Kalama, khi người nào có lòng sân hận, tâm họ bị lòng sân hận tràn ngập, tâm họ bị lòng sân hận đánh bại, người nầy sẽ đi giết người, đi trộm cắp, phạm tội tà dâm, và nói dối; người nầy cũng xúi giục người khác làm giống như họ. Các điều nầy sẽ làm cho họ đau khổbệnh hoạn lâu dài, có đúng không? - "Bạch Thế Tôn, dạ đúng."

 

7. "Nầy các người Kalama, quý vị nghĩ gì? Khi người nào có lòng si mê, thì điều nầy có lợi hay là có hại cho họ?" - "Bạch Thế Tôn, có hại." - "Nầy các người Kalama, khi người nào có lòng si mê, tâm họ bị lòng si mê tràn ngập, tâm họ bị lòng si mê đánh bại, người nầy sẽ đi giết người, đi trộm cắp, phạm tội tà dâm, và nói dối; người nầy cũng xúi giục người khác làm giống như họ. Các điều nầy sẽ làm cho họ đau khổbệnh hoạn lâu dài, có đúng không? - "Bạch Thế Tôn, dạ đúng."

 

8. "Nầy các người Kalama, quý vị nghĩ gì? Những điều (nói trên) nầy tốt hay xấu?" - "Bạch Thế Tôn, dạ xấu." - "Bị chê trách hay không bị chê trách?" - "Bạch Thế Tôn, bị chê trách." - "Bị lên án hay được khen ngợi bởi người khôn ngoan?" - "Bạch Thế Tôn, bị lên án." - "Qua sự thực hiệnquan sát, những điều nầy có dẫn đến đau khổbệnh hoạn không? Hoặc là những điều nầy đốt cháy tâm quý vị như thế nào?" - "Qua sự thực hiệnquan sát, những điều nầy dẫn đến đau khổbệnh hoạn. Do đó, những điều nầy đốt cháy tâm chúng con tại đây."

 

9. "Nầy các người Kalama, vì thế, chúng ta đã nói, những gì chúng ta đã nói trước đây, 'Hãy đến đây, nầy các người Kalama. Đừng chấp nhận dựa trên những điều sau đây: những gì mình đã được nghe đi nghe lại nhiều lần; hoặc dựa trên truyền thống; hoặc dựa trên tin đồn; hoặc dựa trên kinh sách; hoặc dựa trên sự phỏng đoán; hoặc dựa trên một sự thật đã được chấp nhận; hoặc dựa trên sự xét đoán bề ngoài; hoặc dựa trên một thành kiến (​​về một ý tưởng đã được suy ngẫm); hoặc dựa trên một người xem là có khả năng; hoặc dựa trên 'một nhà sư là thầy của mình'. Nầy các người Kalama, khi chính quý vị hiểu biết điều sau đây: "Những điều nầy là xấu; những điều nầy thì bị chê trách; những điều nầy bị lên án bởi người khôn ngoan; qua sự thực hiệnquan sát, những điều nầy dẫn đến sự đau khổbệnh hoạn," thì quý vị nên bác bỏ chúng.'

GREED, HATE, AND DELUSION

 

5. "What do you think, Kalamas? Does greed appear in a man for his benefit or harm?" — "For his harm, venerable sir." — "Kalamas, being given to greed, and being overwhelmed and vanquished mentally by greed, this man takes life, steals, commits adultery, and tells lies; he prompts another too, to do likewise. Will that be long for his harm and ill?" — "Yes, venerable sir."

 

6. "What do you think, Kalamas? Does hate appear in a man for his benefit or harm?" — "For his harm, venerable sir." — "Kalamas, being given to hate, and being overwhelmed and vanquished mentally by hate, this man takes life, steals, commits adultery, and tells lies; he prompts another too, to do likewise. Will that be long for his harm and ill?" — "Yes, venerable sir."

 

7. "What do you think, Kalamas? Does delusion appear in a man for his benefit or harm?" — "For his harm, venerable sir." — "Kalamas, being given to delusion, and being overwhelmed and vanquished mentally by delusion, this man takes life, steals, commits adultery, and tells lies; he prompts another too, to do likewise. Will that be long for his harm and ill?" — "Yes, venerable sir."

 

8. "What do you think, Kalamas? Are these things good or bad?" — "Bad, venerable sir" — "Blamable or not blamable?" — "Blamable, venerable sir." — "Censured or praised by the wise?" — "Censured, venerable sir." — "Undertaken and observed, do these things lead to harm and ill, or not? Or how does it strike you?" — "Undertaken and observed, these things lead to harm and ill. Thus it strikes us here."

 

9. "Therefore, did we say, Kalamas, what was said thus, 'Come Kalamas. Do not go upon what has been acquired by repeated hearing; nor upon tradition; nor upon rumor; nor upon what is in a scripture; nor upon surmise; nor upon an axiom; nor upon specious reasoning; nor upon a bias toward a notion that has been pondered over; nor upon another's seeming ability; nor upon the consideration, "The monk is our teacher." Kalamas, when you yourselves know: "These things are bad; these things are blamable; these things are censured by the wise; undertaken and observed, these things lead to harm and ill," abandon them.'

 

TIÊU CHUẨN ĐỂ CHẤP NHẬN (ĐỂ XỬ DỤNG)

 

10. "Hãy đến đây, nầy các người Kalama. Đừng chấp nhận dựa trên những điều sau đây: những gì mình đã được nghe đi nghe lại nhiều lần; hoặc dựa trên truyền thống; hoặc dựa trên tin đồn; hoặc dựa trên kinh sách; hoặc dựa trên sự phỏng đoán; hoặc dựa trên một sự thật đã được chấp nhận; hoặc dựa trên sự xét đoán bề ngoài; hoặc dựa trên một thành kiến (​​về một ý tưởng đã được suy ngẫm); hoặc dựa trên một người xem là có khả năng; hoặc dựa trên 'một nhà sư là thầy của mình'. Nầy các người Kalama, khi chính quý vị hiểu biết điều sau đây: 'Những điều nầy là tốt; những điều nầy thì không bị chê trách; những điều nầy được khen ngợi bởi người khôn ngoan; qua sự thực hiệnquan sát, những điều nầy dẫn đến sự hạnh phúclợi lạc,' thì quý vị nên làm và chấp nhận chúng.

THE CRITERION FOR ACCEPTANCE

 

10. "Come, Kalamas. Do not go upon what has been acquired by repeated hearing; nor upon tradition; nor upon rumor; nor upon what is in a scripture; nor upon surmise; nor upon an axiom; nor upon specious reasoning; nor upon a bias toward a notion that has been pondered over; nor upon another's seeming ability; nor upon the consideration, 'The monk is our teacher.' Kalamas, when you yourselves know: 'These things are good; these things are not blamable; these things are praised by the wise; undertaken and observed, these things lead to benefit and happiness,' enter on and abide in them.


KHÔNG THAM LAM, KHÔNG SÂN HẬN VÀ KHÔNG SI MÊ (KHÔNG THAM SÂN SI)

 

11. "Nầy các người Kalama, quý vị nghĩ gì? Khi người nào không có lòng tham lam, thì điều nầy có lợi hay là có hại cho họ?" - "Bạch Thế Tôn, có lợi." - "Nầy các người Kalama, khi người nào không có lòng tham lam, tâm họ không bị lòng tham lam tràn ngập, tâm họ không bị lòng tham lam đánh bại, người nầy sẽ không đi giết người, không đi trộm cắp, không phạm tội tà dâm, và không nói dối; người nầy cũng khuyên bảo người khác làm giống như họ. Các điều nầy sẽ làm cho họ hạnh phúclợi lạc lâu dài, có đúng không? - "Bạch Thế Tôn, dạ đúng."

 

12. "Nầy các người Kalama, quý vị nghĩ gì? Khi người nào không có lòng sân hận, thì điều nầy có lợi hay là có hại cho họ?" - "Bạch Thế Tôn, có lợi." - "Nầy các người Kalama, khi người nào không có lòng sân hận, tâm họ không bị lòng sân hận tràn ngập, tâm họ không bị lòng sân hận đánh bại, người nầy sẽ không đi giết người, không đi trộm cắp, không phạm tội tà dâm, và không nói dối; người nầy cũng khuyên bảo người khác làm giống như họ. Các điều nầy sẽ làm cho họ hạnh phúclợi lạc lâu dài, có đúng không? - "Bạch Thế Tôn, dạ đúng."

 

13. "Nầy các người Kalama, quý vị nghĩ gì? Khi người nào không có lòng si mê, thì điều nầy có lợi hay là có hại cho họ?" - "Bạch Thế Tôn, có lợi." - "Nầy các người Kalama, khi người nào không có lòng si mê, tâm họ không bị lòng si mê tràn ngập, tâm họ không bị lòng si mê đánh bại, người nầy sẽ không đi giết người, không đi trộm cắp, không phạm tội tà dâm, và không nói dối; người nầy cũng khuyên bảo người khác làm giống như họ. Các điều nầy sẽ làm cho họ hạnh phúclợi lạc lâu dài, có đúng không? - "Bạch Thế Tôn, dạ đúng."

 

14. "Nầy các người Kalama, quý vị nghĩ gì? Những điều (nói trên) nầy tốt hay xấu?" - "Bạch Thế Tôn, dạ tốt." - "Bị chê trách hay không bị chê trách?" - "Bạch Thế Tôn, không bị chê trách." - "Bị lên án hay được khen ngợi bởi người khôn ngoan?" - "Bạch Thế Tôn, được khen ngợi." - "Qua sự thực hiệnquan sát, những điều nầy có dẫn đến hạnh phúclợi lạc không? Hoặc là những điều nầy tưới mát tâm quý vị như thế nào?" - "Qua sự thực hiệnquan sát, những điều nầy dẫn đến hạnh phúclợi lạc. Do đó, những điều nầy tưới mát tâm chúng con tại đây."

 

15. "Nầy các người Kalama, vì thế, chúng ta đã nói, những gì chúng ta đã nói trước đây, 'Hãy đến đây, nầy các người Kalama. Đừng chấp nhận dựa trên những điều sau đây: những gì mình đã được nghe đi nghe lại nhiều lần; hoặc dựa trên truyền thống; hoặc dựa trên tin đồn; hoặc dựa trên kinh sách; hoặc dựa trên sự phỏng đoán; hoặc dựa trên một sự thật đã được chấp nhận; hoặc dựa trên sự xét đoán bề ngoài; hoặc dựa trên một thành kiến (​​về một ý tưởng đã được suy ngẫm); hoặc dựa trên một người xem là có khả năng; hoặc dựa trên 'một nhà sư là thầy của mình'. Nầy các người Kalama, khi chính quý vị hiểu biết điều sau đây: "Những điều nầy là tốt; những điều nầy thì không bị chê trách; những điều nầy được khen ngợi bởi người khôn ngoan; qua sự thực hiệnquan sát, những điều nầy dẫn đến hạnh phúclợi lạc," thì quý vị nên làm và chấp nhận chúng.'

ABSENCE OF GREED, HATE, AND DELUSION

 

11. "What do you think, Kalamas? Does absence of greed appear in a man for his benefit or harm?" — "For his benefit, venerable sir." — "Kalamas, being not given to greed, and being not overwhelmed and not vanquished mentally by greed, this man does not take life, does not steal, does not commit adultery, and does not tell lies; he prompts another too, to do likewise. Will that be long for his benefit and happiness?" — "Yes, venerable sir."

 

12. "What do you think, Kalamas? Does absence of hate appear in a man for his benefit or harm?" — "For his benefit, venerable sir." — "Kalamas, being not given to hate, and being not overwhelmed and not vanquished mentally by hate, this man does not take life, does not steal, does not commit adultery, and does not tell lies; he prompts another too, to do likewise. Will that be long for his benefit and happiness?" — "Yes, venerable sir."

 

13. "What do you think, Kalamas? Does absence of delusion appear in a man for his benefit or harm?" — "For his benefit, venerable sir." — "Kalamas, being not given to delusion, and being not overwhelmed and not vanquished mentally by delusion, this man does not take life, does not steal, does not commit adultery, and does not tell lies; he prompts another too, to do likewise. Will that be long for his benefit and happiness?" — "Yes, venerable sir."

 

14. "What do you think, Kalamas? Are these things good or bad?" — "Good, venerable sir." — "Blamable or not blamable?" — "Not blamable, venerable sir." — "Censured or praised by the wise?" — "Praised, venerable sir." — "Undertaken and observed, do these things lead to benefit and happiness, or not? Or how does it strike you?" — "Undertaken and observed, these things lead to benefit and happiness. Thus it strikes us here."

 

15. "Therefore, did we say, Kalamas, what was said thus, 'Come Kalamas. Do not go upon what has been acquired by repeated hearing; nor upon tradition; nor upon rumor; nor upon what is in a scripture; nor upon surmise; nor upon an axiom; nor upon specious reasoning; nor upon a bias toward a notion that has been pondered over; nor upon another's seeming ability; nor upon the consideration, "The monk is our teacher." Kalamas, when you yourselves know: "These things are good; these things are not blamable; these things are praised by the wise; undertaken and observed, these things lead to benefit and happiness," enter on and abide in them.'


BỐN CÁCH SỐNG HẠNH PHÚC (SỐNG THEO BỐN CÁCH: TỪ BI HỶ XẢ)

 

16. "Nầy các người Kalama, đệ tử của những Bậc Cao Quý sống như sau: người nầy không có sự tham lam, không có sự sân hận, không có sự si mê, họ có sự hiểu biết rõ ràng và có sự tỉnh thức, lòng nhân từ, trong tâm người nầy đang lan rộng khắp nơi, ở phương thứ nhất (trong 4 phương); cũng như thế ở phương thứ hai; cũng như thế ở phương thứ ba; cũng như thế ở phương thứ tư; cũng như thế ở (phương) phía trên, (phương) phía dưới, và (phương) bề ngang; (bởi vì kiếp người trong đó có mọi sinh vật, ở khắp mọi nơi, và sống trên toàn thế giới), lòng nhân từ, trong tâm người nầy đang lan rộng khắp nơi, cùng với lòng hân hoan, rộng lớn, không có giới hạn, không có sự thù hận hay ác ý.

 

"Lòng trắc ẩn và sự cảm thông, trong tâm người nầy đang lan rộng khắp nơi, ở phương thứ nhất; cũng như thế ở phương thứ hai; cũng như thế ở phương thứ ba; cũng như thế ở phương thứ tư; cũng như thế ở phía trên, phía dưới, và bề ngang; (bởi vì kiếp người trong đó có mọi sinh vật, ở khắp mọi nơi, và sống trên toàn thế giới), lòng trắc ẩn và sự cảm thông, trong tâm người nầy đang lan rộng khắp nơi, cùng với lòng hân hoan, rộng lớn, không có giới hạn, không có sự thù hận hay ác ý.

 

"Lòng hoan hỷ, trong tâm người nầy đang lan rộng khắp nơi, ở phương thứ nhất; cũng như thế ở phương thứ hai; cũng như thế ở phương thứ ba; cũng như thế ở phương thứ tư; cũng như thế ở phía trên, phía dưới, và bề ngang; (bởi vì kiếp người trong đó có mọi sinh vật, ở khắp mọi nơi, và sống trên toàn thế giới), lòng hoan hỷ, trong tâm người nầy đang lan rộng khắp nơi, cùng với lòng hân hoan, rộng lớn, không có giới hạn, không có sự thù hận hay ác ý.

 

"Lòng thanh thản và sự bình yên, trong tâm người nầy đang lan rộng khắp nơi, ở phương thứ nhất; cũng như thế ở phương thứ hai; cũng như thế ở phương thứ ba; cũng như thế ở phương thứ tư; cũng như thế ở phía trên, phía dưới, và bề ngang; (bởi vì kiếp người trong đó có mọi sinh vật, ở khắp mọi nơi, và sống trên toàn thế giới), lòng thanh thản và sự bình yên, trong tâm người nầy đang lan rộng khắp nơi, cùng với lòng hân hoan, rộng lớn, không có giới hạn, không có sự thù hận hay ác ý.

THE FOUR EXALTED DWELLINGS

 

16. "The disciple of the Noble Ones, Kalamas, who in this way is devoid of coveting, devoid of ill will, undeluded, clearly comprehending and mindful, dwells, having pervaded, with the thought of amity, one quarter; likewise the second; likewise the third; likewise the fourth; so above, below, and across; he dwells, having pervaded because of the existence in it of all living beings, everywhere, the entire world, with the great, exalted, boundless thought of amity that is free of hate or malice.

 

"He lives, having pervaded, with the thought of compassion, one quarter; likewise the second; likewise the third; likewise the fourth; so above, below, and across; he dwells, having pervaded because of the existence in it of all living beings, everywhere, the entire world, with the great, exalted, boundless thought of compassion that is free of hate or malice.

 

"He lives, having pervaded, with the thought of gladness, one quarter; likewise the second; likewise the third; likewise the fourth; so above, below, and across; he dwells, having pervaded because of the existence in it of all living beings, everywhere, the entire world, with the great, exalted, boundless thought of gladness that is free of hate or malice.

 

"He lives, having pervaded, with the thought of equanimity, one quarter; likewise the second; likewise the third; likewise the fourth; so above, below, and across; he dwells, having pervaded because of the existence in it of all living beings, everywhere, the entire world, with the great, exalted, boundless thought of equanimity that is free of hate or malice.


BỐN NIỀM VUI (NHỜ CÓ NIỀM AN ỦI, VÀ CÓ SỰ HỖ TRỢ)

 

17. "Nầy các người Kalama, đệ tử của những Bậc Cao Quý sống với tâm không có sự tham lam, tâm họ không có sự sân hận, tâm họ không có sự nhơ nhuốc, và tâm họ trong sạch, họ là người tìm thấy bốn niềm vui, ở đây và bây giờ.

 

"'Giả sử vào kiếp sau, khi nhân trổ quả, người nầy phải gánh chịu kết quả của những việc làm thiện hoặc ác. Sau khi chết, khi thân thể họ bắt đầu tan rã, người nầy sẽ sinh lên cõi trời, nghĩa là họ sống trong một trạng thái an lạc.' Đây là niềm vui thứ nhất mà họ tìm thấy.

 

"'Giả sử không có kiếp sau, khi nhân không trổ quả, khi không có kết quả của những việc làm thiện hoặc ác. Tuy nhiên, trong kiếp nầy, ở đây và bây giờ, người nầy sống không có hận thù, sống không có ác ý, người nầy giữ cho mình được an toàn, khỏe mạnh, và hạnh phúc.' Đây là niềm vui thứ nhì mà họ tìm thấy.

 

"'Giả sử kết quả của việc ác xảy ra cho người làm ác. Tuy nhiên, người nầy đã không làm ác với ai cả. Vì thế, kết quả của việc ác không thể ảnh hưởng đến người nầy được, khi họ không có hành động xấu xa:' Đây là niềm vui thứ ba mà họ tìm thấy.

 

"'Giả sử kết quả của việc ác không xảy ra cho người làm ác. Người nầy nhận biết họ trong sạch trong bất cứ trường hợp nào.' Đây là niềm vui thứ tư mà họ tìm thấy.

 

"Nầy các người Kalama, đệ tử của những Bậc Cao Quý sống với tâm không có sự tham lam, tâm họ không có sự sân hận, tâm họ không có sự nhơ nhuốc, và tâm họ trong sạch, họ là người tìm thấy bốn niềm vui, ở đây và bây giờ.

THE FOUR SOLACES

 

17. "The disciple of the Noble Ones, Kalamas, who has such a hate-free mind, such a malice-free mind, such an undefiled mind, and such a purified mind, is one by whom four solaces are found here and now.

 

"'Suppose there is a hereafter and there is a fruit, result, of deeds done well or ill. Then it is possible that at the dissolution of the body after death, I shall arise in the heavenly world, which is possessed of the state of bliss.' This is the first solace found by him.

 

"'Suppose there is no hereafter and there is no fruit, no result, of deeds done well or ill. Yet in this world, here and now, free from hatred, free from malice, safe and sound, and happy, I keep myself.' This is the second solace found by him.

 

"'Suppose evil (results) befall an evil-doer. I, however, think of doing evil to no one. Then, how can ill (results) affect me who do no evil deed?' This is the third solace found by him.

 

"'Suppose evil (results) do not befall an evil-doer. Then I see myself purified in any case.' This is the fourth solace found by him.

 

"The disciple of the Noble Ones, Kalamas, who has such a hate-free mind, such a malice-free mind, such an undefiled mind, and such a purified mind, is one by whom, here and now, these four solaces are found."


(NGƯỜI KALAMA TRẢ LỜI ĐỨC PHẬT QUA NHỮNG ĐOẠN VĂN DƯỚI ĐÂY)


"Câu chuyện là như thế, Bạch Thế Tôn. Câu chuyện là như thế, Bậc Tuyệt Luân. Bạch Thế Tôn, đệ tử của những Bậc Cao Quý sống với tâm không có sự tham lam, tâm họ không có sự sân hận, tâm họ không có sự nhơ nhuốc, và tâm họ trong sạch, họ là người tìm thấy bốn niềm vui, ở đây và bây giờ.

 

"'Giả sử vào kiếp sau, khi nhân trổ quả, người nầy phải gánh chịu kết quả của những việc làm thiện hoặc ác. Sau khi chết, khi thân thể họ bắt đầu tan rã, người nầy sẽ sinh lên cõi trời, nghĩa là họ sống trong một trạng thái an lạc.' Đây là niềm vui thứ nhất mà họ tìm thấy.

 

"'Giả sử không có kiếp sau, khi nhân không trổ quả, khi không có kết quả của những việc làm thiện hoặc ác. Tuy nhiên, trong kiếp nầy, ở đây và bây giờ, người nầy sống không có hận thù, sống không có ác ý, người nầy giữ cho mình được an toàn, khỏe mạnh, và hạnh phúc.' Đây là niềm vui thứ nhì mà họ tìm thấy.

 

"'Giả sử kết quả của việc ác xảy ra cho người làm ác. Tuy nhiên, người nầy đã không làm ác với ai cả. Vì thế, kết quả của việc ác không thể ảnh hưởng đến người nầy được, khi họ không có hành động xấu xa:' Đây là niềm vui thứ ba mà họ tìm thấy.

 

"'Giả sử kết quả của việc ác không xảy ra cho người làm ác. Người nầy nhận biết họ trong sạch trong bất cứ trường hợp nào.' Đây là niềm vui thứ tư mà họ tìm thấy.

 

"Bạch Thế Tôn, đệ tử của những Bậc Cao Quý sống với tâm không có sự tham lam, tâm họ không có sự sân hận, tâm họ không có sự nhơ nhuốc, và tâm họ trong sạch, họ là người tìm thấy bốn niềm vui, ở đây và bây giờ.

 

"Bạch Thế Tôn, kỳ diệu thay! Bạch Thế Tôn, kỳ diệu thay! Bạch Thế Tôn, như thể một người lật những gì bị nằm úp nay được quay mặt lên, hoặc như thể những gì bị che dấu nay được mở ra, hoặc như thể một người đang đi lạc được chỉ đường, hoặc như thể người đi trong đêm tối nay có ngọn đèn, họ có sự suy nghĩ là, 'Những người nào có mắt (nhờ có ngọn đèn), sẽ nhìn thấy những vật gì có thể trông thấy được', cũng như Giáo Pháp đã được giải thích rõ ràngchi tiết qua nhiều cách khác nhau (để dẫn dắt mọi người) bởi Đức Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, chúng con xin quy y Đức Thế Tôn, quy y Pháp, và quy y Tăng Đoàn. Bạch Thế Tôn, xin ngài xem chúng con như là những Phật Tử quy y suốt đời, kể từ ngày hôm nay."

(BELOW ARE THE PARAGRAPHS IN WHICH THE KALAMAS ANSWER THE BUDDHA)

"So it is, Blessed One. So it is, Sublime one. The disciple of the Noble Ones, venerable sir, who has such a hate-free mind, such a malice-free mind, such an undefiled mind, and such a purified mind, is one by whom, here and now, four solaces are found.

 

"'Suppose there is a hereafter and there is a fruit, result, of deeds done well or ill. Then it is possible that at the dissolution of the body after death, I shall arise in the heavenly world, which is possessed of the state of bliss.' This is the first solace found by him.

 

"'Suppose there is no hereafter and there is no fruit, no result, of deeds done well or ill. Yet in this world, here and now, free from hatred, free from malice, safe and sound, and happy, I keep myself.' This is the second solace found by him.

 

"'Suppose evil (results) befall an evil-doer. I, however, think of doing evil to no one. Then, how can ill (results) affect me who do no evil deed?' This is the third solace found by him.

 

"'Suppose evil (results) do not befall an evil-doer. Then I see myself purified in any case.' This is the fourth solace found by him.

 

"The disciple of the Noble Ones, venerable sir, who has such a hate-free mind, such a malice-free mind, such an undefiled mind, and such a purified mind, is one by whom, here and now, these four solaces are found.

 

"Marvelous, venerable sir! Marvelous, venerable sir! As if, venerable sir, a person were to turn face upward what is upside down, or to uncover the concealed, or to point the way to one who is lost or to carry a lamp in the darkness, thinking, 'Those who have eyes will see visible objects,' so has the Dhamma been set forth in many ways by the Blessed One. We, venerable sir, go to the Blessed One for refuge, to the Dhamma for refuge, and to the Community of Bhikkhus for refuge. Venerable sir, may the Blessed One regard us as lay followers who have gone for refuge for life, from today."

 __________________

Kinh Kalama: Lời Phật Dạy Cho Người Kalama
Kalama Sutta: The Instruction To The Kalamas 

1_PDFKinh Kalama - Kalama Sutta

__________________


Xem thêm - See more articles:

Kinh Akkosa: Sự Nhục Mạ - Akkosa Sutta: Insult


_________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Mười Một 2020(Xem: 3888)
22 Tháng Mười 2020(Xem: 9694)
23 Tháng Mười Hai 20209:43 CH(Xem: 4133)
Thiền mà Thầy hướng dẫn có một điều đặc biệt, đó là lý thuyếtthực hành xảy ra cùng một lúc chứ không mất thời gian tập luyện gì cả. Khi nghe pháp thoại mà một người thấy ra được vấn đề một cách rõ ràng thì ngay đó người ấy đã "thiền" rồi, chứ không có gì để mang về áp dụng hay hành theo cả. Thiền mục đích chỉ để thấy ra
22 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 4094)
Các vị Đạt Lai Lạt Ma [trong quá khứ ] đã nhận lãnh trách nhiệm như là những vị lãnh đạo chính trị và tâm linh của Tây Tạng trong suốt 369 năm từ năm 1642 cho đến nay. Giờ đây, bản thân tôi [Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Tenzin Gyatso] đã tình nguyện chấm dứt [việc nhận lãnh trách nhiệm] như trên. Tôi hãnh diệnhài lòng là giờ đây
21 Tháng Mười Hai 202011:35 CH(Xem: 3314)
Con không thể bỏ nhậu được vì do bản thân con không thể bỏ được rượu bia và vì trong công việc, gặp đối tác, bạn bè, người thân thì thường nhậu vài chai bia (trung bình 4-5 lần tháng). Con cảm thấy việc gặp gỡ và uống bia như thế cũng không có gì là tội lỗi và cũng cần thiết cho công việc và duy trì mối quan hệ xã hội. Nhưng sau một thời gian
20 Tháng Mười Hai 202011:53 CH(Xem: 3595)
Những kẻ đang gieo nhân cướp của giết người và những người đang chịu quả khổ báo đều là "các chúng sanh nhân vì trước kia chứa nhóm các nhiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ" thì đã có Bồ-Tát Phổ Hiền đại từ, đại bi, đại nhẫn, đại xả... chịu thay hết rồi, con đừng có dại mà đem cái tình hữu hạn của con vào giải quyết giùm họ
15 Tháng Mười Hai 202010:03 CH(Xem: 3737)
Phật giáo giảng rằng mọi vật thể và mọi biến cố, tức mọi hiện tượng trong thế giới này là « ảo giác », « bản thể tối hậu » của chúng chỉ là « trống không ». Bản chất của tất cả những gì xảy ra chung quanh ta, trong đó kể cả bản thântâm thức của ta nữa, đều « không thật », tức « không hàm chứa bất cứ một sự hiện hữu tự tại
14 Tháng Mười Hai 202010:57 CH(Xem: 3346)
Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, và chỉ còn lại Đạo Pháp được lưu truyền cho đến ngày nay. Thế nhưng Đạo Pháp thì lại vô cùng sâu sắc, đa dạng và khúc triết, đấy là chưa kể đến các sự biến dạngthêm thắt trên mặt giáo lý cũng như các phép tu tập đã được "sáng chế" thêm để thích nghi với thời đại, bản tính
13 Tháng Mười Hai 202011:25 CH(Xem: 3802)
Vipassana có thể được dịch là “Tuệ”, một sự tỉnh giác sáng suốt về những gì xuất hiện đúng như chính chúng xuất hiện. Samatha có thể được dịch là “Định” (sự “tập trung”, quán; hay sự “tĩnh lặng”, tịnh, chỉ). Đây là một trạng thái mà tâm được đưa vào sự ngưng nghỉ, chỉ hội tụ duy nhất vào một chủ đề, không được phép lang thang.
12 Tháng Mười Hai 202010:58 CH(Xem: 3582)
Thầy đã từng nói "dù sự cố gì trên đời đến với mình đều có lợi, không có hại" và đều có nhân duyên hợp tình hợp lý của nó. Vì mình nghĩ theo hướng khác nên mới có cảm giác như những sự cố đó nghịch lại với mình thôi. Sở dĩ như vậy vì mọi sự đều do duyên nghiệp chính mình đã tạo ra trong quá khứ, nay đương nhiên phải gặt quả.
10 Tháng Mười Hai 202011:10 CH(Xem: 3878)
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn. Nếu không thì chúng ta sẽ luôn sống trong ảo tưởngniềm tin mơ hồ về những cái không thậtcoi thường việc phát triển các giá trị tinh thần cho đến khi quá trễ. Có một câu chuyện ngụ ngôn về tâm lý này của con người
08 Tháng Mười Hai 202011:04 CH(Xem: 3785)
Con nói đúng, nếu về quê con sẽ có một cuộc sống tương đối bình yên, ít phiền não, ít va chạm, nhưng chưa chắc thế đã là tốt cho sự tu tập của mình. Môi trường nào giúp mình rèn luyện được các đức tính, các phẩm chất Tín Tấn Niệm Định Tuệ, các ba la mật cần thiết cho sự giác ngộ, môi trường ấy là môi trường lý tưởng để tu tập.
06 Tháng Mười Hai 20208:18 CH(Xem: 3743)
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ? Câu trả lời: Chắc là không. Nếu bạn sẵn lòng suy nghĩ về đề tài này, có thể bạn thà chết ở nhà với người thân bên cạnh. Bạn muốn được ra đi mà không phải đau đớn. Muốn còn nói năng được
05 Tháng Mười Hai 202011:21 CH(Xem: 4315)
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 3636)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 3469)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 3190)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 3413)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 3357)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 3378)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 3631)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 3153)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 4288)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 5903)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 7834)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 4154)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 4088)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 3653)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 3888)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 9694)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 3230)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 3338)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 6253)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 5567)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng