Câu Chuyện Về Ông Già Bà La Môn, Kệ 324, Kho Báu Sự Thật - The Story Of An Old Brāhmin, Verse 324, Treasury Of Truth

29 Tháng Bảy 20164:19 CH(Xem: 5130)
Câu Chuyện Về Ông Già Bà La Môn, Kệ 324, Kho Báu Sự Thật - The Story Of An Old Brāhmin, Verse 324, Treasury Of Truth
Chapter23-324-A

Con Voi Bị Xích Chân, Đau Buồn Bỏ Ăn, Vì Nhớ Thương Bố Mẹ
Câu Chuyện Về Ông Già Bà La Môn, Kệ 324 - Kho Báu Sự Thật, Kinh Pháp Cú Minh Họa
The Bound Elephant
The Story Of An Old Brāhmin, Verse 324 - Treasury Of Truth, Illustrated Dhammapada

Weragoda Sarada Maha Thero - Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến
Hình Vẽ: P. Wickramanayaka - Source-Nguồn: www.buddhanet.net

(Weragoda Sarada Maha Thero - Illustrations by Mr. P. Wickramanayaka)


Con Voi Bị Xích Chân, Đau Buồn Bỏ Ăn, Vì Nhớ Thương Bố Mẹ - Câu Chuyện Về Ông Già Bà La Môn, Kệ 324 - Kho Báu Sự Thật, Kinh Pháp Cú Minh Họa 

 

BÀI KỆ 324:

 

324. Dhanapālako nāma kuñjaro

kaṭukappabhedano dunnivārayo

baddho kabalaṃ na bhuñjati

sumarati nāgavanassa kuñjaro. (23:5)

 

Thật khó kiểm soát con voi to lớn có ngà Dhanapālaka,

vì nó mạnh mẽ chạy nhảy, vì nó đang ở trong thời kỳ sung mãn  

Tuy nhiên, vì nó bị xích chân và bị nhốt, nên nó đau buồn bỏ ăn

vì nó khát khao nhớ rừng, nhớ đàn voi, và nhớ thương bố mẹ nó

 

Trong khi cư trú tại Tu Viện Veluvana (Trúc Lâm), Đức Phật đã nói bài kệ nầy về một ông già Bà La Môn.

 

Ngày xưa, ở Sāvatthi có một ông già Bà La Môn, ông có tám trăm ngàn tiền mặt (tiền Ấn Độ). Ông có bốn người con trai; mỗi khi một trong những người con ông lấy vợ, ông cho con một trăm ngàn. Do đó, ông đã cho các con tất cả là là bốn trăm ngàn. Sau đó, vợ ông qua đời. Các con ông đến thăm ông, và họ chăm sóc ông rất là cẩn thận; các con ông thật sự rất thương yêu, và có nhiều tình cảm trìu mến với ông. Trong một thời gian sau đó, các con ông đã dỗ-dành ông cho họ bốn trăm ngàn, là tất cả số tiền ông còn lại. Vì thế, trên thực tế ông chẳng còn một đồng xu dính túi.

 

Đầu tiên, ông đến ở với người con trai cả của ông. Sau vài ngày, người con dâu nói với ông rằng, "Bố có cho chồng con vài trăm, hoặc vài ngàn nhiều hơn các người con khác hay không? Bố không biết đường đi đến nhà các người con khác hay sao?" Sau khi nghe xong, ông già Bà La Môn rất tức giận, rồi ông đi đến nhà của người con thứ nhì. Câu chuyện xảy ra sau đó ở nhà các người con khác, giống y hệt như nhà người con cả. Vì thế, ông già trở nên bơ vơ, không có nơi nương tựa; rồi, ông chống gậy và cầm bát đi đến gặp Đức Phật để xin ngài bảo vệ ông, và cho ông một lời hướng dẫn.

 

Tại tu viện, ông Bà La Môn kể với Đức Phật về chuyện các người con trai đã đối xử với ông như thế nào, và ông xin ngài giúp đỡ ông. Sau đó, Đức Phật đã đưa ông một bài thơ để ông ghi nhớ, và ngài bảo ông hãy ngâm to bài thơ nầy ở bất cứ nơi nào mà có đám đông. Ý chính của bài thơ nầy như sau: "Bốn người con trai ngu ngốc của tôi giống như là lũ quỷ. Chúng gọi tôi là 'bố ơi, bố tôi ơi", tuy nhiên, đấy chỉ là những lời nói giả dối phát ra từ miệng, chứ không phải là lời chân thật phát ra từ trái tim của chúng. Các con trai tôi là những người mưu mô, và giả dối. Chúng đã nghe lời vợ, và đuổi tôi ra khỏi nhà. Vì thế, bây giờ tôi phải đi ăn xin. Cây gậy chống nầy còn giúp cho tôi nhiều hơn là các con trai của tôi." Khi ông già Bà La Môn ngâm lớn bài thơ nầy, nhiều người trong đám đông nghe ông ta nói, họ trở nên giận dữ các người con trai ông, và thậm chí một số người còn đe dọa là sẽ giết các người con trai ông.

 

Vào lúc nầy, các người con trai của ông già Bà La Môn trở nên sợ hãi, họ quỳ xuống dưới chân bố họ, và họ xin bố họ tha thứ. Họ cũng hứa rằng kể từ ngày hôm nay, họ sẽ chăm sóc bố cẩn thận, và họ sẽ tôn trọng, và thương yêu bố, và làm cho bố vinh dự. Sau đó, họ đưa bố về nhà họ; và họ cũng cảnh báo vợ họ rằng hãy chăm sóc bố họ cẩn thận, bằng không các bà vợ sẽ bị đánh cho đến chết. Mỗi người con trai cho bố họ vải (để may quần áo), và mỗi người cho bố họ một mâm thức ăn. Ông Bà La Môn trở nên khỏe mạnh hơn xưa, và ông bắt đầu lên cân. Ông biết rằng ông có được hạnh phúc như ngày hôm nay là nhờ Đức Phật. Vì thế, ông đến gặp Đức Phật, và ông xin ngài nhận ông cúng dường hai mâm thức ăn (trong tổng số bốn mâm thức ăn) mà ông nhận được mỗi ngày từ các người con trai ông. Rồi, ông ra lệnh cho các con ông mang hai mâm thức ăn đến cúng dường Đức Phật.

 

Một hôm, người con trai cả mời Đức Phật đến nhà anh, để anh ta cúng dường ngài thực phẩm. Sau bữa ăn, Đức Phật đã cho mọi người một bài giảng về lợi ích của sự chăm sóc bố mẹ. Sau đó, Đức Phật nói rằng điều nầy liên quan đến câu chuyện con voi Dhanapāla, là con voi đã chăm sóc bố mẹ của mình. Con voi Dhanapāla khi bị bắt nhốt, nó đau đớn hao mòn, vì thương nhớ bố mẹ đang ở trong rừng.  

 

Vào cuối bài giảng của Đức Phật, ông già Bà La Môn, cũng như bốn người con trai và các bà vợ đã đạt quả Nhập Lưu.

 

BÀI KỆ 324, GIẢI THÍCH TỪ TIẾNG PALI

 

dhanapālako nāma kuñjaro kaṭūkappabhedana

dunnivārayo baddho kabalaṃ na bhuñjati kuñjaro

nāgavanassa sumarati

 

dhanapālako nāma: có tên là Dhanapāla; kabalaṃ: thực phẩm;

na bhuñjati: không ăn; kuñjaro: con voi;

kaṭūkappabhedana: đang ở trong thời kỳ sung mãn;

dunnivārayo: khó kiểm soát, khó chế ngự;

baddho: cùm, xiềng xích; nāga vanassa: con voi - rừng;

sumarati: khát khao suốt ngày đêm

 

Thật khó kiểm soát con voi to lớn có ngà Dhanapālaka,

vì nó mạnh mẽ chạy nhảy, vì nó đang ở trong thời kỳ sung mãn  

Tuy nhiên, vì nó bị xích chân và bị nhốt, nên nó đau buồn bỏ ăn

vì nó khát khao nhớ rừng, nhớ đàn voi, và nhớ thương bố mẹ nó

 

Bài kệ 324 trong Kinh Pháp Cú nầy, đã được anh Tâm Minh Ngô Tằng Giao chuyển dịch thành thơ như sau:

(324) Voi kia khó trị vô vàn. Đến kỳ phát dục lại càng hung hăng. Khi chân bị trói, bị ràng. Ngày không ăn uống, đêm hằng nhớ thương. Nhớ đàn, nhớ mẹ, nhớ rừng.

 

BÌNH LUẬN

 

Bài kệ và kết quả của câu chuyện nầy, có giá trịhiệu lực đáng chú-ý, trong thời điểm mà những người già yếu bị ruồng bỏ, không có người chăm sóc, đã trở thành một vấn đề quan trọng trong xã hội.

The Bound Elephant - The Story Of An Old Brāhmin, Verse 324 - Treasury Of Truth, Illustrated Dhammapada 

 

VERSE 324:

 

324. Dhanapālako nāma kuñjaro

kaṭukappabhedano dunnivārayo

baddho kabalaṃ na bhuñjati

sumarati nāgavanassa kuñjaro. (23:5)

 

Hard to check the tusker Dhanapālaka,

in rut with temples running pungently,

bound, e’en a morsel he’ll not eat

for he recalls the elephant-forest longingly

 

While residing at the Veluvana Monastery, the Buddha spoke this verse, with reference to an old brāhmin.

 

Once, there lived in Sāvatthi an old brāhmin who had eight lakhs in cash. He had four sons; when each one of the sons got married, he gave one lakh to him. Thus, he gave away four lakhs. Later, his wife died. His sons came to him and looked after him very well; in fact, they were very loving and affectionate to him. In course of time, somehow they coaxed him to give them the remaining four lakhs. Thus, he was left practically penniless.

 

First, he went to stay with his eldest son. After a few days, the daughter-in-law said to him, “Did you give any extra hundred or thousand to your eldest son? Don’t you know the way to the houses of your other sons? Hearing this, the old brāhmin got very angry and he left the eldest son’s house for the house of his second son. The same thing happened in the houses of all his sons. Thus, the old man became helpless; then, taking a staff and a bowl he went to the Buddha for protection and advice.

 

At the monastery, the brāhmin told the Buddha how his sons had treated him and asked for his help. Then the Buddha gave him some verses to memorize and instructed him to recite them wherever there was a large gathering of people. The gist of the verses is this: “My four foolish sons are like ogres. They call me ‘father, father’, but the words come only out of their mouths and not from their hearts. They are deceitful and scheming. Taking the advice of their wives they have driven me out of their houses. So, now I have got to be begging. Those sons of mine are of less service to me than this staff of mine.” When the old brāhmin recited these verses, many people in the crowd, hearing him, went wild with rage at his sons and some even threatened to kill them.

 

At this, the sons became frightened and knelt down at the feet of their father and asked for pardon. They also promised that starting from that day they would look after their father properly and would respect, love and honour him. Then, they took their father to their houses; they also warned their wives to look after their father well or else they would be beaten to death. Each of the sons gave a length of cloth and sent every day a food-tray. The brāhmin became healthier than before and soon put on some weight. He realized that he had been showered with these benefits on account of the Buddha. So, he went to the Buddha and humbly requested him to accept two food-trays out of the four he was receiving every day from his sons. Then he instructed his sons to send two food-trays to the Buddha.

 

One day, the eldest son invited the Buddha to his house for alms-food. After the meal, the Buddha gave a discourse on the benefits to be gained by looking after one’s parents. Then he related to them the story of the elephant called Dhanapāla, who looked after his parents. Dhanapāla when captured pined for the parents who were left in the forest.

 

At the end of the discourse, the old Brāhmin as well as his four sons and their wives attained sotāpatti fruition.

 

EXPLANATORY TRANSLATION (VERSE 324)

 

dhanapālako nāma kuñjaro kaṭūkappabhedana

dunnivārayo baddho kabalaṃ na bhuñjati kuñjaro

nāgavanassa sumarati

 

dhanapālako nāma: named Dhanapāla; kabalaṃ: food;

na bhuñjati: does not eat; kuñjaro: elephant;

kaṭūkappabhedana: deep in rut; dunnivārayo: difficult to be

restrained; baddho: shackled; nāga vanassa: the elephant

– forest; sumarati: keeps on longing for

 

The elephant, Dhanapāla, deep in rut and uncontrollable, in

captivity did not eat a morsel as he yearned for his native forest

(i.e., longing to look after his parents).

 

COMMENTARY

 

This stanza and the story that gave rise to it, have a marked validity for our own time when the neglect of the aged has become a crucial social issue.


Source-Nguồn: http://www.buddhanet.net/pdf_file/dhammapadatxt1.pdf

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Tám 2020(Xem: 1049)
18 Tháng Tám 2019(Xem: 2521)
16 Tháng Tám 2019(Xem: 2873)
23 Tháng Tám 2018(Xem: 4307)
16 Tháng Tư 2018(Xem: 4098)
09 Tháng Chín 2017(Xem: 4114)
29 Tháng Tám 2017(Xem: 4263)
28 Tháng Tám 2017(Xem: 3860)
27 Tháng Tám 2017(Xem: 4613)
26 Tháng Tám 2017(Xem: 4270)
22 Tháng Tám 2017(Xem: 4039)
16 Tháng Tám 2017(Xem: 4518)
15 Tháng Tám 2017(Xem: 3590)
25 Tháng Mười Hai 2016(Xem: 4930)
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 19)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 106)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 142)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 153)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 176)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 191)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 261)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 217)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 247)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 258)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 252)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 246)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
10 Tháng Mười Một 20208:33 CH(Xem: 520)
Sáng nay, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết thư cho Joe Biden để chúc mừng Ông được bầu làm Tổng thống tiếp theo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ngài viết: “Như có lẽ bạn đã biết, từ lâu tôi đã ngưỡng mộ Hoa Kỳ như một nền tảng của sự tự do, dân chủ, tự do tôn giáo và pháp quyền. Nhân loại đã đặt niềm hy vọng lớn lao vào tầm nhìn
09 Tháng Mười Một 20208:19 CH(Xem: 280)
Có một chuyện kể trong Phật giáo như sau, có một vị tăng nhân cứu được mạng sống của một người thanh niên tự sát. Người thanh niên sau khi tỉnh dậy, nói với vị tăng nhân: “Cảm ơn đại sư, nhưng xin ngài đừng phí sức cứu tôi bởi vì tôi đã quyết định không sống nữa rồi. Hôm nay cho dù không chết thì ngày mai tôi cũng vẫn chết”.
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 342)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 369)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
05 Tháng Mười Một 20208:12 CH(Xem: 292)
Tất cả chúng ta đều nghĩ đến và chăm lo sức khỏe của mình, chỉ ít hay nhiều tùy theo mình còn trẻ hay già yếu và ốm đau. Thế nhưng sức khỏe không phải chỉ thuộc lãnh vực thân xác mà còn liên quan đến lãnh vực tâm thần. Như vậy thì tín ngưỡng nói chung và Phật giáo nói riêng có giữ một vị trí hay vai trò nào đối với mối quan tâm
04 Tháng Mười Một 20206:03 CH(Xem: 398)
Cách đây vài năm đã xảy ra mấy cuộc biểu tình trên đường phố sau khi một viên quản ngục nhà tù Guantanamo Bay bị buộc tội là đã vứt quyển kinh vào bồn cầu và giật nước cho nó trôi đi. Ngày hôm sau, một ký giả tờ báo địa phương gọi điện thoại cho tôi, nói rằng anh ta đang viết một bài về sự việc vừa xảy ra, muốn hỏi các nhà
03 Tháng Mười Một 202011:39 SA(Xem: 291)
Thuở nhỏ lúc còn cắp sách đến trường tôi hay mỉm cười và mỗi lần như thế thì lại bị mắng và quở phạt. Trong khi đang chép phạt thì lại bị thêm một lần phạt nữa. Lúc nào tôi cũng mỉm cười. Người ta mắng tôi: "Im đi, không được nhạo báng kẻ khác nhé!". Bắt đầu từ đấy tôi mới hiểu được là tại sao lại không được phép cười.
02 Tháng Mười Một 20205:01 CH(Xem: 303)
Con người là một chúng sanh huyền bí có nhiều tiềm năng phi thường. Có hai năng lực trái ngược luôn luôn tiềm tàng ngủ ngầm trong mỗi người. Một, hướng về trạng thái cao thượng trong sạch, đặc tánh của bậc Thánh Nhân và một, hướng về những điều tội lỗi nhơ bẩn của kẻ sát nhân tàn bạo. Cả hai tiềm lực nầy đều có thể phát sanh
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2170)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3855)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5462)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 261)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 342)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 369)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 142)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5271)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 426)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 430)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2923)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1956)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng