Biết Và Thấy - Knowing And Seeing

26 Tháng Chín 20173:54 CH(Xem: 1517)
Biết Và Thấy - Knowing And Seeing

KnowingAndSeeing_1A

BietVaThay_1


Biết Và Thấy - Knowing And Seeing

Pa-Auk Tawya Sayadaw

Dịch giả: Pháp Thông

Nhà xuất bản Tôn Giáo 2012

Nguồn: dhammatalks.net, vienkhong.org, thuvienhoasen.org

 

__________________

MỤC LỤC  CONTENTS

Lời Giới Thiệu: Giáo Pháp Của Đức Phật

 

Bài Pháp Thoại 1: Làm Thế Nào Để Tu Tập Niệm Hơi Thở Đạt Đến An Chỉ Định - Hỏi & Đáp 1

 

Bài Pháp Thoại 2: Hành Giả Tu Tập An Chỉ Định Trên Các Đề Mục Thiền Khác Như Thế Nào - Hỏi & Đáp 2

 

Bài Pháp Thoại 3: Tu Tập Bốn Phạm Trú Và Bốn Thiền Bảo Hộ - Hỏi & Đáp 3

 

Bài Pháp Thoại 4 - Làm Thế Nào Để Phân Biệt Sắc - Hỏi & Đáp 4

 

Bài Pháp Thoại 5: Phân Biệt Danh - Hỏi & Đáp 5

 

Bài Pháp Thoại 6: Làm Thế Nào Để Thấy Những Mắc Xích Của Duyên Khởi - Hỏi & Đáp 6

 

Bài Pháp Thoại 7: Tu Tập Các Tuệ Minh Sát Như Thế Nào Để Thấy Niết-Bàn - Hỏi & Đáp 7

 

Bài Pháp Thoại 8: Những Ước Nguyện Của Đức Phật Cho Các Hàng Đệ Tử Và Giáo Pháp Của Ngài

 

Bài Pháp Thoại 9: Loại Cúng Dường Cao Thượng Nhất

 

"Bhikkhus, I say that the destruction of the
taints is for one who knows and sees, not
for one who does not know and see."
(Này các Tỳ khưu, Ta nói có sự đoạn trừ
các lậu hoặc cho người biết và thấy, chứ
không cho người không biết, không thấy.)

 

Tables

Contents in Detail

Foreword (First Edition)

Introduction (Revised Edition)

 

1: How You Develop Mindfulness-of-Breathing to Absorption

Questions and Answers 1

 

2: How You Develop Absorption on Other Subjects

Questions and Answers 2

 

3: How You Develop the Sublime Abidings and Protective Meditations

Questions and Answers 3

 

4: How You Discern Materiality

Questions and Answers 4

 

5: How You Discern Mentality

Questions and Answers 5

 

6: How You See the Links of Dependent Origination

Questions and Answers 6

 

7: How You Develop the Vipassanā Knowledges to See Nibbāna

Questions and Answers 7

 

8: The Buddha’s Wishes for His Disciples and His Teachings

 

9: The Most Superior Type of Offering

 

The Forty Meditation-Subjects

Editorial Notes

Bibliographical Abbreviations

Appendix 1: Glossary of Untranslated Pali Terms

Appendix 2: Contact Addresses

Index of Questions from Yogis

Main Index

__________________

BÀI PHÁP THOẠI 8

 

Những Ước Nguyện Của Đức Phật Cho Các Hàng Đệ Tử Và Giáo Pháp Của Ngài

(Bài giảng nhân ngày lễ Vesākha)

 

ĐỨC PHẬT TỪ BỎ THỌ HÀNH `

 

(Thọ hành (āusankhārā) theo Chú Giải biểu thị cho chính tuổi thọ (āyu), một từ được xác nhận là đồng nghĩa với mạng căn (jīvitindriya), có chức năng duy trì sự sống. Xem N.444/MN.)

 

Mùa hạ (Vassa) cuối cùng, đức Phật trải qua trong ngôi làng Veḷuna. Thời gian ấy, một cơn đau kịch liệt khởi lên nơi Ngài. Vào ngày trăng tròn tháng Asāḷha(tháng 6), một cơn đau lưng buốt nhức cực độ bất ngờ tấn công Ngài, do nghiệp đời trước.

 

Một trong những tiến kiếp của Ngài, đức Phật đã từng là võ sĩ. Có lần Ngài đã đánh ngã một đối thủ và làm gãy lưng người này. Bất thiện nghiệp ấy khi chín muồi đã cho quả của nó, đó là mười tháng trước ngày nhập Vô Dư Niết-bàn của Ngài. Nghiệp quả ấy mạnh đến độ kéo dài cho đến lúc chết. Một thọ khổ như vậy được gọi là "thọ (khổ) chấm dứt vào lúc chết" (maranatikavedanā), tức là nó chỉ dừng lại khi cái chết xảy ra.

 

Đức Phật đã ngăn không cho thọ khổ đó khởi lên nhờ nhập A-la-hán Thánh quả định (Arahattaphala samāpatti) và thực hiện một quyết định (adhiṭṭhāna). Trước tiên, đức Phật nhập A-la-hán Thánh quả định dựa trên bảy cách quán sắc (rūpa sattaka vipassanā). Sau khi hành những pháp quán ấy xong và ngay trước khi nhập vào A-la-hán Thánh quả định, đức Phật quyết định: "Kể từ hôm nay cho đến ngày Niết-bàn, mong cho những thọ khổ này không khởi lên", sau đó Ngài mới nhập Thánh quả định. A-la-hán Thánh quả định là tâm quả A-la-hán với Niết-bàn làm đối tượng, khởi lên liên tục trong một thời gian dài. Do việc hành vipassanātrước đó kiên trì và mãnh liệt mà A-la-hán Thánh quả định cũng mãnh liệt và kiên trì như vậy. Chính nhờ nỗ lực của minh sát và định lực của Thánh quả mà thọ khổ đã không khởi lên trong mười tháng còn lại cho đến ngày Đại Niết-bàn của đức Phật. Nhưng trong thời gian đó, mỗi ngày đức Phật đều phải nhập Thánh quả đều đặn.

 

Sau mùa an cư (Vassa), đức Phật vân du từ nơi này đến nơi khác, và cuối cùng đến tại Tỳ - xá - ly (Vesālī). Ba tháng trước ngày trăng tròn tháng Vesāka(rằm tháng Tư), tức là vào ngày rằm tháng Giêng tại ngôi tháp Cāpāla(Cāpāla cetiya), đức Phật quyết định xả bỏ thọ hành (āyusankhāra ossajana), nghĩa là, vào ngày đó Ngài quyết định:

 

"Temāsamattameva pana samāpattiṃsamāpajjitvā tato paraṃna samāpajjissāmīti cittaṃsamāpajjitva cittaṃuppādasi"

(Từ hôm nay cho đến trăng tròn tháng Vesākhata sẽ thực hành Thánh quả định này. Rồi sau đó ta sẽ không hành pháp ấy nữa.)

 

ĐỨC PHẬT TUYÊN BỐ NHỮNG ƯỚC NGUYỆN CỦA NGÀI 

 

Vào ngày đó, trước chúng Tăng tỳ khưu tại đại giảng đường của chùa mahàvana, đức Phật thông báo Ngài xả bỏ thọ hành. Ngài nói với chúng tỳ khưu:

 

"Tasmātiha bhikkhave ye te mayā dhammā abhiññā desitā, te vo sādhukaṃuggahetva āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā.

(Này chư tỳ khưu, ta đã giải thích rõ những Chân lý (dhamma) mà ta đã tự mình thắng tri cho các người. Các người cần phải khéo học tập, trau dồi, tu tập và thực hành thường xuyên những pháp ấy).

 

Như vậy, đức Phật chỉ dạy pháp mà Ngài đã tự chứng. Ở đây đức Phật tuyên bố những ước nguyện của Ngài cho Giáo Pháp và chỉ dạy Tăng chúng:

 

1. Tăng chúng cần phải nắm vững những lời dạy của Ngài, nhưng nắm vững thôi thì chưa đủ. Đây là ước nguyện thứ nhất của đức Phật.

 

2. Ngài chỉ dạy Tăng chúng nên trau dồi pháp. Trong Pāḷithường gọi là sevitabbā, có nghĩa rằng chúng ta phải cố gắng hiểu pháp này bằng sự thực hành thường xuyên, nên chúng tôi dịch là trau dồi. Đây là ước nguyện thứ hai của đức Phật.

 

3. Cuối cùng Ngài chỉ dạy Tăng chúng phải tu tập (bhāvetabbā) các pháp. Khi chúng ta trau dồi, nhất thiết phải có sự tăng trưởng và tiến bộ.

 

Điều đó có nghĩa là gì? Khi chúng ta hành pháp, chỉ có những thiện pháp (kusala dhamma) khởi lên trong tiến trình tâm của chúng ta. Các thiện pháp đó là, giới thiện pháp (sīla kusaladhamma), định thiện pháp (samādhi kusaladhamma) và tuệ thiện pháp (paññā kusaladhamma). Những thiện pháp này phải khởi lên không gián đoạn cho đến quả vị A-la-hán. Nếu một vị Thanh Văn đệ tử (Sāvaka) của đức Phật đắc A-la-hán Thánh quả thì việc thực hành (bhāvanā) của họ kể như hoàn tất. Vì thế, một đệ tử của đức Phật phải thực hành những lời dạy của đức Phật cho đến khi đạt đến cứu cánh, tức là sự trau dồi phải được phát triển cho đến Thánh quả A-la-hán. Để đạt đến A-la-hán Thánh quả chúng ta phải thực hành thường xuyên. Vì lý do đó, đức Phật đã đưa ra lời chỉ dẫn "bahulīkātabba", có nghĩa là chúng ta phải thực hành một cách thường xuyên. Đây là ước nguyện thứ ba của đức Phật.

 

Những ước nguyện này vì sao lại khởi lên trong tiến trình tâm của đức Phật?

 

"Yathayidaṃbrahmacariyaṃaddhaniyaṃassa ciraṭṭhikikaṃ."

(Để cho lời dạy thuần tịnh này có thể được an lập và bền lâu).

 

Đó là, duy trì lời dạy thuần tịnh này sao cho nó có thể bền vững trong một thời gian lâu dài.

 

PHẬN SỰ CỦA CHÚNG TA VỚI TƯ CÁCH LÀ NHỮNG PHẬT TỬ

 

Duy trì lời dạy này không để cho thất tán là bổn phận hết sức quan trọng của mỗi người Phật tử. Do đó, chúng ta phải cố gắng:

 

- Nắm vững (hiểu rõ) tất cả những lời dạy của đức Phật.

- Thực hành những lời dạy của đức Phật như thế nào để hiểu được pháp ấy qua kinh nghiệm tự thân.

- Thực hành những lời dạy đó cho đến quả vị A-la-hán.

 

Đây là những bổn phận của mọi Phật tử. Là một Phât tử, chúng ta phải theo những chỉ dẫn này. Nếu không theo những điều này, chúng ta chỉ là Phật tử trên danh nghĩa chứ không phải người Phật tử chân chánh. Tóm lại, người nào hành theo ba phận sự này một cách triệt để, người ấy là một Phật tử chân chánh. Vì thế, hôm nay quý vị có thể quyết định:

 

- Ta sẽ cố gắng nắm vững tất cả những lời dạy của đức Phật.

- Ta sẽ cố gắng thực hành những lời dạy ấy để hiểu được chúng qua kinh nghiệm tự thân.

- Ta sẽ thực hành những lời dạy của đức Phật cho đến quả vị A-la-hán.
...

TALK 8:


The Buddha’s Wishes For His Disciples And His Teachings

(Talk given on Vesākha Day)

 

THE BUDDHA RELINQUISHES THE WILL TO LIVE

 

The Buddha spent His last rains (vassa) in the village of Veḷuva. At that time there arose in Him a severe affliction. On the full-moon day of Asāḷha, a sharp and deadly back pain came upon Him, because of previous kamma.

 

In one of his past lives, the Bodhisatta, who was to become Sakyamuni Buddha, was a wrestler. Once he threw down an opponent and broke the opponent’s back. When mature, that unwholesome kamma (akusala•kamma) produced its result, which was ten months before Sakyamuni Buddha’s Parinibbāna. The effect of that kamma was so powerful that it would last until death. Such an affliction is called ‘feeling ending at death’ (mara •antika•vedāna). It ceases only when death occurs.

 

The Buddha prevented that affliction from arising through entering an Arahant Fruition and making a determination (adhi hāna). First The Buddha entered the Arahant-Fruition Attainment (Arahatta•Phala•Samāpatti) based on the Seven Ways for Materiality (rūpa•sattaka•vipassanā) and Seven Ways for Mentality (a•rūpa•sattaka•vipassanā). After those vipassanā practices and just before entering the Arahant Fruition-Attainment, The Buddha determined:

 

From today until the day of my Parinibbāna, may this affliction not occur.

 

And then He entered the Arahant Fruition-Attainment. Arahant Fruition-Attainment means that the Arahant Fruition-Consciousness, with Nibbāna as object, occurs continuously for a long time. Because the vipassanā practices were strong and powerful, the Arahant Fruition-Attainment too was strong and powerful. Because of the effort of the vi-passanā and the effort of the Fruition-Attainment the affliction did not occur in the ten months that were left until the day of The Buddha’s Parinibbāna. But He had to enter that Fruition-Attainment every day until then.

 

After the vassa, The Buddha wandered from place to place, and eventu-ally reached Vesālī. Three months before Vesākha full-moon day, on the full-moon day of February, at the Cāpāla Cetiya, The Buddha decided to relinquish the will to live (āyu•sa khāra ossajjana). What does that mean? On that day He decided:

 

Temāsamattameva pana samāpatti samāpajjitvā tato para na samāpaj-jissāmīti citta uppādesi.

 

From today until the full-moon day of Vesākha I shall practise this Fruition Attainment. Then I shall no longer practise it.

 

THE BUDDHA DECLARES HIS WISHES

 

So on that day, in front of the assembled Bhikkhu Saṅgha, in the assembly hall of the Mahāvana monastery, The Buddha announced that He had relinquished the will to live. He said to the Bhikkhu Saṅgha:

 

Tasmātiha bhikkhave ye te mayā dhammā abhiññā desitā, te vo sādhuka uggahetva āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā.

 

Bhikkhus, you, to whom I have made known  the Truths about which I have direct knowledge, having thoroughly learnt them, should cultivate them, develop them, and frequently practise them.

 

The Buddha taught only the Dhamma about which He had direct experience. Here The Buddha declared His wishes for His teachings, and instructed the Saṅgha as follows:

 

1) They should learn His Teachings (Dhamma) thoroughly by heart, but learning by heart alone is not enough. This was The Buddha’s first wish.

 

2) He instructed them to cultivate His Teachings (Dhamma). In Pali it is called āsevitabbā, and means that we must try to know this Dhamma in practice again and again. It is translated as cultivation. This was The Buddha’s second wish.

 

3) Finally, He instructed them to develop (bhāvetabbā) the Truths. When we cultivate, growth and progress are necessary.

 

What does that mean? When we practise the Dhamma, only wholesome dhammas (kusala•dhamma) must occur in our mental processes. That is, wholesome morality dhammas (sīla•kusala•dhamma), wholesome concentration dhammas (samādhi•kusala•dhamma) and wholesome wisdom dhammas (paññā•kusala•dhamma). These wholesome dhammas must occur without a break until Arahantship. If a disciple (sāvaka) of The Buddha attains Arahantship, his practice (bhāvanā) is over. So a disciple of The Buddha must practise The Buddha’s Teachings until he attains that goal: the cultivation must be developed until Arahantship. To reach Arahantship, we must practise again and again. For that reason The Buddha gave the instruction of bahulīkātabbā, which means we must practise frequently. This was The Buddha’s third wish.

 

These wishes occured in The Buddha’s mental processes. Why?

 

Yathayida brahmacariya addhaniya assa cira hitika.

 

So that the pure Teaching may be established and last long.

 

That is, to maintain the pure Teaching so that it can last for a long time.

 

OUR DUTY AS BUDDHISTS

 

It is very important that every Buddhist maintains the pure Teaching, so that it is not lost. We must try. What should we try to do? We repeat:

 

1) We should try to learn The Buddha’s Teachings (Dhamma) thoroughly by heart.

 

2) We should try to practise The Buddha’s Teachings so as to know them through personal experience.

 

3) We should try to practise The Buddha’s Teachings until Arahantship.

 

These are the duties of all Buddhists. If one is a Buddhist one must follow these three instructions. If one does not follow them then one is a Buddhist in name only: not a real Buddhist. If one follows these three instructions thoroughly, then one is a real Buddhist. So you can today determine:

 

1) We will try to learn The Buddha’s Teachings thoroughly by heart.

 

2) We will try to practise The Buddha’s Teachings so as to know them through personal experience.

 

3) We will try to practise The Buddha’s Teachings until Arahantship.

...


__________________


Biết Và Thấy 
1_PDFBietVaThay_B (Nguyên Tập)


__________________


Knowing And Seeing
1_PDF
KnowingAndSeeing (Whole Book)


__________________


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15 Tháng Mười 20187:22 CH(Xem: 34)
Cần phải biết doanh nhân tìm đến Đạo Phật nhằm mục đích gì? Có thể có doanh nhân làm ăn thất bại, nên đến với Đạo Phật để tìm cách làm ăn thành công hơn. Thật ra, Phật giáo không loại trừ điều này (kinh doanh → lợi nhuận), vì đó là một trong những nhu cầu sinh tồn của loài người. Nếu một người thông suốt được phương diện đạo đức
14 Tháng Mười 20187:25 SA(Xem: 43)
Chánh niệm là trở về trọn vẹn với hiện tại nhưng không tự mãn với hiện tại mà cần phải tỉnh giác soi sáng hiện tại nữa mới được, nếu thiếu tỉnh giác tức sự sáng suốt biết mình thì đức Phật gọi là đắm chìm trong hiện tại. Nói rõ hơn, chánh niệm tỉnh giác là không truy tìm bản ngã trong quá khứ, không ước vọng bản ngã trong tương lại,
13 Tháng Mười 20182:52 CH(Xem: 49)
Tu Phật có ba trình độ: 1) Sống đạo hay sống thuận pháp là cao nhất, nên gọi là Đạo Phật. Đây là thời kỳ Chánh pháp. 2) Tôn giáo có tên là Phật Giáo lấy giáo lý của một trong những tông phái làm lý tưởng của mình. Đây là thời kỳ tượng pháp. 3) Tín ngưỡng tuy tự xem là Phật giáo nhưng nặng hình thức đức tin dân gian
12 Tháng Mười 201810:36 CH(Xem: 42)
Thực tánh chân đế có hai: Một là Tánh đế, như thấy sân đúng với thực tánh của nó hoặc thay vì cho là "Ta" biết thì thấy đó chỉ là tánh biết, cho là thân của "Ta" thì thấy đó chỉ là tứ đại giả hợp. Hai là Thánh đế, như thấy tâm hoàn toàn rỗng lặng trong sáng không còn tham sân si hay thấy Niết-bàn.
11 Tháng Mười 20184:05 CH(Xem: 51)
Bài học thấy ra đâu là nguyên nhân đau khổ & Niết-bàn - Là ngay trong chính mình và cuộc sống chứ không phải cố gắng để đạt đến một trạng thái lý tưởng ở tương lai... - Lắng nghe, quan sát lại chính mình trong tương giao với cuộc sống, sẽ thấy ra (vipassati) mọi chân lý mà chư Phật đã chứng ngộ.
10 Tháng Mười 20183:08 CH(Xem: 49)
Nhận thức đúng về Tứ Diệu Đế không phải là hiểu biết trên ngôn từ kinh giáo mà trên sự thật về từng nỗi khổ, niềm vui bạn đang trải nghiệm hàng ngày, từ đó thấy ra chính thái độ phản ứng của bạn tạo ra những nỗi khổ niềm vui ấy, chứ không phải do ai hay nguyên nhân nào khác cả, bên ngoài chỉ là duyên,
09 Tháng Mười 20189:04 CH(Xem: 68)
Thiền không phải là kiểm soát tâm mà hoặc là buông thư cho tâm nghỉ ngơi vô sự thì tâm tự tịnh (thiền định), hoặc là chỉ thuần soi chiếu những trạng thái tâm thôi thì tâm tự sáng (thiền tuệ). Nếu kiểm soát thì liền có cái "Ta kiểm soát" điều khiển cái "tâm của Ta", như vậy không thể định mà cũng không có tuệ.
08 Tháng Mười 20182:00 CH(Xem: 57)
"Không làm các việc ác, thường làm các việc lành, giữ tâm ý thanh tịnh" là được. Việc ác là việc hại mình hại người, việc lành là việc tốt mình tốt người. Tâm thanh tịnh là tâm sáng suốt, định tĩnh, trong lành - không tham, sân, si. Ngoài ra, đọc kinh sách, nghe thuyết giảng để nhận thức cho đúng, có nhận thức đúng thì hành vi mới đúng,
07 Tháng Mười 20183:15 CH(Xem: 64)
Khả năng thấy được bản ngã lại là vô ngã. Thấy được bản ngã là tốt rồi, do đó cứ thấy đi thì cái ngã sẽ tự biến mất khi thời tiết đến, vội gì con. Vội cũng là bản ngã đó nghe! Có bản ngã không thể thấy và sống đúng với thực tánh chân đế (sự thật rốt ráo) được. Có bản ngã thì vẫn làm đúng tốt được nhưng chỉ đúng tốt tương đối
06 Tháng Mười 201810:31 CH(Xem: 71)
Trong thiền Vipassanà thấy tức là hành chứ không phải hành là áp dụng theo một phương pháp để cố gắng làm gì với ý đồ đạt được điều mình mong muốn. Cái mong muốn luôn ở tương lai, trong khi cái được thấy chỉ ở ngay đây, trong hiện tại, như nó đang là. Thấy là phát hiện ra sự thật, thấy ra thực tánh của pháp đang vận hành
05 Tháng Mười 201811:03 CH(Xem: 63)
...Cái thực là cái như nó đang là, không cần ai biết đến nó vẫn thực, không phải cái mà bản ngã ảo tưởng cho nó là, đòi hỏi nó phải là, hay mong cầu nó sẽ là. Như vậy cái thực chỉ hiện diện tại đây và bây giờ, và thấy thì thấy ngay, đừng khởi tâm lăng xăng tìm hiểu (sở tri) hay cố gắng nắm bắt (sở đắc), vì tất cả kiến thức và sở hữu đều là ảo tưởng ảo giác mà thôi.
04 Tháng Mười 20189:11 CH(Xem: 69)
Trong thời buổi mà con người, nhất là giới doanh nhân, trí thức đang mất mát niềm tin nơi chính mình và với xã hội, nhiều người tìm đến tôn giáo như một cứu cánh, nhưng bị lạc giữa mê cung của biết bao trường phái và còn lúng túng hơn… thì sự trở lại với đạo Phật nguyên thủy, trong sáng của Hòa thượng Viên Minh
04 Tháng Mười 201810:00 SA(Xem: 454)
Đức Phật dạy rằng tất cả mọi sự vật trong thế giới vật chất, bao gồm những hoạt động tinh thần và các trải nghiệm thuộc về tâm lý, được đánh dấu bởi ba đặc tính - vô thường, đau khổ (hoặc không như ý, hoặc không hoàn hảo), và vô ngã. Qua việc kiểm tra cùng với sự hiểu biết thấu đáo về ba dấu ấn nầy giúp chúng ta từ bỏ sự nắm giữ
03 Tháng Mười 20181:45 CH(Xem: 71)
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống làm đồ gỗ mỹ nghệ lâu đời của Đồng Kỵ, Bắc Ninh. Cùng với niềm đam mê, tài năng và sự cố gắng của mình, cô không chỉ đưa công ty ngày càng phát triển, mà còn góp phần đưa thương hiệu gỗ Đồng Kỵ nổi tiếng khắp cả nước và được nhiều bạn bè trên thế giới biết đến.
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 153)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript
02 Tháng Mười 20182:05 CH(Xem: 106)
Đa số Phật tử tu theo đạo Phật không nhiều thì ít đều có liên tưởng đến những hiện tượng huyền bí, đó là thần thông. Vậy thần thông có phải là cái chúng ta nương tựa, để cho chúng ta tin cậy, để cho chúng ta học hỏi luyện tập không? Khi Phật cón tại thế, Tôn Giả Mục Kiền Liên sau khi chứng quả A La Hán, Ngài có đủ lục thông.
01 Tháng Mười 20188:25 CH(Xem: 69)
Nhiều Phật tử đi chùa quy y đã lâu, biết tụng kinh niệm Phật, thế mà đối với lý nhân quả chưa đủ lòng tin. Nếu chưa đủ lòng tin nhân quả thì giáo lý Phật coi như chưa hiểu gì cả, vì lý nhân quả là nền tảng của Phật pháp. Tin lý nhân quả là điều thiết yếu nhưng không phải tin suông, tin mù quáng mà là một sự kiện thực tế,
30 Tháng Chín 201810:34 CH(Xem: 54)
Chánh báo là quả báo gốc hay là quả báo chủ yếu của nghiệp nhân đã tạo, còn y báo là quả báo nương nơi chánh báo mà có như nhà cửa cảnh vật xung quanh... chánh báo và y báo là chỉ cho con người và cảnh vật thuộc về con người. Vậy chánh báo và y báo cái nào là gốc cái nào là ngọn? Nếu chúng ta không hiểu sẽ bị lầm lẫn
29 Tháng Chín 20182:33 CH(Xem: 80)
Nghiệp là thói quen huân tập tạo thành sức mạnh chi phối tất cả mọi sinh hoạt trong cuộc sống của con người từ khi mở mắt chào đời cho đến khi nhắm mắt và những đời kế tiếp. Nếu người Phật tử tu mà không hiểu rõ về nghiệp thì khó mà ứng dụng tu hành để tới chỗ an lạc. Chữ nghiệp trong nhà Phật không có nghĩa một chiều,
28 Tháng Chín 20189:56 CH(Xem: 64)
Nghiệp là động lực dẫn chúng ta đi trong luân hồi sanh tử, nên rất hệ trọng đối với sự tu hành. Vậy nghiệp là gì? Nghiệp được dịch từ chữ Phạn Karma nghĩa là hành động lặp đi lặp lại nhiều lần thành thói quen. Thói quen đó gọi là nghiệp. Ví dụ giáo viên dạy học, dạy từ năm này qua năm khác, được gọi là nghề giáo
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 704)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 1476)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
19 Tháng Sáu 20186:17 CH(Xem: 970)
Mấy ngày gần đây, một số thanh niên nam nữ Phật tử đến chùa gặp thầy hỏi về tình hình đất nước. Các bạn nói rằng, hiện nay nhà nước sắp cho người nước ngoài thuê ba khu vực trọng yếu của Việt Nam là Vân Đồn ở Quảng Ninh, Bắc Vân Phong ở Khánh Hòa và Phú Quốc ở Kiên Giang để làm đặc khu kinh tế, thời hạn cho thuê là 99 năm.
24 Tháng Chín 20186:00 CH(Xem: 2206)
Chúng ta khổ nên cầu giải thoát? Nhưng ai làm chúng ta khổ và ai giam giữ chúng ta? Người đời làm chúng ta khổ, cuộc đời giam giữ chúng ta chăng? Chính cái Ta (ngã) làm chúng ta khổ, và cũng chính cái Ta giam giữ chúng ta trong luân hồi sinh tử. Vì nếu không có Ta thì ai chịu khổ, không có Ta thì ai sinh, ai tử?
31 Tháng Năm 201810:49 SA(Xem: 940)
Ngài Thiền Sư Pháp Minh là một trong những vị Cao Tăng, chân tu, thực hành Hạnh Đầu đà vô cùng tinh tấn của Hệ phái Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài ra đi nhưng Ngài vẫn còn sống mãi với hình ảnh là một bậc chân tu khả kính, thực hành Giới-Định-Tuệ, in đậm nét trong tâm trí của toàn thể chư Tăng, Tu nữ và hàng Phật tử gần xa.
09 Tháng Tư 201810:21 CH(Xem: 1143)
Quyển sách này gồm các bài kinh theo các chủ đề được tuyển chọn bởi vị nhà sư Tỳ Kheo Bồ-Đề, trong thời gian thầy dịch lại các bộ kinh Nikaya Pali. Đây là một công trình rất hữu ích cho nhiều Phật tử và độc giả trên khắp thế giới. Cũng như vậy, tôi dịch tập tuyển kinh này vì hy vọng nó sẽ rất hữu ích và thuận tiện cho nhiều người Việt Nam:
02 Tháng Mười 20182:48 CH(Xem: 153)
A famous sutra in Mahāyāna Buddhism; its Sanskrit title means "The Heart of the Perfection of Understanding". The text is very short, and it is generally believed to be Buddhist apocrypha written in China using excerpts of a translation of the Mahaprajnaparamita Sutra. The earliest extant text of the Heart Sūtra is the palm-leaf manuscript
31 Tháng Năm 201810:49 SA(Xem: 940)
Ngài Thiền Sư Pháp Minh là một trong những vị Cao Tăng, chân tu, thực hành Hạnh Đầu đà vô cùng tinh tấn của Hệ phái Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài ra đi nhưng Ngài vẫn còn sống mãi với hình ảnh là một bậc chân tu khả kính, thực hành Giới-Định-Tuệ, in đậm nét trong tâm trí của toàn thể chư Tăng, Tu nữ và hàng Phật tử gần xa.
08 Tháng Tư 20189:32 CH(Xem: 717)
"Từ kiếp nầy sang kiếp kia, những hạt giống tiếp tục được gieo trồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thần mưa tiếp tục tưới rải nước mưa như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, người nông dân tiếp tục trồng trọt trên cánh đồng như thế; Từ kiếp nầy sang kiếp kia, thực phẩm tiếp tục tăng trưởng trong cõi người như thế;
30 Tháng Giêng 20181:00 CH(Xem: 3597)
"Một bản chú giải thật sinh động được lưu truyền qua bao thế hệ trên đảo Tích Lan. Nhưng vì tác phẩm viết bằng thổ ngữ địa phương nên sự lợi lạc chẳng đến được các xứ xa xôi. Không chừng tác phẩm sẽ góp phần đắc lực trong việc mang lại an lạc cho hết thảy nhân loại".
12 Tháng Mười Hai 201710:00 SA(Xem: 6127)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách. Này Xá Lợi Phất! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng lại như thế.
02 Tháng Mười Hai 20172:57 CH(Xem: 2592)
(182) Khó mà sinh được làm người, Rồi ra sống được trọn đời khó hơn, Được nghe chánh pháp tuyên dương. Cũng là điều khó trăm đường mà thôi, Duyên may gặp Phật ra đời. Là điều hy hữu, tuyệt vời biết bao.