Biết Và Thấy - Knowing And Seeing

26 Tháng Chín 20173:54 CH(Xem: 2458)
Biết Và Thấy - Knowing And Seeing

KnowingAndSeeing_1A

BietVaThay_1


Biết Và Thấy - Knowing And Seeing

Pa-Auk Tawya Sayadaw

Dịch giả: Pháp Thông

Nhà xuất bản Tôn Giáo 2012

Nguồn: dhammatalks.net, vienkhong.org, thuvienhoasen.org

 

__________________

MỤC LỤC  CONTENTS

Lời Giới Thiệu: Giáo Pháp Của Đức Phật

 

Bài Pháp Thoại 1: Làm Thế Nào Để Tu Tập Niệm Hơi Thở Đạt Đến An Chỉ Định - Hỏi & Đáp 1

 

Bài Pháp Thoại 2: Hành Giả Tu Tập An Chỉ Định Trên Các Đề Mục Thiền Khác Như Thế Nào - Hỏi & Đáp 2

 

Bài Pháp Thoại 3: Tu Tập Bốn Phạm Trú Và Bốn Thiền Bảo Hộ - Hỏi & Đáp 3

 

Bài Pháp Thoại 4 - Làm Thế Nào Để Phân Biệt Sắc - Hỏi & Đáp 4

 

Bài Pháp Thoại 5: Phân Biệt Danh - Hỏi & Đáp 5

 

Bài Pháp Thoại 6: Làm Thế Nào Để Thấy Những Mắc Xích Của Duyên Khởi - Hỏi & Đáp 6

 

Bài Pháp Thoại 7: Tu Tập Các Tuệ Minh Sát Như Thế Nào Để Thấy Niết-Bàn - Hỏi & Đáp 7

 

Bài Pháp Thoại 8: Những Ước Nguyện Của Đức Phật Cho Các Hàng Đệ Tử Và Giáo Pháp Của Ngài

 

Bài Pháp Thoại 9: Loại Cúng Dường Cao Thượng Nhất

 

"Bhikkhus, I say that the destruction of the
taints is for one who knows and sees, not
for one who does not know and see."
(Này các Tỳ khưu, Ta nói có sự đoạn trừ
các lậu hoặc cho người biết và thấy, chứ
không cho người không biết, không thấy.)

 

Tables

Contents in Detail

Foreword (First Edition)

Introduction (Revised Edition)

 

1: How You Develop Mindfulness-of-Breathing to Absorption

Questions and Answers 1

 

2: How You Develop Absorption on Other Subjects

Questions and Answers 2

 

3: How You Develop the Sublime Abidings and Protective Meditations

Questions and Answers 3

 

4: How You Discern Materiality

Questions and Answers 4

 

5: How You Discern Mentality

Questions and Answers 5

 

6: How You See the Links of Dependent Origination

Questions and Answers 6

 

7: How You Develop the Vipassanā Knowledges to See Nibbāna

Questions and Answers 7

 

8: The Buddha’s Wishes for His Disciples and His Teachings

 

9: The Most Superior Type of Offering

 

The Forty Meditation-Subjects

Editorial Notes

Bibliographical Abbreviations

Appendix 1: Glossary of Untranslated Pali Terms

Appendix 2: Contact Addresses

Index of Questions from Yogis

Main Index

__________________

BÀI PHÁP THOẠI 8

 

Những Ước Nguyện Của Đức Phật Cho Các Hàng Đệ Tử Và Giáo Pháp Của Ngài

(Bài giảng nhân ngày lễ Vesākha)

 

ĐỨC PHẬT TỪ BỎ THỌ HÀNH `

 

(Thọ hành (āusankhārā) theo Chú Giải biểu thị cho chính tuổi thọ (āyu), một từ được xác nhận là đồng nghĩa với mạng căn (jīvitindriya), có chức năng duy trì sự sống. Xem N.444/MN.)

 

Mùa hạ (Vassa) cuối cùng, đức Phật trải qua trong ngôi làng Veḷuna. Thời gian ấy, một cơn đau kịch liệt khởi lên nơi Ngài. Vào ngày trăng tròn tháng Asāḷha(tháng 6), một cơn đau lưng buốt nhức cực độ bất ngờ tấn công Ngài, do nghiệp đời trước.

 

Một trong những tiến kiếp của Ngài, đức Phật đã từng là võ sĩ. Có lần Ngài đã đánh ngã một đối thủ và làm gãy lưng người này. Bất thiện nghiệp ấy khi chín muồi đã cho quả của nó, đó là mười tháng trước ngày nhập Vô Dư Niết-bàn của Ngài. Nghiệp quả ấy mạnh đến độ kéo dài cho đến lúc chết. Một thọ khổ như vậy được gọi là "thọ (khổ) chấm dứt vào lúc chết" (maranatikavedanā), tức là nó chỉ dừng lại khi cái chết xảy ra.

 

Đức Phật đã ngăn không cho thọ khổ đó khởi lên nhờ nhập A-la-hán Thánh quả định (Arahattaphala samāpatti) và thực hiện một quyết định (adhiṭṭhāna). Trước tiên, đức Phật nhập A-la-hán Thánh quả định dựa trên bảy cách quán sắc (rūpa sattaka vipassanā). Sau khi hành những pháp quán ấy xong và ngay trước khi nhập vào A-la-hán Thánh quả định, đức Phật quyết định: "Kể từ hôm nay cho đến ngày Niết-bàn, mong cho những thọ khổ này không khởi lên", sau đó Ngài mới nhập Thánh quả định. A-la-hán Thánh quả định là tâm quả A-la-hán với Niết-bàn làm đối tượng, khởi lên liên tục trong một thời gian dài. Do việc hành vipassanātrước đó kiên trì và mãnh liệt mà A-la-hán Thánh quả định cũng mãnh liệt và kiên trì như vậy. Chính nhờ nỗ lực của minh sát và định lực của Thánh quả mà thọ khổ đã không khởi lên trong mười tháng còn lại cho đến ngày Đại Niết-bàn của đức Phật. Nhưng trong thời gian đó, mỗi ngày đức Phật đều phải nhập Thánh quả đều đặn.

 

Sau mùa an cư (Vassa), đức Phật vân du từ nơi này đến nơi khác, và cuối cùng đến tại Tỳ - xá - ly (Vesālī). Ba tháng trước ngày trăng tròn tháng Vesāka(rằm tháng Tư), tức là vào ngày rằm tháng Giêng tại ngôi tháp Cāpāla(Cāpāla cetiya), đức Phật quyết định xả bỏ thọ hành (āyusankhāra ossajana), nghĩa là, vào ngày đó Ngài quyết định:

 

"Temāsamattameva pana samāpattiṃsamāpajjitvā tato paraṃna samāpajjissāmīti cittaṃsamāpajjitva cittaṃuppādasi"

(Từ hôm nay cho đến trăng tròn tháng Vesākhata sẽ thực hành Thánh quả định này. Rồi sau đó ta sẽ không hành pháp ấy nữa.)

 

ĐỨC PHẬT TUYÊN BỐ NHỮNG ƯỚC NGUYỆN CỦA NGÀI 

 

Vào ngày đó, trước chúng Tăng tỳ khưu tại đại giảng đường của chùa mahàvana, đức Phật thông báo Ngài xả bỏ thọ hành. Ngài nói với chúng tỳ khưu:

 

"Tasmātiha bhikkhave ye te mayā dhammā abhiññā desitā, te vo sādhukaṃuggahetva āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā.

(Này chư tỳ khưu, ta đã giải thích rõ những Chân lý (dhamma) mà ta đã tự mình thắng tri cho các người. Các người cần phải khéo học tập, trau dồi, tu tập và thực hành thường xuyên những pháp ấy).

 

Như vậy, đức Phật chỉ dạy pháp mà Ngài đã tự chứng. Ở đây đức Phật tuyên bố những ước nguyện của Ngài cho Giáo Pháp và chỉ dạy Tăng chúng:

 

1. Tăng chúng cần phải nắm vững những lời dạy của Ngài, nhưng nắm vững thôi thì chưa đủ. Đây là ước nguyện thứ nhất của đức Phật.

 

2. Ngài chỉ dạy Tăng chúng nên trau dồi pháp. Trong Pāḷithường gọi là sevitabbā, có nghĩa rằng chúng ta phải cố gắng hiểu pháp này bằng sự thực hành thường xuyên, nên chúng tôi dịch là trau dồi. Đây là ước nguyện thứ hai của đức Phật.

 

3. Cuối cùng Ngài chỉ dạy Tăng chúng phải tu tập (bhāvetabbā) các pháp. Khi chúng ta trau dồi, nhất thiết phải có sự tăng trưởng và tiến bộ.

 

Điều đó có nghĩa là gì? Khi chúng ta hành pháp, chỉ có những thiện pháp (kusala dhamma) khởi lên trong tiến trình tâm của chúng ta. Các thiện pháp đó là, giới thiện pháp (sīla kusaladhamma), định thiện pháp (samādhi kusaladhamma) và tuệ thiện pháp (paññā kusaladhamma). Những thiện pháp này phải khởi lên không gián đoạn cho đến quả vị A-la-hán. Nếu một vị Thanh Văn đệ tử (Sāvaka) của đức Phật đắc A-la-hán Thánh quả thì việc thực hành (bhāvanā) của họ kể như hoàn tất. Vì thế, một đệ tử của đức Phật phải thực hành những lời dạy của đức Phật cho đến khi đạt đến cứu cánh, tức là sự trau dồi phải được phát triển cho đến Thánh quả A-la-hán. Để đạt đến A-la-hán Thánh quả chúng ta phải thực hành thường xuyên. Vì lý do đó, đức Phật đã đưa ra lời chỉ dẫn "bahulīkātabba", có nghĩa là chúng ta phải thực hành một cách thường xuyên. Đây là ước nguyện thứ ba của đức Phật.

 

Những ước nguyện này vì sao lại khởi lên trong tiến trình tâm của đức Phật?

 

"Yathayidaṃbrahmacariyaṃaddhaniyaṃassa ciraṭṭhikikaṃ."

(Để cho lời dạy thuần tịnh này có thể được an lập và bền lâu).

 

Đó là, duy trì lời dạy thuần tịnh này sao cho nó có thể bền vững trong một thời gian lâu dài.

 

PHẬN SỰ CỦA CHÚNG TA VỚI TƯ CÁCH LÀ NHỮNG PHẬT TỬ

 

Duy trì lời dạy này không để cho thất tán là bổn phận hết sức quan trọng của mỗi người Phật tử. Do đó, chúng ta phải cố gắng:

 

- Nắm vững (hiểu rõ) tất cả những lời dạy của đức Phật.

- Thực hành những lời dạy của đức Phật như thế nào để hiểu được pháp ấy qua kinh nghiệm tự thân.

- Thực hành những lời dạy đó cho đến quả vị A-la-hán.

 

Đây là những bổn phận của mọi Phật tử. Là một Phât tử, chúng ta phải theo những chỉ dẫn này. Nếu không theo những điều này, chúng ta chỉ là Phật tử trên danh nghĩa chứ không phải người Phật tử chân chánh. Tóm lại, người nào hành theo ba phận sự này một cách triệt để, người ấy là một Phật tử chân chánh. Vì thế, hôm nay quý vị có thể quyết định:

 

- Ta sẽ cố gắng nắm vững tất cả những lời dạy của đức Phật.

- Ta sẽ cố gắng thực hành những lời dạy ấy để hiểu được chúng qua kinh nghiệm tự thân.

- Ta sẽ thực hành những lời dạy của đức Phật cho đến quả vị A-la-hán.
...

TALK 8:


The Buddha’s Wishes For His Disciples And His Teachings

(Talk given on Vesākha Day)

 

THE BUDDHA RELINQUISHES THE WILL TO LIVE

 

The Buddha spent His last rains (vassa) in the village of Veḷuva. At that time there arose in Him a severe affliction. On the full-moon day of Asāḷha, a sharp and deadly back pain came upon Him, because of previous kamma.

 

In one of his past lives, the Bodhisatta, who was to become Sakyamuni Buddha, was a wrestler. Once he threw down an opponent and broke the opponent’s back. When mature, that unwholesome kamma (akusala•kamma) produced its result, which was ten months before Sakyamuni Buddha’s Parinibbāna. The effect of that kamma was so powerful that it would last until death. Such an affliction is called ‘feeling ending at death’ (mara •antika•vedāna). It ceases only when death occurs.

 

The Buddha prevented that affliction from arising through entering an Arahant Fruition and making a determination (adhi hāna). First The Buddha entered the Arahant-Fruition Attainment (Arahatta•Phala•Samāpatti) based on the Seven Ways for Materiality (rūpa•sattaka•vipassanā) and Seven Ways for Mentality (a•rūpa•sattaka•vipassanā). After those vipassanā practices and just before entering the Arahant Fruition-Attainment, The Buddha determined:

 

From today until the day of my Parinibbāna, may this affliction not occur.

 

And then He entered the Arahant Fruition-Attainment. Arahant Fruition-Attainment means that the Arahant Fruition-Consciousness, with Nibbāna as object, occurs continuously for a long time. Because the vipassanā practices were strong and powerful, the Arahant Fruition-Attainment too was strong and powerful. Because of the effort of the vi-passanā and the effort of the Fruition-Attainment the affliction did not occur in the ten months that were left until the day of The Buddha’s Parinibbāna. But He had to enter that Fruition-Attainment every day until then.

 

After the vassa, The Buddha wandered from place to place, and eventu-ally reached Vesālī. Three months before Vesākha full-moon day, on the full-moon day of February, at the Cāpāla Cetiya, The Buddha decided to relinquish the will to live (āyu•sa khāra ossajjana). What does that mean? On that day He decided:

 

Temāsamattameva pana samāpatti samāpajjitvā tato para na samāpaj-jissāmīti citta uppādesi.

 

From today until the full-moon day of Vesākha I shall practise this Fruition Attainment. Then I shall no longer practise it.

 

THE BUDDHA DECLARES HIS WISHES

 

So on that day, in front of the assembled Bhikkhu Saṅgha, in the assembly hall of the Mahāvana monastery, The Buddha announced that He had relinquished the will to live. He said to the Bhikkhu Saṅgha:

 

Tasmātiha bhikkhave ye te mayā dhammā abhiññā desitā, te vo sādhuka uggahetva āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā.

 

Bhikkhus, you, to whom I have made known  the Truths about which I have direct knowledge, having thoroughly learnt them, should cultivate them, develop them, and frequently practise them.

 

The Buddha taught only the Dhamma about which He had direct experience. Here The Buddha declared His wishes for His teachings, and instructed the Saṅgha as follows:

 

1) They should learn His Teachings (Dhamma) thoroughly by heart, but learning by heart alone is not enough. This was The Buddha’s first wish.

 

2) He instructed them to cultivate His Teachings (Dhamma). In Pali it is called āsevitabbā, and means that we must try to know this Dhamma in practice again and again. It is translated as cultivation. This was The Buddha’s second wish.

 

3) Finally, He instructed them to develop (bhāvetabbā) the Truths. When we cultivate, growth and progress are necessary.

 

What does that mean? When we practise the Dhamma, only wholesome dhammas (kusala•dhamma) must occur in our mental processes. That is, wholesome morality dhammas (sīla•kusala•dhamma), wholesome concentration dhammas (samādhi•kusala•dhamma) and wholesome wisdom dhammas (paññā•kusala•dhamma). These wholesome dhammas must occur without a break until Arahantship. If a disciple (sāvaka) of The Buddha attains Arahantship, his practice (bhāvanā) is over. So a disciple of The Buddha must practise The Buddha’s Teachings until he attains that goal: the cultivation must be developed until Arahantship. To reach Arahantship, we must practise again and again. For that reason The Buddha gave the instruction of bahulīkātabbā, which means we must practise frequently. This was The Buddha’s third wish.

 

These wishes occured in The Buddha’s mental processes. Why?

 

Yathayida brahmacariya addhaniya assa cira hitika.

 

So that the pure Teaching may be established and last long.

 

That is, to maintain the pure Teaching so that it can last for a long time.

 

OUR DUTY AS BUDDHISTS

 

It is very important that every Buddhist maintains the pure Teaching, so that it is not lost. We must try. What should we try to do? We repeat:

 

1) We should try to learn The Buddha’s Teachings (Dhamma) thoroughly by heart.

 

2) We should try to practise The Buddha’s Teachings so as to know them through personal experience.

 

3) We should try to practise The Buddha’s Teachings until Arahantship.

 

These are the duties of all Buddhists. If one is a Buddhist one must follow these three instructions. If one does not follow them then one is a Buddhist in name only: not a real Buddhist. If one follows these three instructions thoroughly, then one is a real Buddhist. So you can today determine:

 

1) We will try to learn The Buddha’s Teachings thoroughly by heart.

 

2) We will try to practise The Buddha’s Teachings so as to know them through personal experience.

 

3) We will try to practise The Buddha’s Teachings until Arahantship.

...


__________________


Biết Và Thấy 
1_PDFBietVaThay_B (Nguyên Tập)


__________________


Knowing And Seeing
1_PDF
KnowingAndSeeing (Whole Book)


__________________


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19 Tháng Sáu 20199:07 CH(Xem: 42)
Ngã mạn là một trong những thứ đã cắm rễ ăn sâu nơi mỗi con người chúng ta, nếu không khéo nhìn thấy cho rõ thì nó sẽ làm trở ngại con đường tiến đạo của mình. Nhiều lúc dụng công tu tập rất nhiều, nhưng nếu chúng ta không để ý những cái phụ kèm theo, cụ thể ở đây là ngã mạn, kiêu ngạo, thì chính những cái tưởng chừng như nhỏ đó,
18 Tháng Sáu 201910:55 CH(Xem: 47)
Kính thưa Thầy, từ lâu khi con còn nhỏ nhìn các vị tu sĩ con đều cảm kích. Lớn lên gặp Phật pháp con càng quý trong các Tăng Ni. Từ khi biết Phật pháp 11 năm nay con luôn ước nguyện trong đời này là đi xuất gia, nhưng con có một suy tư rằng nếu đi tu mà phiền não tham, sân, si hơn ngoài đời liệu có là gánh nặng cho chùa không ạ.
17 Tháng Sáu 201910:23 CH(Xem: 65)
Có hai người bạn rất thân, nhân ngày sinh nhật, người A viết thư mời người B: “Ngày mai là ngày vui của tôi, tôi xin mời bạn đến để dự tiệc. Nếu bạn không đi thì bạn khinh thường tôi, nếu bạn đi thì tôi cho bạn là người tham ăn”. Nếu quý vị là người được mời trong trường hợp đó thì nên đi hay là không nên đi? Nếu đi thì bị xem là tham ăn,
16 Tháng Sáu 201910:17 CH(Xem: 79)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
16 Tháng Sáu 201910:16 CH(Xem: 1942)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
16 Tháng Sáu 20199:00 CH(Xem: 66)
Trong Phật giáo, cái thực chính là pháp. Pāli là Dhamma, Sanskrit là Dharma, là pháp được dùng để chỉ cái thực này. "Ai thấy Pháp tức là thấy Như Lai, ai thấy Như Lai tức thấy Pháp". Chúng ta có thể nói một cách khác: "Ai thấy cái thực tức thấy Như Lai, ai thấy Như Lai tức thấy cái thực". Vậy chúng ta tạm chấp nhận tiền đề: Thực là pháp, pháp là thực.
15 Tháng Sáu 20198:35 CH(Xem: 64)
Có thể biết được thế nào là một người có niệm hay không có niệm. Một người có chánh niệm họ thoải mái với hiện tại và họ để tâm vào hiện tại, cái gì họ làm thì làm với trọn vẹn tâm tư của họ. Một người thất niệm là người không huấn luyện mình giữ sự chú ý lấy mình, có nhiều khi đang nói chuyện này mình nghĩ sang chuyện kia,
14 Tháng Sáu 201911:12 CH(Xem: 71)
Ở đoạn cuối truyện Cửa tùng đôi cánh gài của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, ta thấy vị sư huynh khi soi vào gương đã không thấy gương mặt của mình mà là mặt của “một con yêu to lớn với đôi mắt tối sâu như hai miệng giếng không đáy, hai chiếc răng dài quặp sâu vào chiếc cằm vuông, trên một khuôn mặt xám ngoét như gà cắt tiết”.
13 Tháng Sáu 201910:45 CH(Xem: 75)
Một người bị giết hại có phải do nhân từ nhiều kiếp trước bây giờ trổ quả, điều này có đúng với giáo pháp nhà Phật không? Vậy thì Phật pháp giải thích thế nào về kẻ ra tay giết hại người khác? Do nhân duyên gì mà họ làm ác như vậy? Tôi có đọc sách nhân quả nhà Phật có nói do kiếp trước tạo nhân xấu nên đời này sinh ra bị khuyết tật.
12 Tháng Sáu 201910:42 CH(Xem: 78)
...Thưa Thầy, những lúc sức khỏe không tốt, con thấy mình yếu đuối quá, co thắt hết tâm can. Con rất cần một bàn tay ấm áp, cần một nơi bình yên, cần một chỗ dựa cho qua những ngày tháng, nhưng rồi chỉ còn cách duy nhất là vẫn cứ quan sát, quan sát. Có lẽ người tu hành là người cô độc nhất trần đời. Nhưng con cũng lì đòn hơn, con biết.
10 Tháng Sáu 20198:59 CH(Xem: 108)
Câu chuyện tôi sắp kể ra đây xảy ra vào năm 1957. Lúc đó tôi thọ giới tỳ kheo được bốn năm. Tôi hoan hỉ hăng say học Phật Pháp. Trong đó, có câu chuyện về Phật tử Dhammika trong quyển Chú giải Kinh Pháp Cú làm tôi quan tâm hơn cả. Cư sĩ Dhammika là một Phật tử tín tâm thời Đức Phật còn tại thế. Toàn thể gia quyến ông thực hành
09 Tháng Sáu 20194:46 CH(Xem: 100)
Tôi được biết trong lục đạo có trời, người, a-tu-la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục. Nhưng một lần nghe pháp, một vị thầy nói là không có địa ngục, vậy địa ngục có thật không? Và, sau khi chết thì đi đầu thai ngay, không hề có việc trải qua 49 ngày, điều này đúng không? Đức Phật có thực sự phù hộ không vì mọi việc đều do nghiệp của mình quyết định?
08 Tháng Sáu 201910:12 CH(Xem: 100)
Từ khi mẹ tôi mất đến nay được hai năm, vợ chồng tôi đã ăn chay, giữ giới, niệm Phật, làm nhiều việc thiện, tổ chức trai đàn cầu siêu, thỉnh chư Tăng cúng dường… để hồi hướng phước báo cầu siêu cho mẹ. Tuy vậy, tôi vẫn chưa biết mẹ có được siêu thoát hay chưa? Vậy có nên nhờ các nhà ngoại cảm gọi hồn để xem hiện giờ mẹ thế nào?
07 Tháng Sáu 20192:54 CH(Xem: 137)
Nội dung tập sách này ngoài ghi lời giảng dạy của Thầy Viện Chủ, chúng tôi còn trích nguyên văn một số bài kinh giáo lý căn bản như Phật nói về giáo lý Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Nhân quả v.v... trong Trung Bộ Kinh (và Tăng Chi Bộ Kinh) do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch
06 Tháng Sáu 201910:23 CH(Xem: 133)
Tập này phần nhiều chúng tôi ghi tài liệu trích giảng trong các bộ Kinh A Hàm. Lý do là sau mùa An Cư năm 1985, nhân dịp rảnh rổi Thầy Viện Chủ nghiên cứu tạng Kinh Pali của Phật giáo Nguyên Thủy (do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch ra chữ Việt), sau những buổi chiều nghỉ ngơi, Thầy thường thuật tóm lược lại,
05 Tháng Sáu 20198:24 CH(Xem: 145)
Tập sách nhỏ này do các Thiền sinh tại Tu viện Chơn Không ghi lại các buổi nói chuyện của Thầy Viện Chủ trong những buổi chiều tại Trai đường hoặc ở nhà khách. Những buổi nói chuyện này không cố định dài ngắn hay sắp theo thứ tự từ thấp lên cao hoặc một hệ thống giáo lý nào
01 Tháng Sáu 201912:51 CH(Xem: 133)
Mỗi khi có sự tranh chấp, buồn phiền, chúng ta thường có khuynh hướng đổ lỗi cho người khác. Sau đây là ba trường hợp: a. Người chưa biết đạo thì luôn cho mình đúng và người kia lỗi 100%. b. Người bắt đầu học đạo, biết tu thì thấy cả hai bên đều có lỗi 50%. c. Người hiểu đạo thì thấy mình lỗi 100%. 1/ Người chưa biết đạo thì luôn
31 Tháng Năm 20198:23 SA(Xem: 182)
Mùa hè năm 1996, tôi có dịp sang Canada thuyết giảng và hướng dẫn vài khóa tu học. Một số Phật tử đã thâu băng những buổi giảng và chép ra để làm tài liệu tu tập. Vì thấy những lời dạy có thể đem lại lợi ích cho người khác nên họ xin phép in lại thành sách. Nhân dịp này tôi đã viết và bổ túc thêm. Được chút công đức nào,
30 Tháng Năm 201912:29 CH(Xem: 162)
Mục đích chung của người tu Phật là cầu giác ngộ giải thoát, nhưng đối với người theo Phật giáo Đại Thừa thì mục đích chính là phải cầu thành Phật. A La Hán cũng giác ngộ giải thoát, Bích Chi Phật cũng giác ngộ giải thoát, chư Tổ Thiền cũng giác ngộ giải thoát, nhưng các Ngài vẫn chưa phải là Phật. Nhưng tại sao lại phải cầu thành Phật chứ?
29 Tháng Năm 20196:09 CH(Xem: 178)
Đức Phật Thích Ca xưa kia do tu Thiền mà giác ngộ giải thoát. Nhưng khi nói đến Thiền thì nhiều người hoang mang vì có cả một rừng Thiền nào là Như Lai Thiền, Tổ Sư Thiền, Thiền Đốn Ngộ, Thiền xuất hồn, Thiền Yoga, Thiền Tây Tạng, Thiền Zen...
16 Tháng Sáu 201910:17 CH(Xem: 79)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
16 Tháng Sáu 201910:16 CH(Xem: 1942)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 986)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
07 Tháng Sáu 20192:54 CH(Xem: 137)
Nội dung tập sách này ngoài ghi lời giảng dạy của Thầy Viện Chủ, chúng tôi còn trích nguyên văn một số bài kinh giáo lý căn bản như Phật nói về giáo lý Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Nhân quả v.v... trong Trung Bộ Kinh (và Tăng Chi Bộ Kinh) do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch
06 Tháng Sáu 201910:23 CH(Xem: 133)
Tập này phần nhiều chúng tôi ghi tài liệu trích giảng trong các bộ Kinh A Hàm. Lý do là sau mùa An Cư năm 1985, nhân dịp rảnh rổi Thầy Viện Chủ nghiên cứu tạng Kinh Pali của Phật giáo Nguyên Thủy (do Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch ra chữ Việt), sau những buổi chiều nghỉ ngơi, Thầy thường thuật tóm lược lại,
05 Tháng Sáu 20198:24 CH(Xem: 145)
Tập sách nhỏ này do các Thiền sinh tại Tu viện Chơn Không ghi lại các buổi nói chuyện của Thầy Viện Chủ trong những buổi chiều tại Trai đường hoặc ở nhà khách. Những buổi nói chuyện này không cố định dài ngắn hay sắp theo thứ tự từ thấp lên cao hoặc một hệ thống giáo lý nào
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 763)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 1051)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 1326)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 4362)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
24 Tháng Giêng 20194:07 CH(Xem: 660)
Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Nhiều Tác Giả - Many Authors)
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 680)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,