Kinh Kalama: Lời Phật Dạy Cho Người Kalama - Kalama Sutta: The Instruction To The Kalamas

06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 916)
Kinh Kalama: Lời Phật Dạy Cho Người Kalama - Kalama Sutta: The Instruction To The Kalamas

TCPG_2B

 

Kinh Kalama: Lời Phật Dạy Cho Người Kalama
Kalama Sutta: The Instruction To The Kalamas
 
Translated from the Pali by Soma Thera - Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến
Source-Nguồn: accesstoinsight.org


__________________

Kinh Kalama: Lời Phật Dạy Cho Người Kalama - Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến

Kalama Sutta: The Instruction To The Kalamas - Translated from the Pali by Soma Thera


NGƯỜI KALAMA Ở KESAPUTTA ĐẾN NGHE ĐỨC PHẬT GIẢNG DẠY

 

1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca), trong chuyến đi hoằng pháp ở nước Kosala, ngài đã đến tỉnh nhỏ Kesaputta. Sự nổi tiếng của Đức Thế Tôn đã được lan rộng ra bằng cách sau đây: Đức Thế Tôn quả thật là một bậc toàn thiện, ngài là bậc hoàn toàn giác ngộ, ngài có đầy đủ kiến thức và sự thực hành, ngài tuyệt luân, ngài thấu hiểu về các thế giới, không ai so sánh với ngài được, ngài chuyển hóa con người hướng thiện, ngài là bậc thầy của trời và người, tự ngài có sự hiểu biết rõ ràng qua các trải nghiệm trực tiếp. Đức Thế Tôn đặt ra Giáo Pháp, tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, Giáo Pháp nầy có ngôn từ và thông điệp đầy ý nghĩa, và tất cả đều hoàn hảo; ngài sống một cuộc đời hoàn toàn trong sạch, và cao quý. Chúng ta gặp được những bậc toàn thiện như vậy, quả thật là một điều tốt đẹp. 

 

2. Người Kamala là các cư dân ở Kesaputta, sau đó họ đã đi đến nơi cư trú của Đức Thế Tôn. Khi đến nơi, một số người tỏ lòng tôn kính (đảnh lễ) ngài, rồi ngồi qua một bên; một số người trao đổi lời thăm hỏi ngài, và sau khi kết thúc cuộc nói chuyện thân thiện đáng nhớ, họ ngồi qua một bên; một số người chắp tay đảnh lễ ngài, rồi họ ngồi qua một bên; một số người cho ngài biết tên và gia đình của họ, rồi họ ngồi qua một bên; một số người không nói gì cả, rồi họ ngồi qua một bên.

THE KALAMAS OF KESAPUTTA GO TO SEE THE BUDDHA

 

1. I heard thus. Once the Blessed One, while wandering in the Kosala country with a large community of bhikkhus, entered a town of the Kalama people called Kesaputta. The Kalamas who were inhabitants of Kesaputta: "Reverend Gotama, the monk, the son of the Sakyans, has, while wandering in the Kosala country, entered Kesaputta. The good repute of the Reverend Gotama has been spread in this way: Indeed, the Blessed One is thus consummate, fully enlightened, endowed with knowledge and practice, sublime, knower of the worlds, peerless, guide of tamable men, teacher of divine and human beings, which he by himself has through direct knowledge understood clearly. He set forth the Dhamma, good in the beginning, good in the middle, good in the end, possessed of meaning and the letter, and complete in everything; and he proclaims the holy life that is perfectly pure. Seeing such consummate ones is good indeed."

 

2. Then the Kalamas who were inhabitants of Kesaputta went to where the Blessed One was. On arriving there some paid homage to him and sat down on one side; some exchanged greetings with him and after the ending of cordial memorable talk, sat down on one side; some saluted him raising their joined palms and sat down on one side; some announced their name and family and sat down on one side; some without speaking, sat down on one side.


NGƯỜI KALAMA Ở KESAPUTTA XIN ĐỨC PHẬT GIẢNG DẠY

 

3. Người Kamala là các cư dân ở Kesaputta, ngồi một bên thưa với Đức Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, có một số nhà sư và Bà La Môn, đến thăm Kesaputta. Họ chỉ giới thiệu, trình bày, và giải thích những giáo lý của họ; còn những giáo lý của người khác thì bị họ khinh thường, chửi rủa, và chỉ trích thậm tệ. Bạch Thế Tôn, cũng có một số nhà sư và Bà La Môn khác, họ đến thăm Kesaputta. Họ cũng chỉ giới thiệu, trình bày, và giải thích những giáo lý của họ; còn những giáo lý của người khác thì bị họ khinh thường, chửi rủa, và chỉ trích thậm tệ. Bạch Thế Tôn, chúng con có sự nghi ngờ, có sự không chắc chắn liên quan đến những vị nầy. Các nhà sư và Bà La Môn nầy, ai nói thật và ai nói dối đây?"

THE KALAMAS OF KESAPUTTA ASK FOR GUIDANCE FROM THE BUDDHA

 

3. The Kalamas who were inhabitants of Kesaputta sitting on one side said to the Blessed One: "There are some monks and brahmans, venerable sir, who visit Kesaputta. They expound and explain only their own doctrines; the doctrines of others they despise, revile, and pull to pieces. Some other monks and brahmans too, venerable sir, come to Kesaputta. They also expound and explain only their own doctrines; the doctrines of others they despise, revile, and pull to pieces. Venerable sir, there is doubt, there is uncertainty in us concerning them. Which of these reverend monks and brahmans spoke the truth and which falsehood?"


TIÊU CHUẨN ĐỂ BÁC BỎ (ĐỂ KHÔNG XỬ DỤNG)    

 

4. "Nầy các người Kalama, đấy là chuyện đúng đắn khi quý vị có sự nghi ngờ, có sự không chắc chắn; sự không chắc chắn đã nẩy sinh khi tâm quý vị cảm nhận có điều gì đáng nghi ngờ. Hãy đến đây, nầy các người Kalama. Đừng chấp nhận dựa trên những điều sau đây: những gì mình đã được nghe đi nghe lại nhiều lần; hoặc dựa trên truyền thống; hoặc dựa trên tin đồn; hoặc dựa trên kinh sách; hoặc dựa trên sự phỏng đoán; hoặc dựa trên một sự thật đã được chấp nhận; hoặc dựa trên sự xét đoán bề ngoài; hoặc dựa trên một thành kiến (​​về một ý tưởng đã được suy ngẫm); hoặc dựa trên một người xem là có khả năng; hoặc dựa trên 'một nhà sư là thầy của mình'. Nầy các người Kalama, khi chính quý vị hiểu biết điều sau đây: 'Những điều nầy là xấu; những điều nầy thì bị chê trách; những điều nầy bị lên án bởi người khôn ngoan; qua sự thực hiện và quan sát, những điều nầy dẫn đến sự đau khổ và bệnh hoạn,' thì quý vị nên bác bỏ chúng.

THE CRITERION FOR REJECTION

 

4. "It is proper for you, Kalamas, to doubt, to be uncertain; uncertainty has arisen in you about what is doubtful. Come, Kalamas. Do not go upon what has been acquired by repeated hearing; nor upon tradition; nor upon rumor; nor upon what is in a scripture; nor upon surmise; nor upon an axiom; nor upon specious reasoning; nor upon a bias toward a notion that has been pondered over; nor upon another's seeming ability; nor upon the consideration, 'The monk is our teacher.' Kalamas, when you yourselves know: 'These things are bad; these things are blamable; these things are censured by the wise; undertaken and observed, these things lead to harm and ill,' abandon them.


THAM LAM, SÂN HẬN VÀ SI MÊ (THAM SÂN SI)

 

5. "Nầy các người Kalama, quý vị nghĩ gì? Khi người nào có lòng tham lam, thì điều nầy có lợi hay là có hại cho họ?" - "Bạch Thế Tôn, có hại." - "Nầy các người Kalama, khi người nào có lòng tham lam, tâm họ bị lòng tham lam tràn ngập, tâm họ bị lòng tham lam đánh bại, người nầy sẽ đi giết người, đi trộm cắp, phạm tội tà dâm, và nói dối; người nầy cũng xúi giục người khác làm giống như họ. Các điều nầy sẽ làm cho họ đau khổ và bệnh hoạn lâu dài, có đúng không? - "Bạch Thế Tôn, dạ đúng."

 

6. "Nầy các người Kalama, quý vị nghĩ gì? Khi người nào có lòng sân hận, thì điều nầy có lợi hay là có hại cho họ?" - "Bạch Thế Tôn, có hại." - "Nầy các người Kalama, khi người nào có lòng sân hận, tâm họ bị lòng sân hận tràn ngập, tâm họ bị lòng sân hận đánh bại, người nầy sẽ đi giết người, đi trộm cắp, phạm tội tà dâm, và nói dối; người nầy cũng xúi giục người khác làm giống như họ. Các điều nầy sẽ làm cho họ đau khổ và bệnh hoạn lâu dài, có đúng không? - "Bạch Thế Tôn, dạ đúng."

 

7. "Nầy các người Kalama, quý vị nghĩ gì? Khi người nào có lòng si mê, thì điều nầy có lợi hay là có hại cho họ?" - "Bạch Thế Tôn, có hại." - "Nầy các người Kalama, khi người nào có lòng si mê, tâm họ bị lòng si mê tràn ngập, tâm họ bị lòng si mê đánh bại, người nầy sẽ đi giết người, đi trộm cắp, phạm tội tà dâm, và nói dối; người nầy cũng xúi giục người khác làm giống như họ. Các điều nầy sẽ làm cho họ đau khổ và bệnh hoạn lâu dài, có đúng không? - "Bạch Thế Tôn, dạ đúng."

 

8. "Nầy các người Kalama, quý vị nghĩ gì? Những điều nầy tốt hay xấu?" - "Bạch Thế Tôn, dạ xấu." - "Bị chê trách hay không bị chê trách?" - "Bạch Thế Tôn, bị chê trách." - "Bị lên án hay được khen ngợi bởi người khôn ngoan?" - "Bạch Thế Tôn, bị lên án." - "Qua sự thực hiện và quan sát, những điều nầy có dẫn đến đau khổ và bệnh hoạn không? Hoặc là những điều nầy đốt cháy tâm quý vị như thế nào?" - "Qua sự thực hiện và quan sát, những điều nầy dẫn đến đau khổ và bệnh hoạn. Do đó, những điều nầy đốt cháy tâm chúng con tại đây."

 

9. "Nầy các người Kalama, vì thế, chúng ta đã nói, những gì chúng ta đã nói trước đây, 'Hãy đến đây, nầy các người Kalama. Đừng chấp nhận dựa trên những điều sau đây: những gì mình đã được nghe đi nghe lại nhiều lần; hoặc dựa trên truyền thống; hoặc dựa trên tin đồn; hoặc dựa trên kinh sách; hoặc dựa trên sự phỏng đoán; hoặc dựa trên một sự thật đã được chấp nhận; hoặc dựa trên sự xét đoán bề ngoài; hoặc dựa trên một thành kiến (​​về một ý tưởng đã được suy ngẫm); hoặc dựa trên một người xem là có khả năng; hoặc dựa trên 'một nhà sư là thầy của mình'. Nầy các người Kalama, khi chính quý vị hiểu biết điều sau đây: "Những điều nầy là xấu; những điều nầy thì bị chê trách; những điều nầy bị lên án bởi người khôn ngoan; qua sự thực hiện và quan sát, những điều nầy dẫn đến sự đau khổ và bệnh hoạn," thì quý vị nên bác bỏ chúng.'

GREED, HATE, AND DELUSION

 

5. "What do you think, Kalamas? Does greed appear in a man for his benefit or harm?" — "For his harm, venerable sir." — "Kalamas, being given to greed, and being overwhelmed and vanquished mentally by greed, this man takes life, steals, commits adultery, and tells lies; he prompts another too, to do likewise. Will that be long for his harm and ill?" — "Yes, venerable sir."

 

6. "What do you think, Kalamas? Does hate appear in a man for his benefit or harm?" — "For his harm, venerable sir." — "Kalamas, being given to hate, and being overwhelmed and vanquished mentally by hate, this man takes life, steals, commits adultery, and tells lies; he prompts another too, to do likewise. Will that be long for his harm and ill?" — "Yes, venerable sir."

 

7. "What do you think, Kalamas? Does delusion appear in a man for his benefit or harm?" — "For his harm, venerable sir." — "Kalamas, being given to delusion, and being overwhelmed and vanquished mentally by delusion, this man takes life, steals, commits adultery, and tells lies; he prompts another too, to do likewise. Will that be long for his harm and ill?" — "Yes, venerable sir."

 

8. "What do you think, Kalamas? Are these things good or bad?" — "Bad, venerable sir" — "Blamable or not blamable?" — "Blamable, venerable sir." — "Censured or praised by the wise?" — "Censured, venerable sir." — "Undertaken and observed, do these things lead to harm and ill, or not? Or how does it strike you?" — "Undertaken and observed, these things lead to harm and ill. Thus it strikes us here."

 

9. "Therefore, did we say, Kalamas, what was said thus, 'Come Kalamas. Do not go upon what has been acquired by repeated hearing; nor upon tradition; nor upon rumor; nor upon what is in a scripture; nor upon surmise; nor upon an axiom; nor upon specious reasoning; nor upon a bias toward a notion that has been pondered over; nor upon another's seeming ability; nor upon the consideration, "The monk is our teacher." Kalamas, when you yourselves know: "These things are bad; these things are blamable; these things are censured by the wise; undertaken and observed, these things lead to harm and ill," abandon them.'

 

TIÊU CHUẨN ĐỂ CHẤP NHẬN (ĐỂ XỬ DỤNG)

 

10. "Hãy đến đây, nầy các người Kalama. Đừng chấp nhận dựa trên những điều sau đây: những gì mình đã được nghe đi nghe lại nhiều lần; hoặc dựa trên truyền thống; hoặc dựa trên tin đồn; hoặc dựa trên kinh sách; hoặc dựa trên sự phỏng đoán; hoặc dựa trên một sự thật đã được chấp nhận; hoặc dựa trên sự xét đoán bề ngoài; hoặc dựa trên một thành kiến (​​về một ý tưởng đã được suy ngẫm); hoặc dựa trên một người xem là có khả năng; hoặc dựa trên 'một nhà sư là thầy của mình'. Nầy các người Kalama, khi chính quý vị hiểu biết điều sau đây: 'Những điều nầy là tốt; những điều nầy thì không bị chê trách; những điều nầy được khen ngợi bởi người khôn ngoan; qua sự thực hiện và quan sát, những điều nầy dẫn đến sự hạnh phúc và lợi lạc,' thì quý vị nên làm và chấp nhận chúng.

THE CRITERION FOR ACCEPTANCE

 

10. "Come, Kalamas. Do not go upon what has been acquired by repeated hearing; nor upon tradition; nor upon rumor; nor upon what is in a scripture; nor upon surmise; nor upon an axiom; nor upon specious reasoning; nor upon a bias toward a notion that has been pondered over; nor upon another's seeming ability; nor upon the consideration, 'The monk is our teacher.' Kalamas, when you yourselves know: 'These things are good; these things are not blamable; these things are praised by the wise; undertaken and observed, these things lead to benefit and happiness,' enter on and abide in them.


KHÔNG THAM LAM, KHÔNG SÂN HẬN VÀ KHÔNG SI MÊ (KHÔNG THAM SÂN SI)

 

11. "Nầy các người Kalama, quý vị nghĩ gì? Khi người nào không có lòng tham lam, thì điều nầy có lợi hay là có hại cho họ?" - "Bạch Thế Tôn, có lợi." - "Nầy các người Kalama, khi người nào không có lòng tham lam, tâm họ không bị lòng tham lam tràn ngập, tâm họ không bị lòng tham lam đánh bại, người nầy sẽ không đi giết người, không đi trộm cắp, không phạm tội tà dâm, và không nói dối; người nầy cũng khuyên bảo người khác làm giống như họ. Các điều nầy sẽ làm cho họ hạnh phúc và lợi lạc lâu dài, có đúng không? - "Bạch Thế Tôn, dạ đúng."

 

12. "Nầy các người Kalama, quý vị nghĩ gì? Khi người nào không có lòng sân hận, thì điều nầy có lợi hay là có hại cho họ?" - "Bạch Thế Tôn, có lợi." - "Nầy các người Kalama, khi người nào không có lòng sân hận, tâm họ không bị lòng sân hận tràn ngập, tâm họ không bị lòng sân hận đánh bại, người nầy sẽ không đi giết người, không đi trộm cắp, không phạm tội tà dâm, và không nói dối; người nầy cũng khuyên bảo người khác làm giống như họ. Các điều nầy sẽ làm cho họ hạnh phúc và lợi lạc lâu dài, có đúng không? - "Bạch Thế Tôn, dạ đúng."

 

13. "Nầy các người Kalama, quý vị nghĩ gì? Khi người nào không có lòng si mê, thì điều nầy có lợi hay là có hại cho họ?" - "Bạch Thế Tôn, có lợi." - "Nầy các người Kalama, khi người nào không có lòng si mê, tâm họ không bị lòng si mê tràn ngập, tâm họ không bị lòng si mê đánh bại, người nầy sẽ không đi giết người, không đi trộm cắp, không phạm tội tà dâm, và không nói dối; người nầy cũng khuyên bảo người khác làm giống như họ. Các điều nầy sẽ làm cho họ hạnh phúc và lợi lạc lâu dài, có đúng không? - "Bạch Thế Tôn, dạ đúng."

 

14. "Nầy các người Kalama, quý vị nghĩ gì? Những điều nầy tốt hay xấu?" - "Bạch Thế Tôn, dạ tốt." - "Bị chê trách hay không bị chê trách?" - "Bạch Thế Tôn, không bị chê trách." - "Bị lên án hay được khen ngợi bởi người khôn ngoan?" - "Bạch Thế Tôn, được khen ngợi." - "Qua sự thực hiện và quan sát, những điều nầy có dẫn đến hạnh phúc và lợi lạc không? Hoặc là những điều nầy tưới mát tâm quý vị như thế nào?" - "Qua sự thực hiện và quan sát, những điều nầy dẫn đến hạnh phúc và lợi lạc. Do đó, những điều nầy tưới mát tâm chúng con tại đây."

 

15. "Nầy các người Kalama, vì thế, chúng ta đã nói, những gì chúng ta đã nói trước đây, 'Hãy đến đây, nầy các người Kalama. Đừng chấp nhận dựa trên những điều sau đây: những gì mình đã được nghe đi nghe lại nhiều lần; hoặc dựa trên truyền thống; hoặc dựa trên tin đồn; hoặc dựa trên kinh sách; hoặc dựa trên sự phỏng đoán; hoặc dựa trên một sự thật đã được chấp nhận; hoặc dựa trên sự xét đoán bề ngoài; hoặc dựa trên một thành kiến (​​về một ý tưởng đã được suy ngẫm); hoặc dựa trên một người xem là có khả năng; hoặc dựa trên 'một nhà sư là thầy của mình'. Nầy các người Kalama, khi chính quý vị hiểu biết điều sau đây: "Những điều nầy là tốt; những điều nầy thì không bị chê trách; những điều nầy được khen ngợi bởi người khôn ngoan; qua sự thực hiện và quan sát, những điều nầy dẫn đến hạnh phúc và lợi lạc," thì quý vị nên làm và chấp nhận chúng.'

ABSENCE OF GREED, HATE, AND DELUSION

 

11. "What do you think, Kalamas? Does absence of greed appear in a man for his benefit or harm?" — "For his benefit, venerable sir." — "Kalamas, being not given to greed, and being not overwhelmed and not vanquished mentally by greed, this man does not take life, does not steal, does not commit adultery, and does not tell lies; he prompts another too, to do likewise. Will that be long for his benefit and happiness?" — "Yes, venerable sir."

 

12. "What do you think, Kalamas? Does absence of hate appear in a man for his benefit or harm?" — "For his benefit, venerable sir." — "Kalamas, being not given to hate, and being not overwhelmed and not vanquished mentally by hate, this man does not take life, does not steal, does not commit adultery, and does not tell lies; he prompts another too, to do likewise. Will that be long for his benefit and happiness?" — "Yes, venerable sir."

 

13. "What do you think, Kalamas? Does absence of delusion appear in a man for his benefit or harm?" — "For his benefit, venerable sir." — "Kalamas, being not given to delusion, and being not overwhelmed and not vanquished mentally by delusion, this man does not take life, does not steal, does not commit adultery, and does not tell lies; he prompts another too, to do likewise. Will that be long for his benefit and happiness?" — "Yes, venerable sir."

 

14. "What do you think, Kalamas? Are these things good or bad?" — "Good, venerable sir." — "Blamable or not blamable?" — "Not blamable, venerable sir." — "Censured or praised by the wise?" — "Praised, venerable sir." — "Undertaken and observed, do these things lead to benefit and happiness, or not? Or how does it strike you?" — "Undertaken and observed, these things lead to benefit and happiness. Thus it strikes us here."

 

15. "Therefore, did we say, Kalamas, what was said thus, 'Come Kalamas. Do not go upon what has been acquired by repeated hearing; nor upon tradition; nor upon rumor; nor upon what is in a scripture; nor upon surmise; nor upon an axiom; nor upon specious reasoning; nor upon a bias toward a notion that has been pondered over; nor upon another's seeming ability; nor upon the consideration, "The monk is our teacher." Kalamas, when you yourselves know: "These things are good; these things are not blamable; these things are praised by the wise; undertaken and observed, these things lead to benefit and happiness," enter on and abide in them.'


BỐN CÁCH SỐNG HẠNH PHÚC (SỐNG THEO BỐN CÁCH: TỪ BI HỶ XẢ)

 

16. "Nầy các người Kalama, đệ tử của những Bậc Cao Quý sống như sau: người nầy không có sự tham lam, không có sự sân hận, không có sự si mê, họ có sự hiểu biết rõ ràng và có sự tỉnh thức, lòng nhân từ, trong tâm người nầy đang lan rộng khắp nơi, ở phương thứ nhất (trong 4 phương); cũng như thế ở phương thứ hai; cũng như thế ở phương thứ ba; cũng như thế ở phương thứ tư; cũng như thế ở (phương) phía trên, (phương) phía dưới, và (phương) bề ngang; (bởi vì kiếp người trong đó có mọi sinh vật, ở khắp mọi nơi, và sống trên toàn thế giới), lòng nhân từ, trong tâm người nầy đang lan rộng khắp nơi, cùng với lòng hân hoan, rộng lớn, không có giới hạn, không có sự thù hận hay ác ý.

 

"Lòng trắc ẩn và sự cảm thông, trong tâm người nầy đang lan rộng khắp nơi, ở phương thứ nhất; cũng như thế ở phương thứ hai; cũng như thế ở phương thứ ba; cũng như thế ở phương thứ tư; cũng như thế ở phía trên, phía dưới, và bề ngang; (bởi vì kiếp người trong đó có mọi sinh vật, ở khắp mọi nơi, và sống trên toàn thế giới), lòng trắc ẩn và sự cảm thông, trong tâm người nầy đang lan rộng khắp nơi, cùng với lòng hân hoan, rộng lớn, không có giới hạn, không có sự thù hận hay ác ý.

 

"Lòng hoan hỷ, trong tâm người nầy đang lan rộng khắp nơi, ở phương thứ nhất; cũng như thế ở phương thứ hai; cũng như thế ở phương thứ ba; cũng như thế ở phương thứ tư; cũng như thế ở phía trên, phía dưới, và bề ngang; (bởi vì kiếp người trong đó có mọi sinh vật, ở khắp mọi nơi, và sống trên toàn thế giới), lòng hoan hỷ, trong tâm người nầy đang lan rộng khắp nơi, cùng với lòng hân hoan, rộng lớn, không có giới hạn, không có sự thù hận hay ác ý.

 

"Lòng thanh thản và sự bình yên, trong tâm người nầy đang lan rộng khắp nơi, ở phương thứ nhất; cũng như thế ở phương thứ hai; cũng như thế ở phương thứ ba; cũng như thế ở phương thứ tư; cũng như thế ở phía trên, phía dưới, và bề ngang; (bởi vì kiếp người trong đó có mọi sinh vật, ở khắp mọi nơi, và sống trên toàn thế giới), lòng thanh thản và sự bình yên, trong tâm người nầy đang lan rộng khắp nơi, cùng với lòng hân hoan, rộng lớn, không có giới hạn, không có sự thù hận hay ác ý.

THE FOUR EXALTED DWELLINGS

 

16. "The disciple of the Noble Ones, Kalamas, who in this way is devoid of coveting, devoid of ill will, undeluded, clearly comprehending and mindful, dwells, having pervaded, with the thought of amity, one quarter; likewise the second; likewise the third; likewise the fourth; so above, below, and across; he dwells, having pervaded because of the existence in it of all living beings, everywhere, the entire world, with the great, exalted, boundless thought of amity that is free of hate or malice.

 

"He lives, having pervaded, with the thought of compassion, one quarter; likewise the second; likewise the third; likewise the fourth; so above, below, and across; he dwells, having pervaded because of the existence in it of all living beings, everywhere, the entire world, with the great, exalted, boundless thought of compassion that is free of hate or malice.

 

"He lives, having pervaded, with the thought of gladness, one quarter; likewise the second; likewise the third; likewise the fourth; so above, below, and across; he dwells, having pervaded because of the existence in it of all living beings, everywhere, the entire world, with the great, exalted, boundless thought of gladness that is free of hate or malice.

 

"He lives, having pervaded, with the thought of equanimity, one quarter; likewise the second; likewise the third; likewise the fourth; so above, below, and across; he dwells, having pervaded because of the existence in it of all living beings, everywhere, the entire world, with the great, exalted, boundless thought of equanimity that is free of hate or malice.


BỐN NIỀM VUI (NHỜ CÓ NIỀM AN ỦI, VÀ CÓ SỰ HỖ TRỢ)

 

17. "Nầy các người Kalama, đệ tử của những Bậc Cao Quý sống với tâm không có sự tham lam, tâm họ không có sự sân hận, tâm họ không có sự nhơ nhuốc, và tâm họ trong sạch, họ là người tìm thấy bốn niềm vui, ở đây và bây giờ.

 

"'Giả sử vào kiếp sau, khi nhân trổ quả, người nầy phải gánh chịu kết quả của những việc làm thiện hoặc ác. Sau khi chết, khi thân thể họ bắt đầu tan rã, người nầy sẽ sinh vào cõi trời, nghĩa là họ sống trong một trạng thái an lạc.' Đây là niềm vui thứ nhất mà họ tìm thấy.

 

"'Giả sử không có kiếp sau, khi nhân không trổ quả, khi không có kết quả của những việc làm thiện hoặc ác. Tuy nhiên, trong kiếp nầy, ở đây và bây giờ, người nầy sống không có hận thù, sống không có ác ý, người nầy giữ cho mình được an toàn, khỏe mạnh, và hạnh phúc.' Đây là niềm vui thứ nhì mà họ tìm thấy.

 

"'Giả sử kết quả của việc ác xảy ra cho người làm ác. Tuy nhiên, người nầy đã không làm ác với ai cả. Vì thế, kết quả của việc ác không thể ảnh hưởng đến người nầy được, khi họ không có hành động xấu xa:' Đây là niềm vui thứ ba mà họ tìm thấy.

 

"'Giả sử kết quả của việc ác không xảy ra cho người làm ác. Người nầy nhận biết họ trong sạch trong bất cứ trường hợp nào.' Đây là niềm vui thứ tư mà họ tìm thấy.

 

"Nầy các người Kalama, đệ tử của những Bậc Cao Quý sống với tâm không có sự tham lam, tâm họ không có sự sân hận, tâm họ không có sự nhơ nhuốc, và tâm họ trong sạch, họ là người tìm thấy bốn niềm vui, ở đây và bây giờ.

THE FOUR SOLACES

 

17. "The disciple of the Noble Ones, Kalamas, who has such a hate-free mind, such a malice-free mind, such an undefiled mind, and such a purified mind, is one by whom four solaces are found here and now.

 

"'Suppose there is a hereafter and there is a fruit, result, of deeds done well or ill. Then it is possible that at the dissolution of the body after death, I shall arise in the heavenly world, which is possessed of the state of bliss.' This is the first solace found by him.

 

"'Suppose there is no hereafter and there is no fruit, no result, of deeds done well or ill. Yet in this world, here and now, free from hatred, free from malice, safe and sound, and happy, I keep myself.' This is the second solace found by him.

 

"'Suppose evil (results) befall an evil-doer. I, however, think of doing evil to no one. Then, how can ill (results) affect me who do no evil deed?' This is the third solace found by him.

 

"'Suppose evil (results) do not befall an evil-doer. Then I see myself purified in any case.' This is the fourth solace found by him.

 

"The disciple of the Noble Ones, Kalamas, who has such a hate-free mind, such a malice-free mind, such an undefiled mind, and such a purified mind, is one by whom, here and now, these four solaces are found."


(NGƯỜI KALAMA TRẢ LỜI ĐỨC PHẬT QUA NHỮNG ĐOẠN VĂN DƯỚI ĐÂY: - NGUYỄN VĂN TIẾN)


"Câu chuyện là như thế, Bạch Thế Tôn. Câu chuyện là như thế, Bậc Tuyệt Luân. Bạch Thế Tôn, đệ tử của những Bậc Cao Quý sống với tâm không có sự tham lam, tâm họ không có sự sân hận, tâm họ không có sự nhơ nhuốc, và tâm họ trong sạch, họ là người tìm thấy bốn niềm vui, ở đây và bây giờ.

 

"'Giả sử vào kiếp sau, khi nhân trổ quả, người nầy phải gánh chịu kết quả của những việc làm thiện hoặc ác. Sau khi chết, khi thân thể họ bắt đầu tan rã, người nầy sẽ sinh vào cõi trời, nghĩa là họ sống trong một trạng thái an lạc.' Đây là niềm vui thứ nhất mà họ tìm thấy.

 

"'Giả sử không có kiếp sau, khi nhân không trổ quả, khi không có kết quả của những việc làm thiện hoặc ác. Tuy nhiên, trong kiếp nầy, ở đây và bây giờ, người nầy sống không có hận thù, sống không có ác ý, người nầy giữ cho mình được an toàn, khỏe mạnh, và hạnh phúc.' Đây là niềm vui thứ nhì mà họ tìm thấy.

 

"'Giả sử kết quả của việc ác xảy ra cho người làm ác. Tuy nhiên, người nầy đã không làm ác với ai cả. Vì thế, kết quả của việc ác không thể ảnh hưởng đến người nầy được, khi họ không có hành động xấu xa:' Đây là niềm vui thứ ba mà họ tìm thấy.

 

"'Giả sử kết quả của việc ác không xảy ra cho người làm ác. Người nầy nhận biết họ trong sạch trong bất cứ trường hợp nào.' Đây là niềm vui thứ tư mà họ tìm thấy.

 

"Bạch Thế Tôn, đệ tử của những Bậc Cao Quý sống với tâm không có sự tham lam, tâm họ không có sự sân hận, tâm họ không có sự nhơ nhuốc, và tâm họ trong sạch, họ là người tìm thấy bốn niềm vui, ở đây và bây giờ.

 

"Bạch Thế Tôn, kỳ diệu thay! Bạch Thế Tôn, kỳ diệu thay! Bạch Thế Tôn, như thể một người lật những gì bị nằm úp nay được quay mặt lên, hoặc như thể những gì bị che dấu nay được mở ra, hoặc như thể một người đang đi lạc được chỉ đường, hoặc như thể người đi trong đêm tối nay có ngọn đèn, họ có sự suy nghĩ là, 'Những người nào có mắt (nhờ có ngọn đèn), sẽ nhìn thấy những vật gì có thể trông thấy được', cũng như Giáo Pháp đã được giải thích rõ ràng và chi tiết qua nhiều cách khác nhau (để dẫn dắt mọi người) bởi Đức Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, chúng con xin quy y Đức Thế Tôn, quy y Pháp, và quy y Tăng Đoàn. Bạch Thế Tôn, xin ngài xem chúng con như là những Phật Tử quy y suốt đời, kể từ ngày hôm nay."

(BELOW ARE THE PARAGRAPHS IN WHICH THE KALAMAS ANSWER THE BUDDHA: - NGUYỄN VĂN TIẾN)

"So it is, Blessed One. So it is, Sublime one. The disciple of the Noble Ones, venerable sir, who has such a hate-free mind, such a malice-free mind, such an undefiled mind, and such a purified mind, is one by whom, here and now, four solaces are found.

 

"'Suppose there is a hereafter and there is a fruit, result, of deeds done well or ill. Then it is possible that at the dissolution of the body after death, I shall arise in the heavenly world, which is possessed of the state of bliss.' This is the first solace found by him.

 

"'Suppose there is no hereafter and there is no fruit, no result, of deeds done well or ill. Yet in this world, here and now, free from hatred, free from malice, safe and sound, and happy, I keep myself.' This is the second solace found by him.

 

"'Suppose evil (results) befall an evil-doer. I, however, think of doing evil to no one. Then, how can ill (results) affect me who do no evil deed?' This is the third solace found by him.

 

"'Suppose evil (results) do not befall an evil-doer. Then I see myself purified in any case.' This is the fourth solace found by him.

 

"The disciple of the Noble Ones, venerable sir, who has such a hate-free mind, such a malice-free mind, such an undefiled mind, and such a purified mind, is one by whom, here and now, these four solaces are found.

 

"Marvelous, venerable sir! Marvelous, venerable sir! As if, venerable sir, a person were to turn face upward what is upside down, or to uncover the concealed, or to point the way to one who is lost or to carry a lamp in the darkness, thinking, 'Those who have eyes will see visible objects,' so has the Dhamma been set forth in many ways by the Blessed One. We, venerable sir, go to the Blessed One for refuge, to the Dhamma for refuge, and to the Community of Bhikkhus for refuge. Venerable sir, may the Blessed One regard us as lay followers who have gone for refuge for life, from today."

 __________________


Xem thêm - See more articles:

Kinh Akkosa: Sự Nhục Mạ - Akkosa Sutta: Insult


_________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Tư 20199:30 CH(Xem: 31)
Căn cơ trình độ tiến hóa của mỗi chúng sinh một khác. Vì không hiểu rõ điều này nên chúng ta thường so sánh, thấy mình hơn hay kém người khác. Nếu có thể biết mình và mọi người đang ở giai đoạn nào trên đường tiến hóa đến giác ngộ thì có lẽ chúng ta sẽ có cách ứng xử thích nghi với nhau hơn, biết yêu thương và tôn trọng lẫn nhau
23 Tháng Tư 20199:23 CH(Xem: 40)
Khi đối diện với chính mình, tối kỵ là để yếu tố thời gian và tư tưởng xen vào. Không đối diện với mục đích giải quyết, trấn an, không chờ đợi một trạng thái lý tưởng đối nghịch với trạng thái hiện hành tức là không tham mà cũng không ưu, không nắm giữ, không loại bỏ, chỉ lắng nghe, quan sát một cách khách quan trong cảm thông hoặc thư xả.
22 Tháng Tư 20191:11 CH(Xem: 58)
- Thầy ơi, dứt khoát có khó không? Sao con không dứt khoát được? - Dứt khoát làm gì? Còn nhân duyên thì còn, hết nhân duyên thì tự hết thôi. - Vậy thì mình làm được gì trong chuyện tự định đoạt số mạng của mình hả thầy? - Thuận theo pháp để học ra sự thật tốt hơn là cố gắng định đoạt theo ý mình. - Vậy còn khái niệm tốt nhất và xấu nhất
21 Tháng Tư 20197:12 SA(Xem: 61)
Con chào Thầy. Trong cuộc sống hằng ngày, con vẫn thường thận trọng, chú tâm, quan sát. Con cảm thấy sự cố gắng như vậy làm mất nhiều sức lực. Nhưng có đôi khi con buông luôn cả ý đồ cố gắng thận trọng, chú tâm, quan sát thì con vẫn biết thân, thọ, tâm, pháp mà không cần phải cố gắng để tổn hao sức lực. Thưa Thầy, có phải cái biết này
20 Tháng Tư 20199:40 CH(Xem: 62)
- Chữ THIỆN trong “tính bản thiện” không phải là khái niệm thiện ác tương đối trong tục đế mà là tính hoàn hảo trong chân đế. Chữ SƠ trong “nhân chi sơ” cũng không có nghĩa là trẻ sơ sinh, mà là bản nguyên của con người. Không phải chỉ người mà bất cứ gì "sơ" như nó vốn là chưa qua tưởng là, cho là, muốn phải là, mong sẽ là…
18 Tháng Tư 20192:29 CH(Xem: 216)
Những Bài Pháp Ngắn, Bài 01 -> Bài 12 - HT. Viên Minh
18 Tháng Tư 201910:00 SA(Xem: 2002)
Thiền không phải là nỗ lực tìm cầu để đạt được cái chưa có mà là buông hết mọi nỗ lực tìm cầu thì liền thấy ra ngay đó đã có tất cả. Nhiều người nỗ lực tu luyện để thấy ra thực tánh pháp (hay kiến tánh) trong trạng thái thiền định xuất thần,
18 Tháng Tư 20199:00 SA(Xem: 1515)
Có một điều là, xưa nay Phật giáo Việt Nam đã thống nhất, nhưng là thống nhất trên ý chí, trên hiến chương, trên hình thức tổ chức chi chi đó thôi, chứ có một điều chưa bao giờ thống nhất được: ấy là tư tưởng Phật học. Mỗi tông phái thường có một số kinh điển làm tư tưởng nồng cốt cho tông phái mình, từ đó làm kim chỉ nam cho sinh hoạt, tu hành, xiển dương phát triển v.v...
16 Tháng Tư 20199:05 CH(Xem: 70)
Chánh niệm đã trở nên phổ biến trên thế giới trong những năm gần đây, nhưng ở Nhật Bản nó đã ăn sâu vào văn hoá hàng thế kỷ. Khi tàu cao tốc shinkansen hào nhoáng lướt nhẹ nhàng vào ga, tôi thấy một nghi thức kỳ lạ bắt đầu. Trong thời gian đỗ ngắn này, người lái tàu ở toa cuối bắt đầu tự nói với bản thân. Anh ta tiến hành thực hiện một loạt nhiệm vụ,
15 Tháng Tư 20199:37 SA(Xem: 79)
Đến thời Tượng Pháp Kinh Luận được biên soạn nhiều tập mang tính lý luận của triết học và đức tin của tín ngưỡng, mà cả hai đều dùng biểu tưởng để mô tả nên được gọi là Tượng Pháp. Vì những Kinh Luận trong thời này có 2 đặc điểm nổi bật chứng tỏ không phải đức Phật thuyết: Một là Kinh dài quá chứng tỏ là được biên soạn
14 Tháng Tư 20197:17 SA(Xem: 79)
"Đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si" là định nghĩa của Niết-bàn. Nhưng "đoạn tận" không phải theo nghĩa tiêu diệt thông thường mà là thấy rõ tham sân si bằng tuệ, giác hay minh. Nếu hiểu đoạn tận theo nghĩa giết chết hay hủy hoại một vật nào đó là không đúng bởi vì hành động ấy cũng là tham sân si. Tham sân si là do cái ta ảo tưởng
13 Tháng Tư 20199:35 SA(Xem: 107)
Xưa có hai cha con ông bá hộ, vì chiến tranh loạn lạc phải bỏ nhà ra đi tha phương cầu thực. Đến lúc thái bình thì người cha đã già yếu sắp lìa bỏ cõi trần. ông bá hộ bèn viết chúc thư giao lại tòa lâu đài của ông tại quê nhà cho con. Trong chúc thư ông tả rõ đường về quê cũ, dáng dấp ngôi nhà và từng công dụng chi tiết của những vật báu bên trong.
12 Tháng Tư 201910:02 SA(Xem: 74)
Nghiệp là một đạo lý không đơn giản như chúng ta tưởng, nên được xem là một trong những pháp không thể nghĩ bàn (acinteyya dhamma), nghĩa là không nên suy luận hay tưởng tượng quá xa, nếu suy luận nhiều quá có thể bị điên loạn. Chủ yếu khi dạy đạo lý này đức Phật chỉ muốn giúp chúng ta quan sát, chiêm nghiệm sự vận hành của nghiệp
11 Tháng Tư 20195:32 CH(Xem: 99)
Đạo chẳng thể học bằng thân, bằng tâm hay bằng trí. Chiếc xe chạy không thể chạy bằng tay lái, bằng bánh, bằng khung,... hay bằng người lái. Không thể tách riêng cái toàn thể rồi chỉ ngộ một phần là đủ, vì chỉ có giác ngộ trong sự tương giao (tâm lý, sinh lý, vật lý, nội và ngoại) chứ không thể giác ngộ cá biệt, đơn phương hay phiến diện.
10 Tháng Tư 20193:58 CH(Xem: 97)
Con đừng vội đánh giá là đi xuống hay đi lên một cách chủ quan như thế mà chỉ thấy ngã và pháp đang diễn ra như thế nào thôi ... Nếu con thấy tâm ổn đinh hay không ổn định đều bình đẳng, đều là bài học để con thấy ra bản chất vô thường, khổ, vô ngã như nhau thì con sẽ có một thái độ khác hẳn. Một thái độ bình thản giữa động và tịnh,
09 Tháng Tư 20196:46 SA(Xem: 106)
Người hỏi: Kính thưa thầy, xin thầy đừng rầy con khi con hỏi thầy điều này. Suốt 5 năm nay, sau khi lập gia đình, con gặp phải nhiều chuyện buồn, đau lòng trong tình cảm vợ chồng. Nhưng rồi mọi chuyện dần được giải quyết êm thấm, cho đến bây giờ thì gần như tốt đẹp khoảng 80%. Nhưng không hiểu sao, con vẫn cảm thấy còn đau lòng,
08 Tháng Tư 201911:39 SA(Xem: 109)
1) Nhận thức đúng: Tức chánh kiến, là thấy biết đúng bản chất của sự thật, đồng thời thấy ra tính hư ảo của bản ngã tham sân si. Thấy biết sai thì hành động, nói năng, suy nghĩ đều sai. Đó là lý do vì sao chánh kiến được đứng hàng đầu trong Bát Chánh Đạo. Không qua tánh thấy rỗng lặng trong sáng đó con không thể nào có được
07 Tháng Tư 20197:07 SA(Xem: 125)
Dân số loài người tăng thực ra không đáng kể, và đó chỉ là sự chuyển đổi cõi giới của chúng sinh trong Vũ trụ bao la này mà thôi. Chúng sinh tuỳ theo duyên nghiệp mà điều tiết sự sinh trưởng ở cõi này hay cõi khác. Ví dụ Chư Thiên sinh xuống, quỷ thần sinh lên làm người, do đó loài người có thể Tăng, hoặc chiến tranh, thiên tai...
06 Tháng Tư 20199:04 CH(Xem: 106)
... Tu là trải nghiệm sự sống để chiêm nghiệm, thể nghiệm, học hỏi mọi nhân duyên nghiệp báo đến đi, để thấy ra sự vận hành của ngã và pháp, của nhân quả duyên báo... thì không những con có thể khám phá ra sự thật để giác ngộ mà còn giải thoát ra khỏi những ảo tưởng mà chính con đã tự mình trói buộc. Hãy sống trọn vẹn với chính mình
05 Tháng Tư 20198:37 CH(Xem: 123)
Albert Camus phát hiện trong ông cũng như trong mọi người đều có một "người xa lạ" (The Stranger). Con người hàng ngày hoạt động vui buồn khổ lạc lại chính là kẻ lạ mặt! Ý ông muốn nói là mỗi người chúng ta đang sống như một kẻ vay mượn mọi thứ từ cuộc đời để hóa trang thành một cái "tôi", cái "tôi" đó không phải là con người thật của chính mình.
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 714)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1635)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 2475)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
18 Tháng Tư 201910:00 SA(Xem: 2002)
Thiền không phải là nỗ lực tìm cầu để đạt được cái chưa có mà là buông hết mọi nỗ lực tìm cầu thì liền thấy ra ngay đó đã có tất cả. Nhiều người nỗ lực tu luyện để thấy ra thực tánh pháp (hay kiến tánh) trong trạng thái thiền định xuất thần,
18 Tháng Tư 20199:00 SA(Xem: 1515)
Có một điều là, xưa nay Phật giáo Việt Nam đã thống nhất, nhưng là thống nhất trên ý chí, trên hiến chương, trên hình thức tổ chức chi chi đó thôi, chứ có một điều chưa bao giờ thống nhất được: ấy là tư tưởng Phật học. Mỗi tông phái thường có một số kinh điển làm tư tưởng nồng cốt cho tông phái mình, từ đó làm kim chỉ nam cho sinh hoạt, tu hành, xiển dương phát triển v.v...
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 1348)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 421)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 731)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 916)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 4096)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
24 Tháng Giêng 20194:07 CH(Xem: 447)
Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Nhiều Tác Giả - Many Authors)
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 463)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,