Câu Chuyện Về Sư Bà Kisāgotami, Kệ 114, Kho Báu Sự Thật - The Story of Nun Kisāgotami, Verse 114, Treasury Of Truth

02 Tháng Tám 201612:57 CH(Xem: 5604)
Câu Chuyện Về Sư Bà Kisāgotami, Kệ 114, Kho Báu Sự Thật - The Story of Nun Kisāgotami, Verse 114, Treasury Of Truth
Chapter8-114-A

Người Hiểu Rõ Về Sự Không-Sinh-Tử Là Một Người Cao Quý
 Câu Chuyện Về Sư Bà Kisāgotami, Kệ 114 - Kho Báu Sự Thật, Kinh Pháp Cú Minh Họa
Weragoda Sarada Maha Thero - Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến
 Hình Vẽ: P. Wickramanayaka - Source-Nguồn: www.buddhanet.net

The Seer Of The Deathless Is A Worthy One
 The Story of Nun Kisāgotami, Verse 114 - Treasury Of Truth, Illustrated Dhammapada
 Weragoda Sarada Maha Thero - Illustrations by Mr. P. Wickramanayaka


Người Hiểu Rõ Về Sự Không-Sinh-Tử Là Một Người Cao Quý - Câu Chuyện Về Sư Bà Kisāgotami, Kệ 114 - Kho Báu Sự Thật, Kinh Pháp Cú Minh Họa 

 

BÀI KỆ 114:

 

114. Yo ca vassasataṃ jīve

apassaṃ amataṃ padaṃ

ekā’haṃ jīvitaṃ seyyo

passato amataṃ padaṃ. (8:15)

 

Người sống một trăm năm

mà không hiểu rõ về Sự Không-Sinh-Tử

thì không cao quý cho bằng người chỉ sống một ngày

hiểu rõ về Sự Không-Sinh-Tử

 

Trong khi cư trú tại Tu Viện Jetavana (Kỳ Viên), Đức Phật đã nói bài kệ này về sư bà Kisāgotami.

 

Kisāgotami là con gái của một người đàn ông giàu có ở tỉnh Sāvatthi (Xá Vệ); vì thân thể cô gầy ốm nên mọi người gọi cô là Kisāgotami (Kisā = gầy ốm). Chồng của cô Kisāgotami là một chàng thanh niên trẻ tuổi giàu có, và vợ chồng cô có một đứa con trai. Cậu bé con cô, qua đời khi bé mới chập chững tập đi, làm cho cô Kisāgotami hết sức đau buồn, giống như quả tim cô bị tan vỡ. Cô mang xác chết con trai mình đi khắp mọi nơi, để tìm phương thuốc cứu sống con của cô. Mọi người lúc ấy nghĩ rằng cô đang bị điên. Tuy nhiên, có một người đàn ông khôn ngoan hiểu được hoàn cảnh của cô, ông nghĩ ra cách giúp đỡ cô. Do đó, ông nói với cô, "Đức Phật là người mà cô cần gặp, ngài có toa thuốc mà cô đang đi tìm; cô hãy đi gặp ngài." Nghe lời ông, cô đi gặp Đức Phật, và cô xin ngài cho cô toa thuốc để cứu sống con cô.

 

Đức Phật nói với cô rằng, cô hãy đi xin một ít hạt cải (mù tạc) từ một ngôi nhà mà chưa từng có người chết. Bế con trong lòng, cô Kisāgotami đi từ nhà nầy sang nhà khác, để xin hạt cải. Mọi người đều sẵn lòng giúp cô, tuy nhiên, cô không thể nào tìm ra căn nhà mà chưa từng có người chết. Sau đó, cô nhận ra rằng cô không phải phải là gia đình duy nhất mà đang đối mặt với cái chết, vì cô thấy số người đã chết còn nhiều hơn là số người đang còn sống. Ngay sau khinhận ra điều nầy, thái độ của cô đối với đứa con cô nay đã thay đổi; cô không còn bị dính mắc vào thân xác của đứa con cô nữa.

 

Cô để xác con trong rừng, và cô trở về gặp Đức Phật, rồi cô thưa với ngài là cô không thể nào tìm ra căn nhà mà chưa từng có người chết. Sau đó, Đức Phật nói rằng, "Như thế, con không mang về được hạt cải nào, có đúng không?" "Bạch Thế Tôn, dạ đúng. Bất cứ ngôi làng nào con đến, số người đã chết còn nhiều hơn là số người đang còn sống." Rồi, Đức Phật tiếp lời cô, "Trong lúc đau khổ, con tưởng tượng rằng con là người mẹ duy nhất đã mất con. Tuy nhiên, tất cả mọi người đều phải chịu đựng chung một quy luật bất biến, như sau: Thần Chết, giống như là một cơn lũ lụt đang giận dữ, cuốn phăng đi tất cả mọi chúng sinh, rồi hủy hoại họ nơi biển sâu; và cơn lũ lụt nầy thì chẳng bao giờ ngưng nghỉ. Gotami, trước kia con nghĩ rằng con là người mẹ duy nhất có con bị chết. Giờ đây con đã nhận ra, tất cả mọi người đều sẽ phải chết; thần chết sẽ đưa con người ra đi, trước khi các mong ước của họ được hoàn thành." Sau khi nghe xong, cô Kisāgotami hiểu biết thật rõ ràng về sự vô thường, về sự bất toại nguyện, và về sự không-vững-chắc của năm uẩn, và cô đạt quả Nhập Lưu.

 

Sau đó không lâu, cô Kisāgotami trở thành một sư cô. Một ngày kia, khi cô thắp các ngọn đèn dầu lên, cô nhìn thấy các ngọn lửa đột ngột bừng sáng lên, rồi vụt tắt đi, làm cho cô đột nhiên nhận-thấy rõ ràng sự sinh ra, và sự mất đi của con người. Đức Phật, qua sức thần thông, nhìn thấy cô từ tu viện của ngài, và ngài phóng quang rồi xuất hiện trước mắt cô. Ngài bảo cô Kisāgotami rằng, cô hãy tiếp tục thiền định về bản chất vô thường của tất cả chúng sinh, và cô hãy nỗ lực phấn đấu để đạt quả Niết Bàn. Sau đó, cô đã đạt được các tầng lớp cao hơn trong sự giác ngộ về tâm linh

 

BÀI KỆ 114, GIẢI THÍCH TỪ TIẾNG PALI

 

amataṃ padaṃ apassaṃ yo ca vassasataṃ jīve

amataṃ padaṃ passato ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo

 

amataṃ padaṃ: trạng thái không sinh tử (Niết Bàn); apassaṃ: mà không nhìn thấy;

yo ca: nếu một người nào; vassasataṃ jīve: sống một trăm năm;

amataṃ padaṃ: trạng thái không sinh tử (Niết Bàn); passato: của người nhận biết;

ekāhaṃ: (thuộc về, trong) một ngày; jīvitaṃ: cuộc sống; seyyo: là cao quý

 

Người sống chỉ một ngày mà hiểu rõ về sự không-sinh-tử, thì cao quý hơn và tốt hơn là người sống được một trăm năm, mà không hiểu rõ về sự không-sinh-tử.

 

Bài kệ 114 trong Kinh Pháp Cú nầy, đã được anh Tâm Minh Ngô Tằng Giao chuyển dịch thành thơ như sau:

(114) Trăm năm sống chẳng nhận ra. Pháp kia bất tử. Thật là uổng thay! Chẳng bằng sống chỉ một ngày. Mà rồi giác ngộ thấy ngay Niết Bàn. Nơi bất diệt, đẹp vô vàn. Không trò bệnh lão, không màn tử sinh.

 

BÌNH LUẬN

 

amataṃ padaṃ: trạng thái không sinh tử (Niết Bàn). Niết Bàn được mô tả như là trạng thái 'không sinh tử' bởi vì đây là sự chấm dứt các ảo ảnh trong cuộc sống. Đạt được quả Niết Bàn bằng cách loại bỏ đi cá-tính (cái tôi) trong khi trải-nghiệm về năm uẩn.

 

Hình-ảnh của chính-mình, mà chúng ta giữ trong tâm, được tạo ra từ các hiện tượng khách-quan (rồi chúng ta biến đổi theo cách của chúng ta). Con người chúng ta là sự tiếp nối các hình-ảnh nầy của chính-mình, mà được mọi người gọi là cá-tính. Khi chúng ta gỡ bỏ hình-ảnh nầy của chính-mình bằng cách loại bỏ đi phần cá-tính, chúng ta không còn tồn-tại. Khi chúng ta không còn tồn-tại (sống), chúng ta không còn bị chết. Đây chính là trạng thái không-sinh-tử. Khi chúng ta quan sát những gì đang xảy ra, để chúng đến rồi đi, mà không dính mắc vào chúng (cá nhân hóa chúng), có nghĩa là chúng ta đang sống trong trạng-thái Niết Bàn, không còn sinh-tử, ngay bây giờ và ở đây.

The Seer Of The Deathless Is A Worthy One - The Story of Nun Kisāgotami, Verse 114 - Treasury Of Truth, Illustrated Dhammapada 

 

VERSE 114:

 

114. Yo ca vassasataṃ jīve

apassaṃ amataṃ padaṃ

ekā’haṃ jīvitaṃ seyyo

passato amataṃ padaṃ. (8:15)

 

Though one should live a hundred years

not seeing the Deathless State,

yet better is life for a single day

seeing Deathlessness.

 

While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke this verse, with reference to Kisāgotami.

 

Kisāgotami was the daughter of a rich man from Sāvatthi; she was known as Kisāgotami because of her slim body. Kisāgotami was married to a rich young man and a son was born to them. The boy died when he was just a toddler and Kisāgotami was stricken with grief. Carrying the dead body of her son, she went about asking for medicine that would restore her son to life from everyone she happened to meet. People began to think that she had gone mad. But a wise man seeing her condition thought that he should be of some help to her. So, he said to her, “The Buddha is the person you should approach, he has the medicine you want; go to him.” Thus, she went to the Buddha and asked him to give her the medicine that would restore her dead son to life.

 

The Buddha told her to get some mustard seeds from a house where there had been no death. Carrying her dead child in her bosom, Kisāgotami went from house to house, with the request for some mustard seeds. Everyone was willing to help her, but she could not find a single house where death had not occurred. Then, she realized that hers was not the only family that had faced death and that there were more people dead than living. As soon as she realized this, her attitude towards her dead son changed; she was no longer attached to the dead body of her son.

 

She left the corpse in the jungle and returned to the Buddha and reported that she could find no house where death had not occurred. Then the Buddha said, “Did you not get the single pinch of mustard seed?” “No, that did I not, Venerable. In every village the dead are more in number than the living.” Said the Buddha, “Vainly did you imagine that you alone had lost a child. But all living beings are subject to an unchanging law, and it is this: The prince of death, like a raging torrent, sweeps away into the sea of ruin all living beings; with their longings still unfulfilled. Gotami, you thought that you were the only one who had lost a son. As you have now realized, death comes to all beings; before their desires are fulfilled death takes them away.” On hearing this, Kisāgotami fully realized the impermanence, unsatisfactoriness and insubstantiality of the aggregates and attained sotāpatti fruition.

 

Soon afterwards, Kisāgotami became a nun. One day, as she was lighting the lamps she saw the flames flaring up and dying out, and suddenly she clearly perceived the arising and the perishing of beings. The Buddha, through supernormal power, saw her from his monastery, and sent forth his radiance and appeared to her in person. Kisāgotami was told to continue meditating on the impermanent nature of all beings and to strive hard to realize Nibbāna. She reached higher stages of spiritual awakening.

 

EXPLANATORY TRANSLATION (VERSE 114)

 

amataṃ padaṃ apassaṃ yo ca vassasataṃ jīve

amataṃ padaṃ passato ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo

 

amataṃ padaṃ: Deathless state (nibbāna); apassaṃ: without seeing;

yo ca: if an individual; vassasataṃ jīve: were to live a hundred years;

amataṃ padaṃ: the deathless state (nibbāna); passato: the perceiver’s;

ekāhaṃ: one day’s; jīvitaṃ: life; seyyo: is noble

 

A single day’s life of a person who sees the state of deathlessness is far greater and nobler than the hundred-year life-span of a person who does not perceive the deathless state.

 

COMMENTARY

 

amataṃ padaṃ: the state of deathlessness – Nibbāna. Nibbāna is characterized as ‘the deathless’ because it is the cessation of the illusion of existence. Nibbāna has to be won by depersonalizing the personalized five-fold totality (pancūpādāna khanda) of experience.

 

The self image of existence that we carry in our mind is created by the personalization of impersonal phenomena. Our existence or being is the continuation of this self image called personality. When we have removed this self image through depersonalization, we cease to exist. When we cease to exist, we cease to die. This is the deathless state. To observe the experience, as it comes and goes, without personalizing it, is to experience the deathless Nibbāna here and now. 


Source-Nguồn: http://www.buddhanet.net/pdf_file/dhammapadatxt1.pdf

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Tám 2020(Xem: 1050)
18 Tháng Tám 2019(Xem: 2521)
16 Tháng Tám 2019(Xem: 2873)
23 Tháng Tám 2018(Xem: 4307)
16 Tháng Tư 2018(Xem: 4098)
09 Tháng Chín 2017(Xem: 4115)
29 Tháng Tám 2017(Xem: 4263)
28 Tháng Tám 2017(Xem: 3860)
27 Tháng Tám 2017(Xem: 4613)
26 Tháng Tám 2017(Xem: 4270)
22 Tháng Tám 2017(Xem: 4039)
16 Tháng Tám 2017(Xem: 4518)
15 Tháng Tám 2017(Xem: 3590)
25 Tháng Mười Hai 2016(Xem: 4930)
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 20)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 106)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 142)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 154)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 176)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 191)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 261)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 217)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 247)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 259)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 252)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 246)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
10 Tháng Mười Một 20208:33 CH(Xem: 522)
Sáng nay, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết thư cho Joe Biden để chúc mừng Ông được bầu làm Tổng thống tiếp theo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ngài viết: “Như có lẽ bạn đã biết, từ lâu tôi đã ngưỡng mộ Hoa Kỳ như một nền tảng của sự tự do, dân chủ, tự do tôn giáo và pháp quyền. Nhân loại đã đặt niềm hy vọng lớn lao vào tầm nhìn
09 Tháng Mười Một 20208:19 CH(Xem: 280)
Có một chuyện kể trong Phật giáo như sau, có một vị tăng nhân cứu được mạng sống của một người thanh niên tự sát. Người thanh niên sau khi tỉnh dậy, nói với vị tăng nhân: “Cảm ơn đại sư, nhưng xin ngài đừng phí sức cứu tôi bởi vì tôi đã quyết định không sống nữa rồi. Hôm nay cho dù không chết thì ngày mai tôi cũng vẫn chết”.
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 342)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 369)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
05 Tháng Mười Một 20208:12 CH(Xem: 292)
Tất cả chúng ta đều nghĩ đến và chăm lo sức khỏe của mình, chỉ ít hay nhiều tùy theo mình còn trẻ hay già yếu và ốm đau. Thế nhưng sức khỏe không phải chỉ thuộc lãnh vực thân xác mà còn liên quan đến lãnh vực tâm thần. Như vậy thì tín ngưỡng nói chung và Phật giáo nói riêng có giữ một vị trí hay vai trò nào đối với mối quan tâm
04 Tháng Mười Một 20206:03 CH(Xem: 398)
Cách đây vài năm đã xảy ra mấy cuộc biểu tình trên đường phố sau khi một viên quản ngục nhà tù Guantanamo Bay bị buộc tội là đã vứt quyển kinh vào bồn cầu và giật nước cho nó trôi đi. Ngày hôm sau, một ký giả tờ báo địa phương gọi điện thoại cho tôi, nói rằng anh ta đang viết một bài về sự việc vừa xảy ra, muốn hỏi các nhà
03 Tháng Mười Một 202011:39 SA(Xem: 291)
Thuở nhỏ lúc còn cắp sách đến trường tôi hay mỉm cười và mỗi lần như thế thì lại bị mắng và quở phạt. Trong khi đang chép phạt thì lại bị thêm một lần phạt nữa. Lúc nào tôi cũng mỉm cười. Người ta mắng tôi: "Im đi, không được nhạo báng kẻ khác nhé!". Bắt đầu từ đấy tôi mới hiểu được là tại sao lại không được phép cười.
02 Tháng Mười Một 20205:01 CH(Xem: 303)
Con người là một chúng sanh huyền bí có nhiều tiềm năng phi thường. Có hai năng lực trái ngược luôn luôn tiềm tàng ngủ ngầm trong mỗi người. Một, hướng về trạng thái cao thượng trong sạch, đặc tánh của bậc Thánh Nhân và một, hướng về những điều tội lỗi nhơ bẩn của kẻ sát nhân tàn bạo. Cả hai tiềm lực nầy đều có thể phát sanh
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2170)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3855)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5462)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 261)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 342)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 369)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 142)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5271)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 426)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 430)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2924)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1956)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng