Biết Và Thấy - Knowing And Seeing

26 Tháng Chín 20173:54 CH(Xem: 1711)
Biết Và Thấy - Knowing And Seeing

KnowingAndSeeing_1A

BietVaThay_1


Biết Và Thấy - Knowing And Seeing

Pa-Auk Tawya Sayadaw

Dịch giả: Pháp Thông

Nhà xuất bản Tôn Giáo 2012

Nguồn: dhammatalks.net, vienkhong.org, thuvienhoasen.org

 

__________________

MỤC LỤC  CONTENTS

Lời Giới Thiệu: Giáo Pháp Của Đức Phật

 

Bài Pháp Thoại 1: Làm Thế Nào Để Tu Tập Niệm Hơi Thở Đạt Đến An Chỉ Định - Hỏi & Đáp 1

 

Bài Pháp Thoại 2: Hành Giả Tu Tập An Chỉ Định Trên Các Đề Mục Thiền Khác Như Thế Nào - Hỏi & Đáp 2

 

Bài Pháp Thoại 3: Tu Tập Bốn Phạm Trú Và Bốn Thiền Bảo Hộ - Hỏi & Đáp 3

 

Bài Pháp Thoại 4 - Làm Thế Nào Để Phân Biệt Sắc - Hỏi & Đáp 4

 

Bài Pháp Thoại 5: Phân Biệt Danh - Hỏi & Đáp 5

 

Bài Pháp Thoại 6: Làm Thế Nào Để Thấy Những Mắc Xích Của Duyên Khởi - Hỏi & Đáp 6

 

Bài Pháp Thoại 7: Tu Tập Các Tuệ Minh Sát Như Thế Nào Để Thấy Niết-Bàn - Hỏi & Đáp 7

 

Bài Pháp Thoại 8: Những Ước Nguyện Của Đức Phật Cho Các Hàng Đệ Tử Và Giáo Pháp Của Ngài

 

Bài Pháp Thoại 9: Loại Cúng Dường Cao Thượng Nhất

 

"Bhikkhus, I say that the destruction of the
taints is for one who knows and sees, not
for one who does not know and see."
(Này các Tỳ khưu, Ta nói có sự đoạn trừ
các lậu hoặc cho người biết và thấy, chứ
không cho người không biết, không thấy.)

 

Tables

Contents in Detail

Foreword (First Edition)

Introduction (Revised Edition)

 

1: How You Develop Mindfulness-of-Breathing to Absorption

Questions and Answers 1

 

2: How You Develop Absorption on Other Subjects

Questions and Answers 2

 

3: How You Develop the Sublime Abidings and Protective Meditations

Questions and Answers 3

 

4: How You Discern Materiality

Questions and Answers 4

 

5: How You Discern Mentality

Questions and Answers 5

 

6: How You See the Links of Dependent Origination

Questions and Answers 6

 

7: How You Develop the Vipassanā Knowledges to See Nibbāna

Questions and Answers 7

 

8: The Buddha’s Wishes for His Disciples and His Teachings

 

9: The Most Superior Type of Offering

 

The Forty Meditation-Subjects

Editorial Notes

Bibliographical Abbreviations

Appendix 1: Glossary of Untranslated Pali Terms

Appendix 2: Contact Addresses

Index of Questions from Yogis

Main Index

__________________

BÀI PHÁP THOẠI 8

 

Những Ước Nguyện Của Đức Phật Cho Các Hàng Đệ Tử Và Giáo Pháp Của Ngài

(Bài giảng nhân ngày lễ Vesākha)

 

ĐỨC PHẬT TỪ BỎ THỌ HÀNH `

 

(Thọ hành (āusankhārā) theo Chú Giải biểu thị cho chính tuổi thọ (āyu), một từ được xác nhận là đồng nghĩa với mạng căn (jīvitindriya), có chức năng duy trì sự sống. Xem N.444/MN.)

 

Mùa hạ (Vassa) cuối cùng, đức Phật trải qua trong ngôi làng Veḷuna. Thời gian ấy, một cơn đau kịch liệt khởi lên nơi Ngài. Vào ngày trăng tròn tháng Asāḷha(tháng 6), một cơn đau lưng buốt nhức cực độ bất ngờ tấn công Ngài, do nghiệp đời trước.

 

Một trong những tiến kiếp của Ngài, đức Phật đã từng là võ sĩ. Có lần Ngài đã đánh ngã một đối thủ và làm gãy lưng người này. Bất thiện nghiệp ấy khi chín muồi đã cho quả của nó, đó là mười tháng trước ngày nhập Vô Dư Niết-bàn của Ngài. Nghiệp quả ấy mạnh đến độ kéo dài cho đến lúc chết. Một thọ khổ như vậy được gọi là "thọ (khổ) chấm dứt vào lúc chết" (maranatikavedanā), tức là nó chỉ dừng lại khi cái chết xảy ra.

 

Đức Phật đã ngăn không cho thọ khổ đó khởi lên nhờ nhập A-la-hán Thánh quả định (Arahattaphala samāpatti) và thực hiện một quyết định (adhiṭṭhāna). Trước tiên, đức Phật nhập A-la-hán Thánh quả định dựa trên bảy cách quán sắc (rūpa sattaka vipassanā). Sau khi hành những pháp quán ấy xong và ngay trước khi nhập vào A-la-hán Thánh quả định, đức Phật quyết định: "Kể từ hôm nay cho đến ngày Niết-bàn, mong cho những thọ khổ này không khởi lên", sau đó Ngài mới nhập Thánh quả định. A-la-hán Thánh quả định là tâm quả A-la-hán với Niết-bàn làm đối tượng, khởi lên liên tục trong một thời gian dài. Do việc hành vipassanātrước đó kiên trì và mãnh liệt mà A-la-hán Thánh quả định cũng mãnh liệt và kiên trì như vậy. Chính nhờ nỗ lực của minh sát và định lực của Thánh quả mà thọ khổ đã không khởi lên trong mười tháng còn lại cho đến ngày Đại Niết-bàn của đức Phật. Nhưng trong thời gian đó, mỗi ngày đức Phật đều phải nhập Thánh quả đều đặn.

 

Sau mùa an cư (Vassa), đức Phật vân du từ nơi này đến nơi khác, và cuối cùng đến tại Tỳ - xá - ly (Vesālī). Ba tháng trước ngày trăng tròn tháng Vesāka(rằm tháng Tư), tức là vào ngày rằm tháng Giêng tại ngôi tháp Cāpāla(Cāpāla cetiya), đức Phật quyết định xả bỏ thọ hành (āyusankhāra ossajana), nghĩa là, vào ngày đó Ngài quyết định:

 

"Temāsamattameva pana samāpattiṃsamāpajjitvā tato paraṃna samāpajjissāmīti cittaṃsamāpajjitva cittaṃuppādasi"

(Từ hôm nay cho đến trăng tròn tháng Vesākhata sẽ thực hành Thánh quả định này. Rồi sau đó ta sẽ không hành pháp ấy nữa.)

 

ĐỨC PHẬT TUYÊN BỐ NHỮNG ƯỚC NGUYỆN CỦA NGÀI 

 

Vào ngày đó, trước chúng Tăng tỳ khưu tại đại giảng đường của chùa mahàvana, đức Phật thông báo Ngài xả bỏ thọ hành. Ngài nói với chúng tỳ khưu:

 

"Tasmātiha bhikkhave ye te mayā dhammā abhiññā desitā, te vo sādhukaṃuggahetva āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā.

(Này chư tỳ khưu, ta đã giải thích rõ những Chân lý (dhamma) mà ta đã tự mình thắng tri cho các người. Các người cần phải khéo học tập, trau dồi, tu tập và thực hành thường xuyên những pháp ấy).

 

Như vậy, đức Phật chỉ dạy pháp mà Ngài đã tự chứng. Ở đây đức Phật tuyên bố những ước nguyện của Ngài cho Giáo Pháp và chỉ dạy Tăng chúng:

 

1. Tăng chúng cần phải nắm vững những lời dạy của Ngài, nhưng nắm vững thôi thì chưa đủ. Đây là ước nguyện thứ nhất của đức Phật.

 

2. Ngài chỉ dạy Tăng chúng nên trau dồi pháp. Trong Pāḷithường gọi là sevitabbā, có nghĩa rằng chúng ta phải cố gắng hiểu pháp này bằng sự thực hành thường xuyên, nên chúng tôi dịch là trau dồi. Đây là ước nguyện thứ hai của đức Phật.

 

3. Cuối cùng Ngài chỉ dạy Tăng chúng phải tu tập (bhāvetabbā) các pháp. Khi chúng ta trau dồi, nhất thiết phải có sự tăng trưởng và tiến bộ.

 

Điều đó có nghĩa là gì? Khi chúng ta hành pháp, chỉ có những thiện pháp (kusala dhamma) khởi lên trong tiến trình tâm của chúng ta. Các thiện pháp đó là, giới thiện pháp (sīla kusaladhamma), định thiện pháp (samādhi kusaladhamma) và tuệ thiện pháp (paññā kusaladhamma). Những thiện pháp này phải khởi lên không gián đoạn cho đến quả vị A-la-hán. Nếu một vị Thanh Văn đệ tử (Sāvaka) của đức Phật đắc A-la-hán Thánh quả thì việc thực hành (bhāvanā) của họ kể như hoàn tất. Vì thế, một đệ tử của đức Phật phải thực hành những lời dạy của đức Phật cho đến khi đạt đến cứu cánh, tức là sự trau dồi phải được phát triển cho đến Thánh quả A-la-hán. Để đạt đến A-la-hán Thánh quả chúng ta phải thực hành thường xuyên. Vì lý do đó, đức Phật đã đưa ra lời chỉ dẫn "bahulīkātabba", có nghĩa là chúng ta phải thực hành một cách thường xuyên. Đây là ước nguyện thứ ba của đức Phật.

 

Những ước nguyện này vì sao lại khởi lên trong tiến trình tâm của đức Phật?

 

"Yathayidaṃbrahmacariyaṃaddhaniyaṃassa ciraṭṭhikikaṃ."

(Để cho lời dạy thuần tịnh này có thể được an lập và bền lâu).

 

Đó là, duy trì lời dạy thuần tịnh này sao cho nó có thể bền vững trong một thời gian lâu dài.

 

PHẬN SỰ CỦA CHÚNG TA VỚI TƯ CÁCH LÀ NHỮNG PHẬT TỬ

 

Duy trì lời dạy này không để cho thất tán là bổn phận hết sức quan trọng của mỗi người Phật tử. Do đó, chúng ta phải cố gắng:

 

- Nắm vững (hiểu rõ) tất cả những lời dạy của đức Phật.

- Thực hành những lời dạy của đức Phật như thế nào để hiểu được pháp ấy qua kinh nghiệm tự thân.

- Thực hành những lời dạy đó cho đến quả vị A-la-hán.

 

Đây là những bổn phận của mọi Phật tử. Là một Phât tử, chúng ta phải theo những chỉ dẫn này. Nếu không theo những điều này, chúng ta chỉ là Phật tử trên danh nghĩa chứ không phải người Phật tử chân chánh. Tóm lại, người nào hành theo ba phận sự này một cách triệt để, người ấy là một Phật tử chân chánh. Vì thế, hôm nay quý vị có thể quyết định:

 

- Ta sẽ cố gắng nắm vững tất cả những lời dạy của đức Phật.

- Ta sẽ cố gắng thực hành những lời dạy ấy để hiểu được chúng qua kinh nghiệm tự thân.

- Ta sẽ thực hành những lời dạy của đức Phật cho đến quả vị A-la-hán.
...

TALK 8:


The Buddha’s Wishes For His Disciples And His Teachings

(Talk given on Vesākha Day)

 

THE BUDDHA RELINQUISHES THE WILL TO LIVE

 

The Buddha spent His last rains (vassa) in the village of Veḷuva. At that time there arose in Him a severe affliction. On the full-moon day of Asāḷha, a sharp and deadly back pain came upon Him, because of previous kamma.

 

In one of his past lives, the Bodhisatta, who was to become Sakyamuni Buddha, was a wrestler. Once he threw down an opponent and broke the opponent’s back. When mature, that unwholesome kamma (akusala•kamma) produced its result, which was ten months before Sakyamuni Buddha’s Parinibbāna. The effect of that kamma was so powerful that it would last until death. Such an affliction is called ‘feeling ending at death’ (mara •antika•vedāna). It ceases only when death occurs.

 

The Buddha prevented that affliction from arising through entering an Arahant Fruition and making a determination (adhi hāna). First The Buddha entered the Arahant-Fruition Attainment (Arahatta•Phala•Samāpatti) based on the Seven Ways for Materiality (rūpa•sattaka•vipassanā) and Seven Ways for Mentality (a•rūpa•sattaka•vipassanā). After those vipassanā practices and just before entering the Arahant Fruition-Attainment, The Buddha determined:

 

From today until the day of my Parinibbāna, may this affliction not occur.

 

And then He entered the Arahant Fruition-Attainment. Arahant Fruition-Attainment means that the Arahant Fruition-Consciousness, with Nibbāna as object, occurs continuously for a long time. Because the vipassanā practices were strong and powerful, the Arahant Fruition-Attainment too was strong and powerful. Because of the effort of the vi-passanā and the effort of the Fruition-Attainment the affliction did not occur in the ten months that were left until the day of The Buddha’s Parinibbāna. But He had to enter that Fruition-Attainment every day until then.

 

After the vassa, The Buddha wandered from place to place, and eventu-ally reached Vesālī. Three months before Vesākha full-moon day, on the full-moon day of February, at the Cāpāla Cetiya, The Buddha decided to relinquish the will to live (āyu•sa khāra ossajjana). What does that mean? On that day He decided:

 

Temāsamattameva pana samāpatti samāpajjitvā tato para na samāpaj-jissāmīti citta uppādesi.

 

From today until the full-moon day of Vesākha I shall practise this Fruition Attainment. Then I shall no longer practise it.

 

THE BUDDHA DECLARES HIS WISHES

 

So on that day, in front of the assembled Bhikkhu Saṅgha, in the assembly hall of the Mahāvana monastery, The Buddha announced that He had relinquished the will to live. He said to the Bhikkhu Saṅgha:

 

Tasmātiha bhikkhave ye te mayā dhammā abhiññā desitā, te vo sādhuka uggahetva āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā.

 

Bhikkhus, you, to whom I have made known  the Truths about which I have direct knowledge, having thoroughly learnt them, should cultivate them, develop them, and frequently practise them.

 

The Buddha taught only the Dhamma about which He had direct experience. Here The Buddha declared His wishes for His teachings, and instructed the Saṅgha as follows:

 

1) They should learn His Teachings (Dhamma) thoroughly by heart, but learning by heart alone is not enough. This was The Buddha’s first wish.

 

2) He instructed them to cultivate His Teachings (Dhamma). In Pali it is called āsevitabbā, and means that we must try to know this Dhamma in practice again and again. It is translated as cultivation. This was The Buddha’s second wish.

 

3) Finally, He instructed them to develop (bhāvetabbā) the Truths. When we cultivate, growth and progress are necessary.

 

What does that mean? When we practise the Dhamma, only wholesome dhammas (kusala•dhamma) must occur in our mental processes. That is, wholesome morality dhammas (sīla•kusala•dhamma), wholesome concentration dhammas (samādhi•kusala•dhamma) and wholesome wisdom dhammas (paññā•kusala•dhamma). These wholesome dhammas must occur without a break until Arahantship. If a disciple (sāvaka) of The Buddha attains Arahantship, his practice (bhāvanā) is over. So a disciple of The Buddha must practise The Buddha’s Teachings until he attains that goal: the cultivation must be developed until Arahantship. To reach Arahantship, we must practise again and again. For that reason The Buddha gave the instruction of bahulīkātabbā, which means we must practise frequently. This was The Buddha’s third wish.

 

These wishes occured in The Buddha’s mental processes. Why?

 

Yathayida brahmacariya addhaniya assa cira hitika.

 

So that the pure Teaching may be established and last long.

 

That is, to maintain the pure Teaching so that it can last for a long time.

 

OUR DUTY AS BUDDHISTS

 

It is very important that every Buddhist maintains the pure Teaching, so that it is not lost. We must try. What should we try to do? We repeat:

 

1) We should try to learn The Buddha’s Teachings (Dhamma) thoroughly by heart.

 

2) We should try to practise The Buddha’s Teachings so as to know them through personal experience.

 

3) We should try to practise The Buddha’s Teachings until Arahantship.

 

These are the duties of all Buddhists. If one is a Buddhist one must follow these three instructions. If one does not follow them then one is a Buddhist in name only: not a real Buddhist. If one follows these three instructions thoroughly, then one is a real Buddhist. So you can today determine:

 

1) We will try to learn The Buddha’s Teachings thoroughly by heart.

 

2) We will try to practise The Buddha’s Teachings so as to know them through personal experience.

 

3) We will try to practise The Buddha’s Teachings until Arahantship.

...


__________________


Biết Và Thấy 
1_PDFBietVaThay_B (Nguyên Tập)


__________________


Knowing And Seeing
1_PDF
KnowingAndSeeing (Whole Book)


__________________


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15 Tháng Mười Hai 20187:57 SA(Xem: 361)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
15 Tháng Mười Hai 20187:53 SA(Xem: 30)
Chư Tăng rất ngạc-nhiên thấy tại sao vị Bà-la-môn và vợ lại tự nhận họ là cha mẹ của Đức Phật, và nay họ được tái-sanh về cõi nào. Đức Phật bảo: "Trong tiền-kiếp, cách đây một ngàn năm trăm đời, ông bà ấy đã có thời làm cha mẹ ta, đã có thời làm chú bác ta. Họ nay chứng được quả-vị A-la-hán rồi, chẳng còn phải tái-sanh nữa, (225)
14 Tháng Mười Hai 20188:47 SA(Xem: 35)
Đức Phật ân-cần khuyên: "Nầy gia-chủ, cái chết chẳng phải chỉ đến ở một nơi. Mọi chúng-sanh đã sanh ra, tất có ngày phải chết đi; cuộc sống luôn luôn chấm-dứt bằng cái chết. Gia-chủ đừng nghĩ rằng, chỉ có đứa con yêu-dấu của mình mới bị Thần Chết bắt mang đi. Gia-chủ đừng tỏ ra quá ưu-sầu, chán-nản, lo-lắng đến độ đó. (212)
13 Tháng Mười Hai 20187:46 SA(Xem: 47)
Đức Phật bảo chư Tăng: "Nầy chư Tỳ-kheo, những ai kính-trọng và quí-mến Như-Lai, nên bắt chước mà làm theo như Thi-sa. Quí-vị đừng tưởng rằng đem hương hoa đến cho ta là tỏ lòng ngưỡng-mộ ta. Thực-hành đúng theo Chánh-pháp, đến nơi xa vắng nỗ lực Thiền-định theo lời dạy của ta, đó mới thật là biết cách trả ơn ta." (205)
12 Tháng Mười Hai 20186:29 SA(Xem: 40)
Ngài bảo: "Thú-vui vật-chất, tiền-của, quyền-thế, ăn ngon mặc đẹp đó chưa hẳn là hạnh-phước, vì các điều đó giữ ta mãi trong vòng tái-sanh của Luân-hồi khổ-đau lận-đận. Trên thế-gian nầy, hạnh-phước là gặp được Đức Phật ra đời, có được cơ-duyên nghe lời Ngài giảng-dạy về Sự-Thật cao-quí, và sống trong sự hoà-hợp của Tăng-đoàn." (194)
11 Tháng Mười Hai 20186:38 SA(Xem: 54)
Một hồi lâu sau, Tôn-giả A-nan trở vào trong, chẳng trông thấy các vị tỳ-kheo nữa, mới hỏi Đức Phật các vị ấy bây giờ đang ở đâu. Đức Phật bảo: "Nầy A-nan, các tỳ-kheo đó, sau khi nghe Ta giảng-pháp, đã chứng-đắc được quả-vị A-la-hán, nên họ mới dùng thần-thông phi giữa không-gian mà ra đi." (175)
10 Tháng Mười Hai 20188:26 SA(Xem: 63)
Đến cuối mùa an-cư, cả đoàn quay về chùa Kỳ-viên. Các vị tỳ-kheo trình lên Đức Phật sự thất-bại của họ cùng nguyên-nhơn do đâu mà họ tu-tập chẳng được tấn-bộ. Đức Phật bảo: "Nầy chư tỳ-kheo, người muốn dạy kẻ khác, trước hết phải tự-dạy lấy mình, tự-điều-phục mình, kềm-chế tư-cách mình cho xứng-đáng." (159)
09 Tháng Mười Hai 20185:54 SA(Xem: 67)
Đức Phật liền bảo: "Nhà vua chớ quá ưu-phiền, luyến-tiếc đến Hoàng-hậu. Nầy, Hoàng-thượng hãy nhìn chiếc long-xa kia, khi xưa Vua Cha đã trang-hoàng lộng-lẫy để lại cho Hoàng-thượng, nay nó đã cũ-kỹ, bỏ nằm yên trong góc phòng. Muôn sự-vật, kể cả tấm thân con người, đều theo lẽ vô-thường mà biến-đổi rồi bị hủy-diệt. (151)
08 Tháng Mười Hai 20189:09 SA(Xem: 66)
Bà bạch Phật các lời ước-nguyện của các hạng giới-tử. Đức Phật liền giảng-dạy như sau: "Này tín-nữ Vi-sa-kha, Sanh, Già, Chết là những điều tất-yếu mà mọi chúng-sanh phải trải qua. Hễ đã sanh ra, thì sẽ lớn lên, già-yếu rồi chết đi, tái-sanh lại theo vòng lẩn-quẩn. Phải biết cách tu-tập để khỏi phải trôi lăn mãi trong sáu cõi của Luân-hồi." (135)
07 Tháng Mười Hai 20189:11 SA(Xem: 63)
Nầy Trưởng-giả, tôi là người giữ cửa nhà của ông. Bấy lâu nay, tôi thấy ông chỉ lo việc cúng-dường cho Sa-môn Cồ-đàm mà chẳng liệu-lý đến gia-sản của mình, cho nên ngày nay ông phải sa-sút. Ông nên thôi, đừng cúng-dường, bố-thí nữa, mà hãy chăm lo việc nhà, tôi sẽ giúp ông trở lại cảnh giàu-sang sung-túc như ngày xưa." (120)
06 Tháng Mười Hai 20189:43 SA(Xem: 57)
Kế đó, Đức Phật lại hỏi chàng thanh-niên đang làm nghề gì để sanh-sống. Anh ta đáp, sống về nghề cờ-bạc. Đức Phật lại hỏi tiếp: "Có được khá không?". "Thưa có khi thắng, có khi thua." Đức Phật bảo: "Đánh thắng các con bạc sao cho bằng tự-mình khắc-phục được tất cả các lậu-hoặc trong tâm mình." (105)
05 Tháng Mười Hai 20188:07 SA(Xem: 70)
Lúc bấy giờ, chư Tăng thấy thái-độ đáng kính của Trưởng-lão nên hết lời khen ngợi. Đức Phật nói: "Nầy chư tỳ-kheo, Xá-lợi-phất chẳng còn chút sân-hận và ác-ý trong tâm nữa. Cũng như đất kia, Xá-lợi-phất rất nhẫn-nhục; cũng như trụ đồng kia, Xá-lợi-phất rất vững-chắc; cũng như nước hồ kia lắng sạch bùn-sình, tâm Xá-lợi-phất luôn luôn thanh-tịnh." (095)
04 Tháng Mười Hai 20186:22 SA(Xem: 70)
Thuở ấy, có một người Bà-la-môn ở làng Vệ-lan-già thỉnh Đức Phật và chư Tăng đến làng ông ta, để qua mùa an-cư kiết-hạ. Khi Đức Phật và chư Tăng đến làng, thì vị Bà-la-môn chẳng thể cung-ứng nhu-cầu thực-phẩm cho Tăng-đoàn nổi, vì lúc ấy làng Vệ-lan-già đang bị nạn đói-kém. Bấy giờ, Đức Phật cùng các tỳ-kheo hằng ngày phải dùng lúa mã-mạch, (083)
03 Tháng Mười Hai 201811:10 SA(Xem: 79)
Thuở ấy, Vua Ba-tư-nặc nước Câu-tát-la, một hôm ra khỏi thành đi dạo, gặp một thiếu-phụ trẻ đẹp đang đứng bên cửa sổ trong nhà. Vua trầm-trồ khen ngợi sắc đep của người đàn-bà ấy và trong lòng nổi lên ý-định muốn xâm-chiếm lấy. Nhưng người đàn-bà ấy đã có chồng. Vua liền cho mời hai vợ chồng người thiếu-phụ vào làm việc (060)
02 Tháng Mười Hai 20186:25 SA(Xem: 79)
Lúc bấy giờ, Đức Phật quán-thấy sự tiến-bộ của vị Tỳ-kheo, liền phóng hào-quang, đến bên cạnh, và nói: "Nầy Tỳ-kheo, như ông vừa quán-thấy trong tâm, tấm thân nầy là vô-thường, chẳng có thực-thể, có khác gì ảo-ảnh trên mặt nước kia." Rồi Đức Phật đọc lên bài kệ sau đây; vị Tỳ-kheo chăm-chú nghe, ghi nhận kỹ và chứng được đạo-quả A-la-hán. (046)
01 Tháng Mười Hai 201811:55 SA(Xem: 76)
Khi nhắc đến vị tỳ-kheo nói trên, nhờ sự hỗ-trợ của bà Mã về thực-phẩm, trong thời-gian tu thiền, Đức Phật có đọc lên bài Kệ sau đây: Tâm rất khó cho ta nắm giữ, Nhẹ-nhàng, nhanh-nhẹn, nó bay cao; Rồi đáp xuống chỗ nào nó thích. Hàng-phục được tâm là tuyệt-đích, Chế-ngự tâm thuần, hạnh-phước cao! (Kệ số 035.)
30 Tháng Mười Một 20188:08 SA(Xem: 77)
Vào độ ấy, hai vị tỳ-kheo đó, sau khi được Đức Phật chỉ-dạy cho mỗi người một đề-tài quán-tưởng, liền đi vào rừng sâu, để tỉnh-tu. Một vị tỳ-kheo có tánh phóng-dật, dành phần lớn thời-giờ ngồi sưởi bên đống lửa, tán chuyện gẫu với các vị tỳ-kheo trẻ tuổi khác trong suốt canh đầu của đêm, rồi sau đó nằm lăn ra ngủ. (029)
29 Tháng Mười Một 20188:57 SA(Xem: 78)
Trong một ngôi làng chẳng xa thành Vương-xá có ông Thuần-đà chuyên nghề giết heo làm thịt bán. Tánh tình ông ta rất thô-bạo, lại rất ghét việc bố-thí làm phước. Suốt đời, ông ta chẳng làm được một việc gì có phước-đức cả. Đến khi gần chết, ông ấy đau-đớn, khổ-sở rất nhiều trong cơn hấp-hối. Ông rên la, tru-tréo, tay chơn co quắp lại, (015)
28 Tháng Mười Một 20189:25 SA(Xem: 95)
Kinh Pháp-Cú, Dhammapada, là quyển thứ hai trong Tiểu-Bộ-Kinh (Khuddhaka Nikàya) thuộc Tạng Kinh (Suttanta Pitaka), trong hệ Pali. Kinh ghi lại 423 bài Kệ ngắn, được chính Đức Phật Thích-Ca nói lên suốt trong thời-gian bốn mươi năm truyền-giảng Chánh-Pháp của Ngài, để dạy cho các đệ-tử xuất-gia cũng như tại-gia.
28 Tháng Mười Một 20188:30 SA(Xem: 166)
Hạnh Nhẫn Nhục (Nhiều Bài Viết) - HT. Thích Thanh Từ
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1001)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1804)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 1281)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
15 Tháng Mười Hai 20187:57 SA(Xem: 361)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 623)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2553)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
15 Tháng Mười Hai 20187:57 SA(Xem: 361)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
27 Tháng Mười Một 20186:47 SA(Xem: 623)
Kinh Pháp Cú (PKK), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 321)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript
31 Tháng Năm 201810:49 SA(Xem: 1549)
Ngài Thiền Sư Pháp Minh là một trong những vị Cao Tăng, chân tu, thực hành Hạnh Đầu đà vô cùng tinh tấn của Hệ phái Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài ra đi nhưng Ngài vẫn còn sống mãi với hình ảnh là một bậc chân tu khả kính, thực hành Giới-Định-Tuệ, in đậm nét trong tâm trí của toàn thể chư Tăng, Tu nữ và hàng Phật tử gần xa.
08 Tháng Tư 20189:32 CH(Xem: 861)
"Từ kiếp nầy sang kiếp kia, những hạt giống tiếp tục được gieo trồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thần mưa tiếp tục tưới rải nước mưa như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, người nông dân tiếp tục trồng trọt trên cánh đồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thực phẩm tiếp tục tăng trưởng trong cõi người như thế;
30 Tháng Giêng 20181:00 CH(Xem: 4043)
"Một bản chú giải thật sinh động được lưu truyền qua bao thế hệ trên đảo Tích Lan. Nhưng vì tác phẩm viết bằng thổ ngữ địa phương nên sự lợi lạc chẳng đến được các xứ xa xôi. Không chừng tác phẩm sẽ góp phần đắc lực trong việc mang lại an lạc cho hết thảy nhân loại".