Lời Khuyên Dạy Con Của Đức Phật Tại Khu Đá Xoài - The Exhortation to Rāhula at Mango Stone

08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 1824)
Lời Khuyên Dạy Con Của Đức Phật Tại Khu Đá Xoài - The Exhortation to Rāhula at Mango Stone
-----------------------------


duc-phat-day-la-hau-la_B

 

Lời Khuyên Dạy Con Của Đức Phật

Tại Khu Đá Xoài

The Exhortation to Rāhula at Mango Stone

Ambalaṭṭhika Rāhulovāda Sutta (MN 61)

Translated from the Pali by Thanissaro Bhikkhu

Hoang Phong chuyển ngữ
Source-Nguồn: thuvienhoasen.org

____________________

 

Vài lời giới thiệu của người chuyển ngữ:

 

            Bài kinh này là những lời khuyên dạy của Đức Phật cho con mình là Rahula. Theo lời Bình giải trong Tạng Luận thì Đức Phật đã đưa ra những lời khuyên dạy này khi con mình lên bảy. Tuy đơn giảnthiết thực và cụ thể, thế nhưng bài giảng này đã khiến không biết bao nhiêu người đã phải cảm phục suốt trên dòng lịch sử phát triển của Phật giáo, kể cả ngày nay.

 

            Có rất nhiều bản dịch sang các ngôn ngữ Tây phương về bài kinh này, bản chuyển ngữ tiếng Việt dưới đây chủ yếu được dựa vào bản dịch tiếng Anh của nhà sư Thanissaro Bhikkhu và hai bản dịch tiếng Pháp, một của thiền sư Zen người Pháp là Michel "Yudo" Proulx, và một trên trang mạng của Phật giáo Nichiren, một chi phái Đại thừa Nhật bản chủ yếu dựa vào kinh Hoa SenNgoài ra một vài bản dịch tiếng Anh khác cũng đã được tham khảo thêm.

 

            Trong các bản dịch được tham khảo, dường như có đôi chút lúng túng trong cách "xưng hô" giữa các nhân vật trong kinh. Sự lúng túng này có thể là do hai lý do: trước hết là vì phong tục và truyền thống xã hội trong cách xưng hô có đôi chút khác biệt giữa các dân tộc và các nền văn hóa khác nhau, sau đó là vì các nhân vật trong kinh thuộc ba "ngôi thứ" và ba "cấp bậc" khác biệt nhau. Đức Phật thuyết giảng cho con mình đứng vào "ngôi" thứ nhất; người con lắng nghe, lúc đó mới bảy tuổi, thuộc vào "ngôi" thứ hai; người thuật lại câu chuyện nhiều chục năm sau khi Đức Phật đã tịch diệt thuộc vào "ngôi" thứ ba. Trong các bản dịch tham khảo, cách xưng hô giữa các nhân vật thường không được hợp lý lắm với "ngôi thứ" và "cấp bậc" của mình. Chẳng hạn như trong một số bản dịch Đức Phật gọi con mình là "Vị Tôn kính", "Ngài" hay "Ông" (Venerable, Sir, Monsieur,..), Rahula là con thì gọi Cha mình là "Thế Tôn" hay "Ngài" (Bhagavat, Sir...), người thuật chuyện gọi cậu bé Rahula là "Tôn giả" hay "Vị Tôn kính" (Arya, Venerable,...), các cách gọi này không phù hợp với sự liên hệ giữa các nhân vật, ít nhất là đối với phong tục và tập quán Việt Nam.

 

            Ngoài ra trong bản gốc tiếng Pali, người thuật chuyện - trong lúc c diễn ra lần kết tập Đạo Pháp thứ nhất sau khi Đức Phật đã tịch diệt - gọi Rahula là Ayasmanta Rahula. Chữ Ayasmanta có nghĩa là những "người đệ tử đầu tiên và trực tiếp" của Đức Phật. Trong số các bản dịch đã được tham khảoduy nhất chỉ có bản dịch tiếng Pháp của Phật giáo Nichiren là giữ nguyên chữ Ayasmanta, không dịch chữ này và gọi Rahula là Ayasmanta Rahula, có nghĩa là người "đệ tử thuộc thế hệ đầu tiên và trực tiếp" của Đức PhậtTóm lại chữ này khó dịch ngắn gọn và đầy đủ ý nghĩa, do đó nên giữ nguyên đúng theo bản gốc. Mong rằng bản chuyển ngữ dưới đây có thể mang lại đôi chút xúc cảm gần gũi hơn với chúng ta ngày nay về một câu chuyện thuộc một bối cảnh văn hóa và xã hội xa xưa trong thung lũng sông Hằng

 

            Ngoài ra cũng xin mạn phép ghép thêm các phụ lục sau đây hầu người đọc có thể xem thêm nếu cần:

 

Phụ lục I: Bài khảo luận của nhà sư Thanissaro Bhikkhu về một chỉ dụ của vua Azoka (A-dục) liên quan đến bài kinh MN 61 trên đây..

 

Phụ lục II: Bản dịch bài kinh MN 61 sang tiếng Anh của Thanissaro Bhikkhu.

 

Phụ lục III: Bản dịch bài kinh MN 61 sang tiếng Pháp của Phật giáo Nichiren.

 

Phụ lục IV: Bản gốc tiếng Pali của bài kinh MN 61.    

 


***

 

LỜI KHUYÊN DẠY CON CỦA ĐỨC PHẬT
TẠI KHU ĐÁ XOÀI

The Exhortation to Rāhula at Mango Stone
Ambala
ṭṭhika Rāhulovāda Sutta (MN 61) 

 

***

 

            Tôi từng được nghe như vầy, lúc đó Đấng Thế Tôn đang lưu trú gần Rajagaha (tiếng Phạn là Rajagriha, là kinh đô của xứ Magadha/Ma-kiệt-đà, ngày nay là thị trấn Rajgir, thuộc bang Bhihar), tại tịnh xá Trúc Lâm (Venuvana-vihara, là tịnh xá do vua xứ Magadha là Bimbisara/Tần-bà-sa-la xây dựng cạnh thủ đô Rajagaha, để hiến dâng Đức Phật và Tăng đoàn), và cũng là nơi có nhiều đàn sóc đến sinh sống (phải chăng là vì các tỳ kheo tại Trúc Lâm thường hay cho chúng ăn?).  

 

            Lúc đó Ayasmanta Rahula đang cư ngụ tại Đá Xoài (trong nguyên bản tiếng Pali là Ambalatthika, các bản tiếng Anh dịch là "Mango Stone", tạm dịch tiếng Việt là "Đá Xoài", là một khu gần tịnh xá Trúc Lâm". Theo lời bình giải của Buddhaghosa/Phật Âm trong Tạng Luận thì Ambalatthika là một khu nhà dùng làm nơi hành thiền, gần nơi tịnh xá Trúc Lâm,  Ayasmanta Rahula đã trải qua phần lớn cuộc đời mình tại nơi này). Chiều hôm đó, sau giấc nghỉ trưa, Đấng Thế Tôn thân hành đến khu Đá Xoài, nơi Ayasmanta Rahula đang lưu trú. Khi Ayasmanta Rahula trông thấy Cha mình từ xa đang đi đến, vội mang ghế và múc nước để Cha rửa chân. Đấng Thế Tôn ngồi lên ghế do con mình đặt sẵn và sau đó thì rửa chân. Ayasmanta Rahula cúi mình vái chào Cha và ngồi sang một bên (có thể là ngồi xuống đất cùng với các tỳ-kheo trong Tăng đoàn tháp tùng Đức Phật?).

 

            Đấng thế Tôn [cố ý] để lại một ít nước trong gáo (trong các bản dịch tham khảo đều gọi vật đựng nước này là "chậu" hay "thau"/bassine, pot, vessel..., duy nhất chỉ có bản dịch của Thanissaro Bhikkhu gọi là "chiếc gáo/water dipper, thiết nghĩ cách dịch này đúng hơn cả. Ngoài rachi tiết này cũng gián tiếp cho thấy là Đức Phật đi chân đất, đến nơi thì rửa chân) và cất lời với Aysmanta Rahula như sau:

 

            - "Này Rahula, con có trông thấy trong gáo còn lại một ít nước hay không?"

 

            - "Thưa Cha, con có thấy"

 

            - "Đấy là một tí xíu cảm nghĩ ngay thật (một chút cảm tính chín chắn và lương thiện. Trong bản gốc tiếng Pali chữ này là sāmañña, trong số các bản dịch tiếng Anh chữ này được dịch là contemplative, trong phần ghi chú bên dưới bản dịch tiếng Anh của nhà sư Thanissaro Bhikkhu, chữ này cũng đã được giải thích thêm, độc giả có thể tham khảo thêm - xem phụ lục II) [còn sót lại] bên trong bất kỳ ai không biết xấu hổ khi cố tình nói dối" (câu này có nghĩa là tuy nói dối thế nhưng vẫn còn rơi rớt lại trong lương tâm mình một thoáng cảm nghĩ lương thiện, một chút ý thức nào đó về việc nói dối của mình). Sau đó Đức Phật hắt hết nước trong chiếc gáo và nói với Rahula:

 

            - "Này Rahula, con có thấy nước trong gáo đã bị hắt đi hết hay không?"

 

            - "Thưa Cha, có"   

 

            - "Này Rahula, đấy cũng chẳng khác gì như một chút cảm nghĩ ngay thật đã bị hắt đi hết bên trong bất kỳ ai cố tình nói dối nhưng không hề biết xấu hổ là gì".  

 

            [Sau đó] Đức Phật lại úp chiếc gáo xuống và hỏi Rahula:

 

            - "Này Rahula, con có thấy chiếc gáo úp xuống hay không?"

 

            - "Thưa Cha, có"

 

            - "Này Rahula, đấy cũng tương tự như các cảm nghĩ ngay thật đã bị lật úp bên trong bất kỳ ai cố tình nói dối nhưng không hề cảm thấy một chút xấu hổ nào cả" (nói dối nhưng lương tâm bị che kín, không một chút cảm nghĩ nào về sự xấu hổ của mình).

 

            [Sau đó] Đức Phật lại lật ngửa chiếc gáo lên và nói với Rahula:

 

            - "Này con có thấy chiếc gáo trống không, chẳng còn một giọt nước nào trong đó hay không?"

 

            - "Thưa Cha, con có thấy"

 

            - "Này Rahula, đấy chẳng khác gì như bất kỳ ai cố tình nói dối nhưng không hề cảm thấy một chút xấu hổ nào, bên trong chính mình chỉ là một sự trống không và rỗng tuếch".

 

            - "Này Rahula, điều đó cũng tương tự như một con voi của hoàng triều, thật to lớn, giống tốt, từng quen trận mạc, cặp ngà tương tự như hai chiếc cáng của một cỗ xe. Khi xung trận, nó vận dụng hai chân trước và cả hai chân sau, phần thân phía trước và cả phía sau, cả đầu lẫn tai, cả ngà lẫn đuôi, [duy nhất] chỉ có chiếc vòi là quay ngược ra sau, người quản tượng (người điều khiển voi, người nài) khi trông thấy điều đó sẽ nghĩ rằng: 'Con vòi này quả không hy sinh mạng sống của mình vì vua'. Thế nhưng nếu con voi của hoàng triều khi lâm trận, sử dụng hai chân trước và cả hai chân sau, phần thân phía trước và cả phía sau, cả đầu lẫn tai, và cả chiếc vòi, thì người quản tượng tất sẽ nhận thấy điều đó và nghĩ rằng: 'Con voi này của hoàng triều sẽ sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình vì vua. Nó sẽ không từ nan bất cứ một điều gì cả'.    

 

            "Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xaVì vậy, này Rahula, con phải luyên tập [như thế này]: 'Tôi sẽ không bao giờ cố tình nói dối, dù chỉ là nói đùa' (tương tự như con voi xung trận, không để sơ hở một điều nào, kể cả chiếc vòi cũng không quay ngược ra sau. Chống lại việc cố tình nói dối là một trận chiến toàn diện. Dù việc nói dối chỉ là một cách nói đùa cũng vậy, cũng không được phép làm, tương tự như con voi xung trận, cái vòi cũng không được quay ra phía sau. Đức Phật giảng cho một đứa bé bằng cách gợi lên những hình ảnh cụ thể, chẳng hạn như chiếc gáo múc nước bên trong còn sót lại một vài giọt nước của sự ngay thật, hoặc bằng cách thu hút sự chú tâm và gợi lên sự thích thú cho một đứa bé, bằng cách thuật chuyện về một con voi to lớn đang xung trận để bảo vệ lương tri và sự ngay thật).   

 

            - "Vậy con nghĩ gì về một tấm gương, nó dùng để làm gì?"

 

            - "Thưa Cha, tấm gương dùng để soi".

 

            - "Cũng vậy, này Rahula, phải suy đi nghĩ lại [tương tự như nhìn vào một tấm gương soi] trước khi thực thi các hành động trên thân thể, qua từng lời nói và cả những gì [hiện lên] bên trong tâm thức mình" (trong câu này có một điểm khá tinh tế trên phương diện thuật ngữ, chữ "reflect"trong tiếng Anh và chữ "réfléchir" trong tiếng Pháp, tuy là một chữ nhưng có hai nghĩa khác nhau: nghĩa thứ nhất là "phản chiếu" (từ một tấm gương), nghĩa thứ hai là "suy nghĩ" hay "suy xét" (bên trong tâm thức mình). Đức Phật dạy Ayasmanta Rahula phải nhìn vào các hành động của mình, tương tự như nhìn vào một tấm gương, hầu trông thấy mình và các "hành động" của mình để tự suy xét và suy nghĩ, trước khi thực thi. Trong tiếng Việt hai chữ "soi gương" và "suy nghĩ" là hai động từ khác nhau, mang ý nghĩa khác nhau, do đó không nói lên được sự liên hệ ý nhị giữa hành động "soi gương" bên ngoài và sự "suy nghĩ" bên trong tâm thức mình).

 

                "Mỗi khi muốn thực thi một hành động trên thân thể(tạo ra một cử chỉ nào đó hoặc dự định làm một việc gì đó bằng chân tay) thì con phải suy nghĩ về hành động trên thân thể đó [như thế này]: "Hành động trên thân thể đó mà tôi muốn thực thi có thể sẽ gây ra đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác hay không? Hành động trên thân thể đó có phải là một hành động vụng về, có thể sẽ mang lại hậu quả đớn đau và kết quả tai hại hay không? Nếu sau khi suy nghĩ, con nhận thấy hành động đó sẽ mang lại đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và kẻ khác [...], thì bất cứ một hành động nào trên thân thể đại loại như thế (một cử chỉ khiếm nhã hay một hành động hung bạo chẳng hạn) thì con không được phép làm. Thế nhưng, nếu sau khi suy nghĩ và nhận thấy hành động trên thân thể đó sẽ không mang lại đớn đau [...] mà là một hành động trên thân thể khéo léo, sẽ mang lại hậu quả vui sướng và kết quả tốt lành, thì bất cứ một hành động nào trên thân thể đại loại như thế (chẳng hạn như đưa tay dắt một người mù, đỡ một đứa bé bị ngã, hoặc ngăn chận một hành động hung bạo) thì con nên làm".

 

                "Trong lúc đang thực thi một hành động trên thân thể thì con cũng phải suy nghĩ [như thế này]: "Hành động trên thân thể mà tôi đang thực thi có phải là một hành động đang gây ra đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác hay không? Hành động trên thân thể đó có phải là một hành động vụng về hay không? Nếu con nhận thấy hành động đó đang mang lại đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác [...], thì con phải dừng lại ngay. Nếu sau khi suy nghĩ, con thấy hành động đó không mang lại đớn đau [...] thì khi đó con mới nên tiếp tục làm.    

 

            "Khi vừa thực thi xong một hành động trên thân thể, thì con phải suy nghĩ về hành động đó [như thế này]: "Hành động trên thân thể đó mà tôi vừa thực thi [...] có tạo ra  đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác hay không? Hành động trên thân thể đó có phải là một hành động vụng về, đã mang lại hậu quả đớn đau và kết quả tai hại hay không? Nếu sau khi suy nghĩ, con nhận thấy hành động đó đã gây ra đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác, thì con nên hối lỗi, phải thú nhận và thổ lộ điều đó với một vị Thầy hay một người đồng hành nghiêm túc cùng bước đi với con trên con đường thánh thiện. Một khi đã biết hối lỗi [...], thì con phải thận trọng hơn trong tương lại. Thế nhưng sau khi suy nghĩ, con nhận thấy hành động đó không hề mang lại đớn đau [...] mà là một hành động khôn khéo trên thân thể, mang lại hậu quả vui sướng và kết quả tốt lành, thì con nên an trú trong sự tươi mát và vui sướng đó trong tâm hồn con, ngày đêm tiếp tục luyện tập về các phẩm tính khôn khéo đó. 

 

            "Mỗi khi muốn thực thi một hành động ngôn từ (muốn nói ra hay bày tỏ một điều gì đó), thì con phải suy nghĩ về hành động ngôn từ đó [như thế này]: "Hành động ngôn từ mà tôi muốn thực thi [...] có thể sẽ mang lại đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác hay không? Hành động ngôn từ đó có phải là một hành động vụng về, có thể sẽ gây ra hậu quả đớn đau và kết quả tai hại hay không? Nếu sau khi suy nghĩ, con nhận thấy hành động đó có thể sẽ mang lại đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác, thì đối với bất cứ một hành động ngôn từ nào đại loại như thế, thì con không được phép làm. Thế nhưng nếu sau khi suy nghĩ con nhận thấy hành động ngôn từ đó sẽ không gây ra đớn đau [...],mà là một hành động ngôn từ khôn khéo, mang lại hậu quả vui sướng và kết quả tốt lành, thì bất cứ một hành động ngôn từ nào đại loại như thế thì con nên làm.

 

                "Đang trong lúc thực thi một hành động ngôn từ (trong khi đang nói) thì con cũng phải suy nghĩ về hành động ngôn từ đó [như thế này]: "Hành động ngôn từ đó mà tôi đang thực thi [...] có mang lại đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác hay không? Hành động đó có phải là một hành động ngôn từ vụng về, mang lại hậu quả đớn đau và kết quả tai hại hay không? Nếu sau khi suy nghĩ, con nhận thấy hành động đó đang tạo ra đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác, thì con phải dừng lại ngay. Thế nhưng nếu sau khi suy nghĩ con thấy hành động đó không mang lại đớn đau [...] thì khi đó con mới nên tiếp tục làm.

 

            "Khi vừa thực thi xong một hành động ngôn từ (vừa thốt ra một lời nào đó), thì con nên suy nghĩ về hành động ngôn từ đó [như thế này]: "Hành động ngôn từ đó mà tôi vừa thực thi [...] có tạo ra đớn đau cho mình, cho kẻ khác, cho mình và cả kẻ khác hay không? Hành động ngôn từ đó có phải là một hành động ngôn từ vụng về, đã gây ra hậu quả đớn đau và kết quả tai hại hay không?" Nếu sau khi suy nghĩ, con nhận thấy hành động đó đã gây ra đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác, thì con phải hối lỗi, phải thú nhận và thổ lộ điều đó với một người Thầy hay một người bạn đồng hành nghiêm túc cùng bước đi với con trên con đường thánh thiện. Sau khi đã hối lỗi [...] thì con phải thận trọng hơn trong tương lai. Thế nhưng nếu sau khi suy nghĩ, con nhận thấy hành động đó không hề mang lại đớn đau [...] mà là một hành động ngôn từ khôn khéo, mang lại hậu quả vui sướng và kết quả tốt lành, thì con nên an trú trong sự tươi mát và niềm vui sướng đó trong tâm hồn con, ngày đêm tiếp tục luyện tập về các phẩm tính khôn khéo đó.    

 

            "Mỗi khi muốn thực thi một hành động tâm thần (hoạch địnhdự trù hay phác họa một ý định nào đó, nói một cách khác là tạo ra một "tác ý" trong tâm trí mình "), thì con phải suy nghĩ về hành động tâm thần đó [như thế này]: "Hành động tâm thần mà tôi muốn thực thi  [...] có phải là một hành động có thể sẽ mang lại đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác hay không? Nếu sau khi suy nghĩ, con nhận thấy hành động đó sẽ mang lại đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác, và hành động tâm thần đó là một hành động vụng về, sẽ mang lại hậu quả đớn đau và kết quả tai hại, thì đối với bất cứ một hành động tâm thần nào đại loại như thế thì tuyệt đối con không được phép làm. Thế nhưng nếu sau khi suy nghĩ con nhận thấy hành động đó sẽ không gây ra đớn đau [...], mà là một hành động khôn khéo, sẽ tạo ra hậu quả vui sướng va kết quả tốt lành, thì bất cứ một hành động tâm thần nào đại loại như thế đều xứng đáng để con làm (chẳng hạn như các cảm nghĩ yêu thươngnhân từtha thứ và rộng lượng là các "hành động tâm thần khôn khéo" xứng đáng để làm hiện lên bên trong tâm trí mình).

 

            "Đang trong lúc thực thi một hành động tâm thần (đang làm dấy lên bên trong tâm trí mình một ý nghĩ nào đó) con phải suy nghĩ về hành động tâm thần đó [như thế này]: "Hành động tâm thần đó mà tôi đang thực thi có phải là một hành động đang tạo ra đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác hay không? Hành động đó có phải là một hành động tâm thần vụng về, đang mang lại hậu quả đớn đau và kết quả tai hại hay không?. Nếu sau khi suy nghĩ, con nhận thấy hành động đó đang mang lại đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác [...] thì con phải dừng lại ngay (đang hoạch định hay suy nghĩ về những điều bất thiện hay độc ác thì phải dừng lại ngay). Thế nhưng nếu sau khi suy nghĩ con thấy hành động tâm thần đó không tạo ra đớn đau (yêu thươngnhân từbao dung và rộng lượng) [...] thì [khi đó] con mới nên tiếp tục làm (tiếp tục khơi động các ý nghĩ ấy trong tâm thức mình).

 

            "Vừa thực thi xong một hành động tâm thần (vừa dấy lên trong tâm trí mình một sự suy nghĩ, một ý định hay một tác ý nào đó) thì con phải suy nghĩ trở lại về hành động tâm thần đó [như thế này]: "Hành động tâm thần đó mà tôi vừa thực thi có phải là một hành động tâm thần đã gây ra đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác hay không? Hành động tâm thần đó có phải là một hành động vụng về, đã tạo ra hậu qu&#784#7843; đớn đau và kết quả tai hại hay không? Nếu sau khi suy nghĩ, con nhận thấy hành động tâm thần đó đã gây ra đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác, và hành động tâm thần đó là một hành động tâm thần vụng về, đã gây ra hậu quả đớn đau và kết quả tai hại, thì con phải cảm thấy đau buồn, hổ thẹn và ghê tởm về hành động đó. Một khi đã cảm thấy đau buồn [...] thì con phải thận trọng hơn trong tương lai. Thế nhưng nếu sau khi suy nghĩ, con thấy hành động tâm thần đó không hề gây ra đớn đau [...] mà là một hành động tâm thần khôn khéo, mang lại hậu quả vui sướng và kết quả tốt lành, thì con nên an trú trong sự tươi mát và niềm vui sướng đó bên trong tâm hồn con, ngày đêm tiếp tục luyện tập về các phẩm tính khôn khéo đó.

 

            "Này Rahula, tất cả những người biết suy nghĩ như thế và cả những người Bà-la-môn (tức là các giáo sĩ của đạo Bà-la-môn, và câu này cũng cho thấy sự kính trọng và hòa đồng giữa các tín ngưỡng của thời bấy giờ, dù giáo lý khác biệt nhau) sở dĩ trong quá khứ đã tinh khiết hóa được các hành động thuộc thân thểngôn từ và tâm thức mình, đấy là nhờ họ biết suy đi nghĩ lại [thật thận trọng] trước khi thực thi các hành động thuộc thân thểngôn từ và tâm thức mình.

 

                "Này Rahula, tất cả những người biết suy nghĩ như thế và cả những người Bà-la-môn sở dĩ trong tương lai  sẽ vẫn tiếp tục tinh khiết hóa được các hành động thuộc thân thểngôn từ và tâm thức mình, đấy là nhờ họ biết suy đi nghĩ lại [thật thận trọng] trước khi thực thi các hành động thuộc thân thểngôn từ và tâm thức mình".

 

            - "Này Rahula, tất cả những người biết suy nghĩ như thế và cả những người Bà-la-môn, sở dĩ trong hiện tại tinh khiết hóa được các hành động thuộc thân thểngôn từ và tâm thức mình, đấy là nhờ họ biết suy đi nghĩ lại [thật thận trọng] trước khi thực thi các hành động thuộc thân thểngôn từ và tâm thức mình".

 

             "Này Rahula, con cũng phải luyện tập đúng như vậy: "Tôi sẽ tinh khiết hóa các hành động trên thân thể tôi bằng cách suy đi nghĩ lại [thật thận trọng]. Tôi sẽ tinh khiết hóa các hành động ngôn từ của tôi bằng cách suy đi nghĩ lại [thật thận trọng]. Tôi sẽ tinh khiết hóa các hành động tâm thần của tôi bằng cách suy đi nghĩ lại [thật thận trọng]'. 'Và đấy chính là cách mà con phải luyện tập".

 

            Trên đây là những lời mà Đấng Thế Tôn đã nói [với Ayasmanta Rahula mà chính tôi đã được nghe]. Ayasmanta Rahula [tỏ ra] rất hân hoan và vui sướng sau khi được nghe những lời dạy bảo ấy của Đấng Thế Tôn.

 

 

***


 

Vài lời ghi chú của người chuyển ngữ

 

            Sau khi đạt được Giác Ngộ và thành lập Tăng đoànĐức Phật trở về thăm gia đình tại quê nhà là Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) tận miền bắc vương quốc Maghada. Siddharta lúc còn là thái tử nơi hoàng cung, đã từng kết hôn với công chúa Yasodara (Da-du-đà-la) và mười năm sau đó thì mới sinh con. Thế nhưng khi nghe nói con mình vừa sinh thì Siddartha liền thốt lên câu: "Rahu!", và ngay trong đêm hôm đó đã từ bỏ gia đình. Cắt tóc ra đi trước khi sự ràng buộc trở thành một sự bám víu là như vậy. Thái độ đó phải chăng là một thái độ phi thường hay sao? Mười năm không sinh con, không năm thê bảy thiếp, điều đó cho thấy dường như có một thứ tình thương yêu nào đó mãnh liệt và bao la hơn sự thúc dục của bản năng tính dục và sự bám víu gia đình, đang chờ thái tử Siddharta?  ..

 

            Nhớ lại tiếng thốt lên của Siddharta khi hay tin con mình vừa sinh, vua cha Suddodana (Tịnh Phạn) đã mượn tiếng thốt lên đó để đặt tên cho cháu nội mình. Vậy Rahu hay tiếng thốt đó có nghĩa là gì? Đó là tên gọi của một vị thiên nhân (deva) có một thân mình khổng lồ là Azura trong huyền thoại Ấn-độ, và đó cũng là vị tạo ra nhật thực và nguyệt thực. Hành động che lấp mặt trời và mặt trăng của vị thiên nhân này phản ảnh một sự "ngăn chận", nói lên một sự "chướng ngại" hay "án ngữ". Miệng của vị thiên nhân này - gọi là rahumukha - có thể nuốt chửng mặt trăng hay mặt trời, biểu trưng cho một sự "trừng phạt".  

 

            Khi Đức Phật gặp lại con thì cậu bé Rahula đã được bảy tuổi. Một số tư liệu cho rằng Rahula sáu tuổi, điều này không hợp lý lắm, bởi vì sau khi đạt được Giác NgộĐức Phật còn phải thuyết giảng (chuyển Pháp Luân) và thành lập Tăng Đoàn, hơn nữa đường xá xa xôi, di chuyển khó khăn. Tại quê nhà sau một bữa cơm với gia đìnhĐức Phật cùng Tăng đoàn lại lên đường, Rahula xin theo, Đức Phật cho phép và đã nhờ một vi đệ tử là Sariputa (Xá-lợi-phất) thụ phong sa-di cho Rahula, và một đệ tử khác là Kasyapa (Ca-diếp) lo việc giảng dạy. Điều này cho thấy Đức Phật không có một chút thiên vị nào dù là đối với con mình, tình thương yêu của Ngài luôn thăng bằng giữa tất cả chúng sinhthanh thảnngang hàng và phẳng lặng, khác hơn với tình thương yêu mang nặng bám víu và các xúc cảm bản năng của chúng taTuy nhiên, sau đó Đức Phật cũng đã nhiều lần trực tiếp giảng dạy cho con mình, bài kinh trên đây là một trong số các bài giảng đó. Thế nhưng các bài kinh mà Đức Phật giảng dạy cho con mình phải chăng cũng dành cho tất cả chúng ta? Rahula và người thầy thụ phong cho mình là Sariputa và cả người giám hộ Kasyapa đều viên tịch trước khi Đức Phật hòa nhập vào Parinirvana (Đại bát Niết-bàn), thế nhưng các bài giảng dành cho Rahula dường như vẫn còn văng vẳng trong lòng của chúng ta hôm nay.

 

            Đức Phật đã giảng bài kinh trên đây cho Rahula tại Ambalatthika (khu Đá Xoài). Theo lời bình giải của Buddhaghosa (Phật Âm, thế kỷ thứ V) trong Tạng Luận, thì Ambalatthika là một khu gần tịnh xá Trúc Lâm (Venuvana vihara), có một tòa nhà dùng vào việc hành thiền gọi là pasana, và cũng là nơi dành cho các tỳ-kheo thích sống yên tịnh và biệt lập. Người đệ tử trực tiếp của Đức Phật là Rahula, sau khi được thụ phong thường hay lưu trú tại Ambalatthika, và trong suốt mười hai năm sau củng của kiếp nhân sinh này của mình đã quyết tâm không nằm nghỉ lưng trên một chiếc giường.

 

            Trúc Lâm là một tịnh xá nằm không xa về phía bắc kinh đô Rajagaha, do vua Bimbisara xây dựng để hiến dâng Đức Phật và Tăng đoàn. Trong thung lũng sông Hằng thời bấy giờ có tất cả bốn vương quốc lớn, vương quốc Maghada chiếm toàn vùng đông-bắc của thung lũng này, về phía đông kéo dài đến tận vịnh Bengal. Giáp ranh với vương quốc Maghada về phía tây-bắc là vương quốc Kosala, Đức Phật nhiều lần đã từng du hành đến tận vương quốc này để thuyết giảng. Vào thời đại của Ngài, phương tiện di chuyển thật ra cũng chỉ là các con đường mòn xuyên ngang các thôn làng hẻo lánh và những cánh rừng mênh mông

 

            Con của vua Bimbisara là Ajatasattu (A-xà-thế) giết cha và cướp ngôi năm -492 (trước Tây lịch), và hai năm sau thì thiết lập kinh đô mới là Pataliputra (Hoa-thị-thành), tại hữu ngạn sông Hằng, cách kinh đô cũ Rajagaha khoảng 50 cây số về phía tây-bắc, ngày nay là tỉnh lỵ Patna. Tuy Ajatasattu là một người bạo ngược, từng âm mưu với Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) ám hại Đức Phật, thế nhưng sau đó phải chăng vì hối hận, đã trở thành một vị vua Phật giáo vô cùng nhiệt thành và tích cựcĐức Phật sống tám năm trong kiếp nhân sinh sau cùng này của Ngài dưới triều đại của vua Ajatasattu.

 

            Trong Tạng Luận có nêu lên danh sách tất cả các vị vua cai trị xứ Maghada sau triều đại Ajatasattu, cho đến thế kỷ thứ III khi Chandragupta Maurya, một người dân thường, lật đổ vị vua cuối cùng của vương quốc Maghada là Nanda và lên ngôi năm -324 (trước Tây lịch). Chandragupta là ông nội của vua Azoka sau này. Sau khi lên ngôi Chandragupta tiếp tục bành trướng thêm lãnh thổ, biến vương quốc Maghada thành đế quốc Maurya, và cũng là đế quốc đầu tiên của nước Ấn. Con của vua Chandragupta là Bindusara nối ngôi năm -297, và sau đó đến lượt con của Bindusara là Azoka lên kế vị  năm -273. Azoka tiếp tục bành trướng thêm đế quốc Maurya, chiếm gần hết bán lục địa Ấn độ, về phía tây-bắc kéo dài đến tận lãnh thổ của các xứ Pakistan và Afghanistan ngày nay. Đế quốc Maurya cũng đánh dấu một nền văn minh sáng chói, tiêu biểu và lâu đời nhất của nước Ấn. Văn hóa, nghệ thuật, truyền thống và cả lịch sử sau này của toàn thể nước Ấn đều chịu ảnh hưởng của nền văn minh Maurya.

 

            Trong một thời gian gần ba thế kỷ, kéo dài từ triều đại của vua Bimbisara đến khi vua Azoka lên ngôiPhật giáo âm thầm phát triển song song với các tín ngưỡng khác của thời bấy giờ là đạo Bà-la-môn hình thành từ kinh Veda của các thời kỳ cổ đại, và các đạo Jain và Ajivika mang một số đường nét gần với Phật giáo. Sau khi bành trướng thêm lãnh thổ và nhất là sau trận chiến Kalinga xảy ra năm -261 thật khốc liệt và tàn ác, vua Azoka vô cùng hối hận và đã trở thành một người Phật giáo thuần thành và hết sức tích cực. Kalinga là một vương quốc chư hầu của đế quốc Maurya, nằm trong vùng trung tâm của bán lục địa Ấn-độ, chống lại hoàng triều Azoka. Cuộc chinh phạt đã khiến hàng trăm ngàn người thiệt mạng.

 

            Sự hối hận đó là cả một niềm khắc khoải không nguôi trong lòng vua Azoka, và vị vua này đã cho khắc một chỉ dụ nói lên sự hối hận đó của mình trên các trụ đá và bia đá khắp nơi trong đế quốc của mình. Điều đó không khỏi khiến chúng ta liên tưởng đến các câu Đức Phật khuyên dạy Rahula: 

 

            "Này Rahula, nếu sau khi suy nghĩ, con nhận thấy hành động đó [...] đã gây ra đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác, thì con phải hối lỗi, phải thú nhận và thổ lộ điều đó với một người Thầy hay một người bạn đồng hành nghiêm túc cùng bước đi với con trên con đường thánh thiện".

 

            "Này Rahula, nếu sau khi suy nghĩ, con nhận thấy hành động đó [...] đã gây ra đớn đau cho mình, cho kẻ khác, hoặc cho mình và cả kẻ khác [...] thì con phải cảm thấy đau buồn, hổ thẹn và ghê tởm về hành động đó"

 

            Những sự "đau buốn" và "hổ thẹn" khi nhận thấy hành động của mình đã tạo ra đớn đau cho kẻ khác, phải chăng đã khiến vua Azoka thức tỉnh và hối hận, phái "thú nhận" sự sai lầm của mình và "thổ lộ" điều đó bằng các chỉ dụ ghi khắc trên các bia đá và trụ đá khắp nơi trên đế quốc của mình? Sự "hối lỗi" đó phải chăng đã giúp vua Azoka chuyển hướng, bước theo con đường phi-bạo-lực và tích cực quảng bá Dhamma của Đức Phật, không những bên trong đế quốc của mình mà cả bên ngoài bán lục địa Ân-độ, đánh dấu một giai đoạn mới của Phật giáo trên hành tinh này. Sau đây là một đoạn trích dẫn trong chỉ dụ nêu lên sự hối hận trên đây của vua Azoka:

 

            "Sau tám năm trị vì, vua Piyadasi (tức là vua Azoka), người bạn thân thiết của các vị Thiên Nhân (Deva), đã chinh phạt địa phận Kalinga. Hàng trăm ngàn người bị bắt giữ, một trăm ngàn người bị đánh đập, và số người chết cao hơn con số đó rất nhiều. Vì thế, sau khi chinh phạt Kalinga, vị vua, bạn thân thiết của các vị Thiên Nhân, đã quay về với Dhamma, nhiệt tình với Dhamma. Trước trận chiến chinh phạt Kalinga, vị vua, bạn thân thiết của các vị Thiên Nhân, đã cảm nhận được một sự hối hận thật sâu xa".

 

            Ngoài chỉ dụ trên đây, vua Azoka còn cho ghi khắc rất nhiều các chỉ dụ khác trên các bia đá và trụ đá khắp nơi. Vào thời bấy giờ, chưa có giấy mực, phương tiện truyền thông và việc điều khiển quốc gia chỉ là các chỉ dụ của triều đình ghi khắc trên các bia đá và trụ đá tại các nơi công cộng. Trong số đó có một chỉ dụ đáng quan tâm đối với những người Phật giáo, đó là chỉ dụ đã được tìm thấy tại làng Bhabru, cách thủ đô New Dehli khoảng 150 km về phía tây-nam, Chỉ dụ này được mệnh danh là "Chỉ dụ trên bia đá Bhabru" (Bhabru Rock Edit), tấm bia ghi khắc chỉ dụ này hiện được trưng bày tại bảo tàng viện Indian Museum tại thành phố Calcutta. Vua Azoka nêu lên trong chỉ dụ đó danh sách một loạt các bài kinh, và khuyên người dân nên thường xuyên "lắng nghe" và suy nghĩ" về các bài kinh này, hầu giúp cho Dhamma của Đức Phật được trường tồn lâu dài.  

 

            Các chỉ dụ của vua Azoka bắt đầu được phát hiện từ các năm 1837. Các chỉ dụ tìm thấy trong các vùng phía đông của nước Ấn được ghi khắc bằng ngôn ngữ Maghadi và ngữ tự brahmi, và rất có thể đây là ngôn ngữ mà Đức Phật đã thuyết giảng. Tại các vùng phía tây, trái lại các chỉ dụ được khắc bằng một thứ tiếng Phạn cổ và bằng ngữ tự kharosthi, trong số này có chỉ dụ Bhabru trên đây. Ngoài ra người ta cũng tìm thấy một chỉ dụ ghi khắc bằng hai thứ tiếng Hy-lạp và Armenia tại vùng Kandahar thuộc Afghanistan ngày nay, vùng này dưới triều đại của vua Azoka thuộc lãnh thổ của đề quốc Maurya.   

 

            Chỉ dụ Bhabru được giải mã năm 1840, có nghĩa là được chuyển thành ngữ tự La-tinh, và bắt đầu từ đó các học giả Tây phương đã ra sức giải đoán ý nghĩa của chỉ dụ này. Chỉ dụ tuy ngắn và dù các học giả đã để ra rất nhiều công sức và tốn hao không biết bao nhiêu giấy mực, thế nhưng họ vẫn chưa giải đoán được hết chỉ dụ này. Xin mạn phép nhắc thêm là tiếng Phạn cổ vào thời đại của vua Azoka khác hơn với tiếng Phạn "tân tiến" hơn trong các kinh sách Đại thừaxuất hiện sau này từ thế kỷ thứ I trước Tây lịch. Dầu sao thì các học giả trên đây cũng đã dịch được hầu hết chỉ dụ này, ngoại trừ danh sách nêu lên bảy bài kinh mà vua Azoka đã chọn. Trong danh sách này họ cũng xác định được được bốn bài, một trong số này là bài kinh Ambalatthika Rahulovada Sutta, tức là bài kinh Đức Phật khuyên dạy con mình là Rahula.

 

            Năm 1993, nhà sư Thanissaro Bikkhu có viết một bài khảo luận về chỉ dụ trên này, mang tựa: "Cầu mong Dhamma Đích Thật trường tồn lâu dài - Các bài đọc đã được vua Azoka chọn lựa - do Thanissaro Bhikkhu chọn và dịch"/That the True Dhamma Might Last a Long Time, Readings Selected by King Asoka - selected and translated by Thanissaro Bhikkhu. Bài khảo luận khá kỹ thuật, được kèm thêm cả bốn bài kinh đã được xác định và do chính Thanissaro Bhikkhu dịch sang tiếng Anh (độc giả có thể xem bài khảo luận này trong phụ lục I, bốn bài kinh thì có thể tìm thấy trên trang mạng Acesstoinsight hoặc Dhammatalks). Dưới đây là phần chuyển ngữ tiếng Việt đoạn dẫn nhập của bài khảo luận trên đây của Thanissaro Bhikhu:

 

            "Các chỉ dụ của vua Azoka là một bằng chứng hùng hồn về một sự kiện trọng đại trên dòng lịch sử của nhân loại: đó là nỗ lực của một con người duy nhất [trong lịch sử] điều khiển một đế quốc bằng một nền chính trị [hoàn toàndựa vào Dhamma (Đạo Pháp của Đức Phật). Chính sách cai trị của vua Azoka gồm có ba khía cạnh: quản lý dựa vào Dhammagiáo dục quần chúng dựa vào Dhamma, việc tu tập của riêng mình với tư cách là một nhà lãnh đạo quốc giadựa vào Dhamma.        

 

            Các chỉ dụ [do vua Azaka] ban hành là các bằng chứng hiển nhiên và trực tiếp nói lên khía cạnh thứ hai (tức là cách giáo dục quần chúng dựa vào Dhamma), gồm một loạt các nguyên tắc đạo đức và các cung cách hành xử mà tất cả các tín ngưỡng đều phải tôn trọngTuy nhiên, trong số các chỉ dụ đó cũng có một số dành riêng cho người Phật giáo, và một trong số này là Chỉ dụ trên vách đá Bhabru (the Bhabru Rock Edit) nêu lên các chủ đề không những chủ yếu đối với các sử gia, mà cả những người Phật giáo ở bất kỳ thời đại nào và không gian nào. Chỉ dụ đó nêu lên những gì [mà tất cả những người Phật giáo] phải làm hầu giữ gìn Dhamma Đích Thật được trường tồn lâu dài. Trong chỉ dụ đó vua Azoka đã đưa ra một câu [nêu đến các bài kinhcốt lõi của Phật giáo do đích thân ông đã lựa chọn và khuyên những người Phật giáo - dù đã được hay chưa được thụ phong cũng vậy - phải thường xuyên "lắng nghe" và "suy nghĩ". Sau đây là bản dịch của chỉ dụ này:

 

            "Vi Hoàng đế nhân từ, Vua xứ Maghada, cúi mình trước Tăng đoàn - cầu mong Tăng đoàn luôn được khỏe mạnh và sống trong an bình - và xin được cất lời như sau: "Các Ngài đều thấu hiểu tấm lòng ngưỡng mộ bao la của tôi đối với Đức Phật, Dhamma (Đạo Pháp) và Sangha (Tăng đoàn). Tất cả những gì Đức Phật nói ra tất nhiên đều là những lời nói phải. Thế nhưng tôi cũng xin mạn phép nêu lên đoạn sau đây (danh sách các bài kinh) mà tôi đã chọn lựa nhằm giúp Dhamma Đích Thật được trường tồn lâu dài: Vinaya-samukasa, Aliya-vasani, Anagata-bhayani, Muni-gatha, Mauneya-sute, Upatisa-pasine, và [nhất là] những lời Giáo Huấn mà Đấng Thế Tôn đã khuyên dạy Rahula, trong đó lời đầu tiên là không được nói dối".

 

            "Kính thưa các Ngài tôn kính, tôi mong rằng các Ngài tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni cùng các nam và nữ cư sĩ tôn kính - [tất cả] hãy thường xuyên lắng nghe và suy nghĩ về câu trên đây (tức là danh sách các bài kinh đã được lựa chọn).  Và cũng chính vì lý do đó, kính thưa các Ngài tôn kính, tôi đã cho ghi khắc câu ấy [lên mặt đá] để tất cả đều hiểu rõ lòng mong mỏi của tôi".

 

            Hai chữ "lắng nghe" và "suy nghĩ" trong chỉ dụ trên đây đã khiến người chuyển ngữ  các dòng này vô cùng xúc động. Vào thời thời bấy giờ chữ viết mới bắt đầu xuất hiện, không mấy ai biết đọc, trường học có lẽ chưa có, giấy mực và các phương tiện truyền thông cũng chưa có, họ chỉ biết "lắng nghe""suy nghĩ, học thuộc và thuật lại với nhau, thế mà Giáo Huấn vô cùng khúc triết, sâu sắc và siêu việt của Đức Phật đã được lưu truyền đến ngày nay.

 

            Sau đây là bốn bài kinh đã được xác định trong số các bài kinh do vua Azoka đã lựa chọn:

 

            1- Aliya-vasani: tức là "Bài thuyết giảng về Truyền thống của những Người Cao Quý"/Discourse on the Traditions of the Noble Ones/Ariya-vamsa, AN 4.28 (Anguttara Nikaya/Tăng Nhất Bộ Kinh, AN 4.28)

 

            2- Anagata-bhayani: tức là Bốn bài thuyết giảng về "Các Sự Nguy Hiểm trong Tương Lai"/Future Dangers (Anguttara Nikaya/Tăng Nhất Bộ Kinh/AN 5.77-80)

 

            3- Munigatha: tức là "Bài thuyết giảng về Người Hiền Triết"/Discourse on the Sage/Muni Sutta (Sutta Nipata/Kinh Tập, Sn.I.12)

 

            4- "Những lời khuyên dạy Rahula "/Cula-Rahulovada Sutta, MN 61: tức là bài kinh đã được chuyển ngữ trên đây.

 

            Bài kinh khuyên dạy con của Đức Phật đã được một vị đế vương mang ra giảng dạy cho cả một dân tộc. Lương thiện phài chăng là phẩm giá căn bản của con người, là mẫu mực của một xã hội? Đức Phật mượn hình ảnh một chiếc gáo lật ngửa và trống không như một "phương tiện thiện xảo" (upaya) để nêu lên thể dạng nội tâm của một người cố tình nói dối nhưng không biết xấu hổ là gì. Tệ hơn nữa, đôi khi những người nói dối đó còn xem kết quả mang lại từ sự nói dối của mình như là một sự thành công, một chiến thắng. Đối với những người còn giữ đôi chút lương tri thì thiết nghĩ "phương tiện thiện xảo" phải chăng là vài giọt nước còn rơi rớt lại trong chiếc gáo trống không?

 

            Bài kinh thật giản dị và thiết thực, không bày ra lễ lạc, không răn đe, cũng không hứa hẹn những chuyện hoang tưởng. Căn bản sơ đẳng nhất của Phật giáo phải chăng là sự ngay thật, không được cố tình nói dối, mà phải hướng vào đạo đức và thương yêulương tri và trách nhiệm. Ngày nay dường như chúng ta cố tình nói dối quá nhiều, từ bên trong lương tâm mình cho đến bên ngoài xã hội, từ khẩu hiệu đến hô hào, từ chính trị đến lãnh đạo. Tất cả các sự che dấu và giả dối đó cũng chẳng khác gì như một chiếc gáo úp xuống, một khi lật ngửa thì bên trong chỉ là trống không và rỗng tuếchPhải chăng Ayasmanta Rahula đã học được từ thuở bé là phải sống như một gáo nước đầy?     

 

Bures-Sur-Yvette, 05.03.20 

Hoang Phong chuyển ngữ

 

 

____________________

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Mười Một 2020(Xem: 152)
22 Tháng Mười 2020(Xem: 5283)
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 75)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 117)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 152)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 170)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 178)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 193)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 264)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 220)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 251)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 262)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 254)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 251)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
10 Tháng Mười Một 20208:33 CH(Xem: 529)
Sáng nay, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết thư cho Joe Biden để chúc mừng Ông được bầu làm Tổng thống tiếp theo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ngài viết: “Như có lẽ bạn đã biết, từ lâu tôi đã ngưỡng mộ Hoa Kỳ như một nền tảng của sự tự do, dân chủ, tự do tôn giáo và pháp quyền. Nhân loại đã đặt niềm hy vọng lớn lao vào tầm nhìn
09 Tháng Mười Một 20208:19 CH(Xem: 283)
Có một chuyện kể trong Phật giáo như sau, có một vị tăng nhân cứu được mạng sống của một người thanh niên tự sát. Người thanh niên sau khi tỉnh dậy, nói với vị tăng nhân: “Cảm ơn đại sư, nhưng xin ngài đừng phí sức cứu tôi bởi vì tôi đã quyết định không sống nữa rồi. Hôm nay cho dù không chết thì ngày mai tôi cũng vẫn chết”.
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 345)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 371)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
05 Tháng Mười Một 20208:12 CH(Xem: 292)
Tất cả chúng ta đều nghĩ đến và chăm lo sức khỏe của mình, chỉ ít hay nhiều tùy theo mình còn trẻ hay già yếu và ốm đau. Thế nhưng sức khỏe không phải chỉ thuộc lãnh vực thân xác mà còn liên quan đến lãnh vực tâm thần. Như vậy thì tín ngưỡng nói chung và Phật giáo nói riêng có giữ một vị trí hay vai trò nào đối với mối quan tâm
04 Tháng Mười Một 20206:03 CH(Xem: 401)
Cách đây vài năm đã xảy ra mấy cuộc biểu tình trên đường phố sau khi một viên quản ngục nhà tù Guantanamo Bay bị buộc tội là đã vứt quyển kinh vào bồn cầu và giật nước cho nó trôi đi. Ngày hôm sau, một ký giả tờ báo địa phương gọi điện thoại cho tôi, nói rằng anh ta đang viết một bài về sự việc vừa xảy ra, muốn hỏi các nhà
03 Tháng Mười Một 202011:39 SA(Xem: 293)
Thuở nhỏ lúc còn cắp sách đến trường tôi hay mỉm cười và mỗi lần như thế thì lại bị mắng và quở phạt. Trong khi đang chép phạt thì lại bị thêm một lần phạt nữa. Lúc nào tôi cũng mỉm cười. Người ta mắng tôi: "Im đi, không được nhạo báng kẻ khác nhé!". Bắt đầu từ đấy tôi mới hiểu được là tại sao lại không được phép cười.
02 Tháng Mười Một 20205:01 CH(Xem: 303)
Con người là một chúng sanh huyền bí có nhiều tiềm năng phi thường. Có hai năng lực trái ngược luôn luôn tiềm tàng ngủ ngầm trong mỗi người. Một, hướng về trạng thái cao thượng trong sạch, đặc tánh của bậc Thánh Nhân và một, hướng về những điều tội lỗi nhơ bẩn của kẻ sát nhân tàn bạo. Cả hai tiềm lực nầy đều có thể phát sanh
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2175)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3862)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5469)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 264)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 345)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 371)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 152)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5283)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 428)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 435)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2934)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1957)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng