Truyện Tiền Thân Đức Phật: Vua Chó - The Dog-Birth: Kukkura-Jataka

26 Tháng Hai 201811:46 CH(Xem: 3851)
Truyện Tiền Thân Đức Phật: Vua Chó - The Dog-Birth: Kukkura-Jataka

TheDogBirth_B

(Picture-Hình: jatakakatha.wordpress.com)



Truyện Tiền Thân Đức Phật: Vua Chó - The Dog-Birth: Kukkura-Jataka
Translated from the Pali and retold by Margo McLoughlin 
Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến - Source-Nguồn: margostoryteller.net

__________________


Truyện Tiền Thân Đức Phật: Vua Chó 

 

Ngày xưa, có một vị Bồ Tát sinh ra là một con chó. Bồ Tát sống trong một nghĩa trang bên ngoài thành phố Varanasi (Ba La Nại), bao quanh bởi những giống chó khác - hàng trăm và hàng trăm những con chó khác. Chúng không phải là các giống chó săn thuần chủng: chúng là những con chó lai (mongrel và mutt), và chúng tồn tại bởi vì chúng có trí thông minh.

 

Một ngày kia nhà vua cảm thấy chán nản và lo lắng, cho nên ông đã không tham dự vào công việc triều đình, nhà vua bảo quân lính lấy xe ngựa, đưa ông lên đường đi xem các ngôi vườn giải trí của hoàng gia. Chiếc xe vua hai bánh được kéo bởi một cặp ngựa trắng, dây cương làm bằng da bện lộng lẫy lóe sáng dưới ánh sáng mặt trời. Khi họ đến các vườn giải trí, nhà vua đã dành phần lớn thời gian trong ngày để thưởng thức phong cảnh. Vào lúc hoàng hôn, nhà vua trở lại thành phố, rồi ông trở về cung điện. Ở đó, nhà vua xuống ngựa, và ông vào nghỉ trong hậu cung của mình. Những con ngựa được chăm sóc, nhưng không có ai nhớ đến việc tháo dây cương tốt đẹp bằng da trên chiếc xe vua, cho nên họ đã để dây lê lết trên mặt đất.

 

Đêm hôm đó trời đổ mưa, và dây cương ngựa bị ướt sũng. Những con chó săn của nhà vua nhảy xuống từ sân thượng, và chúng bắt đầu nhai và gặm những đoạn dây nịt bằng da của dây cương ngựa.

 

Ngày hôm sau, những người hầu của nhà vua báo cáo với nhà vua rằng: "Tâu Bệ hạ, sau cơn mưa ngày hôm qua, những con chó hoang chui qua đường cống vào trong sân cung điện. Chúng đã nhai gặm và phá hỏng dây cương bằng da tốt của chiếc xe vua.     

 

Nhà vua nghe rất tức giận. Ngay lập tức, nhà vua ra lệnh: "Hãy cho giết những con chó hoang nầy, bất cứ khi nào mà người ta trông thấy chúng."

 

Kể từ giây phút đó, có một sự đau khổ kinh khiếp bao trùm lên những con chó lang thang ở Varanasi (Ba La Nại). Nhiều con chó đã chạy trốn ra khỏi thành phố. Chúng chạy đến nghĩa trang nơi Bồ Tát đang sống. Khi Bồ Tát thấy những con chó đang đến gần, ngài hỏi: "Tại sao có nhiều các bạn (chó) đến đây như vậy?" Chúng kể lại câu chuyện cho ngài nghe: "Có những con chó nhai gặm và phá hỏng dây cương bằng da của xe vua. Nhà vua đã nổi giận, và ông ra lệnh giết chết tất cả các con chó hoang trong thành phố. Nhiều con chó đã bị giết chết, và chúng tôi đang sống trong sự sợ hãi."     

 

Bồ Tát là Vua Chó, dùng hai chân ôm lấy đầu, và suy ngẫm: "Vùng đất chung quanh cung điện là nơi có sự bảo vệ rất gắt gao. Không có cửa bí mật nào để chó chui vào. Dây cương ngựa của xe vua chắc là bị phá hỏng bởi những con chó trong hoàng cung. Chắc chắn là những con chó săn của nhà vua đã gây ra chuyện nầy. Và vào thời điểm nầy, thủ phạm thật sự chưa bị trừng phạt (dưới bất cứ hình thức nào), trong khi đó kẻ vô tội thì bị lên án tử hình. Ta sẽ đi đến cung điện, chỉ rõ cho nhà vua biết các thủ phạm thật sự, để cứu thân nhân đồng loại của ta." Sau đó Bồ Tát ngồi xuống, và ngài dùng những lời lẽ trấn an các đồng loại của ngài: "Quý vị đừng có sợ hãi nữa. Ngay khi ta đến gặp nhà vua, ta sẽ chỉ cho ông ta biết ai là người đã phá hỏng dây cương ngựa của ông."   

 

Sau đó, lấy ra từ những đức tính cao quý Ba La Mật (sự hoàn hảo),‎ Bồ Tát đã chọn lòng từ bi để làm người hướng dẫn cho ngài. Ngài một mình bước vào thành phố, và không ai trông thấy ngài, rồi ngài nói rằng, "Đừng để ai ném đất, hoặc ném cây gỗ vào thân thể của ta." Và đúng như thế, không có gì đáng tiếc xảy ra cả. Không một ai, khi nhìn thấy ngài, mà giơ tay lên đánh ngài.            

 

Vị Vua mà đã ra lệnh giết hại các con chó, giờ đây ông đang ngồi trong Phòng Công Lý. Trong lúc nhà vua ngồi đó, vị Bồ Tát đưa người vào, và nhảy về phía trước, rồi ngài giấu mình dưới ghế của nhà vua. Ở đó, Bồ Tát thu mình lại, và thở hổn hển. Ngay lập tức, những người lính của nhà vua tiến lại gần, định đưa ngài ra ngoài. Tuy nhiên, nhà vua đã ngăn cản họ lại. Vị Bồ Tát, lúc đó khôi phục lại phần nào, chui ra từ dưới ngai vàng, và cúi đầu trước mặt nhà vua.

    

Rồi Bồ Tát (Vua Chó) nói bằng tiếng người, như sau, "Có phải Bệ hạ là người đã ra lệnh sát hại chó?"

 

"Đúng như thế," nhà vua trả lời "Chính là trẫm."

 

"Ông Vua của loài người ơi, nhưng các con chó có tội tình gì?"

 

"Chúng đã nhai gặm và phá hủy dây cương da trên chiếc xe của trẫm."   

       

"Bệ hạ có biết chắc những con chó nào đã phá hủy dây cương da không?"

 

"Không," nhà vua thừa nhận, "chúng tôi không biết."

  

"Thưa Bệ hạ, điều nầy không công bằng. Bệ hạ chưa biết chắc ai là thủ phạm đã nhai gặm dây cương da, mà bệ hạ đã ra lệnh giết chó bất cứ lúc nào mà người ta trông thấy chúng."  

 

"Đúng rồi, trẫm đã ra lệnh giết chết tất cả các con chó, tất cả các con vật đã nhai gặm dây da, bất cứ lúc nào mà người ta trông thấy chúng."

 

"Quân lính của triều đình sẽ giết chết tất cả các con chó, hay là còn có những con chó khác mà không bị kết án tử hình nầy?"     

 

"Phải rồi, có những trường hợp ngoại lệ. Những con chó trong hoàng cung sẽ không bị kết án tử hình."

 

"Vị vua Cao Quý ơi, vài phút trước đây bệ hạ có nói rằng, 'Ta ra lệnh giết chết tất cả các con chó, tất cả các con đã nhai gặm dây da, bất cứ lúc nào mà người ta trông thấy chúng', tuy nhiên, bây giờ bệ hạ lại nói rằng, 'Các con chó ở trong hoàng cung thì không bị kết án tử hình.' Có phải bệ hạ đã tỏ lòng thiên vị với chó trong hoàng cung không? Đây là một trong bốn phần của các hành động sai trái. Điều nầy không phù hợp, cũng không phải là công lý của nhà vua. Công lý phải được đo lường (tính toán chính xác) và cân bằng, như thể một người đang cầm một cái cán cân. Công lý chỉ được thể hiện sau khi đã tìm ra được nguyên nhân, một cách cẩn thận. Vào lúc nầy, những con chó trong hoàng cung không bị án tử hình, trong khi những con chó hoang thì lại bị kết án nầy. Đây không phải là án lệnh giết tất cả các con chó, mà đây là lệnh giết hại những con vật yếu đuối, vì chúng không có người bảo vệ.'"

 

Sau khi nhà vua nghe xong, nhà vua nói với Vua Chó:

 

"Ông là người khôn ngoan, ông có biết ai là người đã phá hủy dây cương da của trẫm không?"

 

"Dạ thưa bệ hạ, tôi biết," vị Bồ Tát trả lời. "Đấy là những con chó thuần chủng trong cung điện của bệ hạ."     

 

Nhà vua nhăn mặt. "Làm cách nào để ông biết rằng chúng chính là thủ phạm?"

 

"Tôi có cách chỉ cho bệ hạ trông thấy."

 

"Được rồi," ông vua nói. "ông hãy làm cho ta xem nào."

     

Bồ Tát đã yêu cầu các con chó săn của nhà vua được tập trung lại trong sân. Rồi ông yêu cầu cung cấp sữa-bơ và một số cỏ kusa. (Đức Phật Thích Ca đã dùng loại cỏ kusa nầy trải trên đất để ngồi thiền.)

 

Sau đó, vị Bồ Tát nói: "Hãy cho nghiền nát cỏ kusa rồi trộn với sữa-bơ. Sau đó, hãy cho các con chó uống thứ sữa hỗn hợp nầy." Nhà vua gật đầu và vỗ tay ra lệnh. Các người hầu mang cối và chày bằng đá để nghiền nát cỏ kusa. Sau đó, họ rót vào cối một phân lượng sữa-bơ có mùi vị ngon ngọt, và họ cho trộn hai thứ vào nhau, rồi đổ sữa hỗn hợp (trông lổn nhổn với cỏ xay) vào cái máng cho chó ăn. Các con chó của nhà vua đến gần, chúng quẫy đuôi, rồi chúng dùng lưỡi liếm sữa hỗn hợp nầy. Tuy nhiên, ngay sau khi các con chó vừa ăn sữa cỏ xong, chúng buồn nôn, và chúng ói mửa trên sân của cung điện. Ói ra cùng với sữa-bơ và cỏ kusa, là những mảnh da nát của dây cương ngựa, được trông thấy rõ ràng trên nền cung điện.   

 

Nhà vua hài lòng, "Ông đã cho tôi nhìn thấy những thủ phạm thật sự," nhà vua nói với vị Bồ Tát (Vua Chó). "Trẫm cúi đầu khâm phục ông." Và nhà vua đến gần một cái lọng vua, rồi ông hiến tặng lọng cho vị Bồ Tát.

    

Vị Bồ Tát cho phép để chiếc lọng vua che trên đầu ngài. "Vị Vua Cao Quý ơi, ông cần làm những điều đúng đắn," vị Bồ Tát nói. Rồi, ngài dạy Phật Pháp cho nhà vua bằng những bài kệ hướng dẫn về đạo đức. Sau cùng, vị Bồ Tát nói, "Vị Vua Cao Quý ơi, từ giờ trở đi, ông hãy sống tỉnh thức. Và ông hãy làm việc hết lòng." Bồ Tát bắt đầu dạy nhà vua năm giới, rồi ngài trả lại chiếc lọng cho nhà vua.

 

Sau đó, nhà vua hiến tặng sự tự do và sự an toàn cho tất cả mọi chúng sinh. Nhà vua cũng liên tục cung cấp nguồn thực phẩm, tương tự như những gì ông ăn, cho tất cả các con chó. Nhà vua gìn giữ các giới luật, và ông tạo công đức bằng cách thực hành sự rộng lượng. Vào lúc cuối đời của nhà vua, ông đã tái sinh vào cõi trời. Lời dạy của Bồ Tát (Vua Chó) đã kéo dài mười ngàn năm. Và đối với vị Bồ Tát, ngài đã sống một kiếp sống tốt đẹp, xứng đáng với các hành động cao quý của ngài.    

 

BÌNH LUẬN:

 

Từ ngữ chính trong tiếng nguyên thủy Pali "Sinh Ra Là Chó" là rajadhammo (raja + dhammo). Tôi (Margo McLoughlin) đã dịch thuật là "công lý của nhà vua." Gốc của từ ngữ Dhamma là dhr, có nghĩa là hỗ trợ, hoặc là chịu đựng. Sau đó, dhamma là những gì tạo thành nền tảng, và duy trì nền tảng. Ý nghĩa chính của dhamma là "hành vi đúng đắn" hoặc "những gì là đúng đắn." Để thiết lập luật pháptrật tự trong vương quốc, nhà vua có trách nhiệm làm những điều luật đúng đắn bằng cách tạo ra một hệ thống công lý công bằngvô tư. Nhà vua đã hành động dưới ảnh hưởng của sự giận dữ nhất thời - khi ông ra lệnh cho sát hại tất cả các con chó - do đó, nhà vua đã lạm dụng quyền hành của ông. Hình ảnh của người chống đối, bất tuân lệnh trong câu chuyện nầy là một con chó (sống trong nghĩa trang!) dạy nhà vua về công lý. Trong cuộc đối thoại với nhà vua, vị Bồ Tát đã làm cho nhà vua thấy ra được sự thật. Bồ Tát đã đặt nhà vua ở vị trí nhân chứng, rồi ngài đưa ra những sự thật, và sau đó ngài lập luận cho nhà vua thấy được hành động của nhà vua là bất công. Bồ Tát kết luận bằng cách chứng minh ai thật sự là người có tội. Đây là một vở kịch đóng trong tòa án, tuyệt vời nhất!

 

Những câu chuyện Tiền Thân Đức Phật gồm có nhiều câu chuyện nói về vua chúa, trong đó có một số chuyện thể hiện thái độ mâu thuẫn lớn đối với (người có) vị thế quyền hành. Trong truyện Tiền Thân Temiya, Bồ Tát sinh ra là một hoàng tử, ngài đã giả câm và điếc, để tránh lên ngôi vua, bởi vì ngài biết rằng cai trị quốc gia cần phải dùng đến bạo lực. Những câu chuyện khác khám phá tiềm năng của các vị vua để thiết lập "Một Quốc GiaĐạo Đức Hoàn Hảo" (đó là những từ ngữhọc giả Steven Collins đã xử dụng), trong đó các tòa án thì trống rỗng, và các ông quan tòa ngồi chơi nhàn rỗi, bởi vì dân chúng đang sống trong hòa bình và thịnh vượng. Như ông Collins đã nói rõ, những câu chuyện nầy có thể miêu tả một xã hội lý tưởng (trong quá khứ hoặc là trong tương lai), với mục đích khuyên nhủ và khuyến khích các vị nguyên thủ quốc gia ngày nay, hãy dùng công lý để cai trị nước nhà.

The Dog-Birth: Kukkura-Jataka

 

Once the Bodhisatta was born as a dog.  He lived in a great cemetery outside the city of Varanasi, surrounded by dogs of all kinds—hundreds and hundreds of dogs. They were not purebred hounds: They were mongrels and mutts, and they survived by their wits.

   

It happened that one day the king, feeling too restless to attend to his duties, summoned his chariot and set off for the royal pleasure gardens. His two-wheeled chariot was drawn by a pair of white horses, their gorgeous trappings of braided leather gleaming in the sunlight. When they reached the pleasure gardens, the king spent the greater part of the day enjoying himself. At sunset he re-entered the city and returned to the palace. There he dismounted and retired to his quarters. The horses were tended to, but no one remembered to unfasten the chariot's fine leather harness and it was left dragging on the ground.

   

That night it rained and the harness was soaked. The king’s hounds came leaping down from the terrace and began to chew and gnaw on the leather straps of the harness.

   

The next day, the king’s servants gave their report to the king: "Your Majesty, after the rain last night, stray dogs came into the courtyard through the drain. They have chewed and destroyed your chariot’s fine leather harness."

   

The king was furious. At once, he gave his orders: "Kill these dogs, wherever they are seen."

   

From that moment a great misery befell the wandering strays of Varanasi. Many fled the city. They came to the cemetery where the Bodhisatta lived. When he saw the dogs approaching, the Bodhisatta questioned them: "What brings you in such numbers?" They told him all: "Dogs have gnawed and destroyed the leather harness on the king’s chariot. In his anger, the king has given orders to kill all the strays in the city. Many are being done away with and we live in fear."

    

The Bodhisatta, King of the Dogs, put his head down between his paws and reflected: "The palace grounds are wellguarded. There is no secret entrance or opening for so many dogs to come in. The chariot harness must have been destroyed by dogs inside the king’s palace. It must be the king’s hunting hounds that did it. And at this moment, the true perpetrators have received no punishment of any kind, while those who are not responsible are under a sentence of death. I shall go to the palace, show the king the real culprits and save my kin." Then the Bodhisatta sat up and spoke calming words to his relatives: "Do not be afraid any longer. As soon as I see the king, I will show him who destroyed his leather harness."

     

Then he summoned the perfections  and chose loving-kindness to be his guide.  He entered the city all alone and unseen, saying, "Let none throw a clod of earth or a club at me." And it was so. Not a single person, seeing him, raised a hand against him.

    

The King had given his orders for the slaughter of the dogs, and now he was sitting in the Hall of Justice. While he sat there, the Bodhisatta slipped into the hall, sprang forward, and hid himself under the king’s seat. There he crouched, panting. Straight away, the king's men approached, intent on getting him out. But the king stopped them. The Bodhisatta, somewhat restored, came out from under the throne and bowed before the king.

   

Speaking in a human voice, he said, "Is it you who gave orders for the dogs to be killed?"

   

"Yes," answered the king. "It is I."

   

"What is their offence, King of Men?"

   

"They have gnawed and destroyed the leather work covering my chariot."

   

"Do you know without a doubt which dogs destroyed it?"

   

"No," the king admitted, "we do not know."

   

"Your Majesty, this is not just. You do not know for certain which are the leather-chewing culprits, yet you have given order to kill dogs wherever they are seen."

 

"This is true. I gave orders to kill all of the dogs, all these chewers of chariot leather, wherever they are seen."

   

"But are your men killing all the dogs, or are there some who are not under sentence of death?"

   

"Yes, there are some. The dogs in our household are not under sentence of death."

   

"Great King, a moment ago you said, 'I gave orders to kill all of the dogs, all these chewers of chariot leather, wherever they are seen', but now you say, 'The dogs in our household are not under sentence of death' Are you not showing favor to one group? This is partiality, one of the four wrong courses of action.  It is not fitting, nor is it kingly justice. Justice ought to be measured and balanced, as if one were using a weighing pole. It ought to come from careful searching for a cause. At this time, the dogs in your household are not under sentence of death, while the stray dogs of the city are. This is not slaughter of all the dogs, it is murder of the weak and unprotected." '

   

The king listened and then addressed the King of the Dogs:

   

"Wise one, do you know who is responsible for destroying the leather harness?"

   

"Yes, I do know," answered the Bodhisatta. "It was the purebred dogs in your own home."

   

The king frowned. "How do you know it was them?"

   

"I will show you."

   

"Yes,” said the king. "Show me."

        

The Bodhisatta asked that the king’s hounds be gathered in the courtyard. He requested a supply of buttermilk and some kusa grass.

    

Then the Bodhisatta said: "Crush the kusa grass and mix it in with the buttermilk. Give the mixture to the dogs to drink." The king nodded and clapped his hands. Servants brought a mortar and crushed the kusa grass with a stone pestle. Into the mortar they poured a measure of sweet-smelling buttermilk, mixed the two ingredients together, and poured the lumpy mixture into the dog’s drinking trough. The king’s dogs came, with their tails wagging, and lapped it up. But no sooner was the mixture all gone than the dogs could be seen heaving and vomiting all over the palace courtyard. Along with the buttermilk and kusa grass, up came bits of chariot leather, plainly visible on the palace grounds.

   

The king was satisfied. "You have shown me the real culprits," he said to the Bodhisatta-King of the Dogs. "I bow to you." Then he reached for the white parasol of kingship and offered it to the Bodhisatta.

   

The Bodhisatta allowed the parasol to be held above him. "Great King, you must do what is right," he said. Then he taught the Dhamma to the king with verses of ethical instruction. He finished by saying, "Great King, from this moment on, be mindful. Be diligent." He established the king in the five precepts and returned the parasol of kingship.

    

The king offered freedom and safety to all beings. He established a continuous food supply, much like what he ate himself, for all the dogs. He kept the precepts and made merit by practicing generosity. At the end of his life he was reborn in the heaven realms. The dog’s teaching endured for ten thousand years. And as for the Bodhisatta, he also lived out his life and fared according to his actions.

 

COMMENTARY:

 

The key word in the Pali original of "The Dog Birth" is rajadhammo (raja + dhammo). I have translated it as "kingly justice." The verbal root of dhamma is dhŗ, which means to support, or to bear. Dhamma then is that which forms a foundation and upholds. Its principle meaning is "right behavior" or "what is right." As the source of law and order in the kingdom, the king is responsible for doing what is right by creating a system of justice that is fair and impartial. By acting under the influence of impulse—when he gives orders for all the dogs to be killed—he is misusing his power. The subversive element in this story is the image of a dog (and one who lives in a cemetery, no less!) teaching a king about justice. In his dialogue with the king, the Bodhisatta appeals to the king's rational mind. He puts the king in the witness box, so to speak, establishes the facts, and then sets out to show the king how his actions are unjust. He finishes by demonstrating who the guilty ones really are. This is courtroom drama at its best!

 

The Jataka (accounts of the Buddha's former lives) include many stories about kingship, some of which demonstrate an attitude of great ambivalence towards the position of power. In Temiya Jataka, the Bodhisatta, born as a prince, pretends to be deaf and dumb, in order to avoid taking on the role of king, knowing that to rule necessarily requires violence.  Other stories explore the potential of kings to establish what scholar Steven Collins refers to as a "Perfect Moral Commonwealth," in which courts lie empty and judges sit idle because there is peace and prosperity in the land.  As Collins points out, these kind of stories may be depicting an ideal society (past or future), while also serving to admonish and exhort present-day rulers to rule with justice.

 



__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Giêng 2020(Xem: 2455)
29 Tháng Mười Hai 2016(Xem: 9073)
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 90)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 113)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 140)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 141)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
25 Tháng Mười Một 202011:39 CH(Xem: 165)
Thưa Thầy! Tôi nay đã 70 tuổi, vừa mới về hưu, vợ thì đã qua đời cách đây hơn chục năm. Tưởng chừng ở tuổi này tôi có thể an dưỡng tuổi già nhưng không Thầy ạ, tôi không biết mình từng tạo nghiệp gì để bây giờ con cháu suốt ngày gây sự với nhau. Cháu đích tôn của tôi hồi đó đặt kỳ vọng bao nhiêu, bây giờ lại ăn chơi lêu lổng,
24 Tháng Mười Một 20209:29 CH(Xem: 169)
Khi mới xuất gia, tôi không có ý định trở thành một dịch giả. Vị thầy đầu tiên của tôi là một tu sĩ người Việt, và tôi ở với thầy tại California trong thập niên 1960. Thầy đã chỉ cho tôi thấy tầm quan trọng trong việc học các loại ngữ văn của kinh điển Phật giáo, bắt đầu là tiếng Pāli, như là một công cụ để thông hiểu Giáo Pháp. Khi tôi đến
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 200)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười Một 202010:24 CH(Xem: 201)
Gần đây tôi có dịp quen biết một người phụ nữ khá lớn tuổi, bà này thường tỏ ra thương hại bạn bè khi thấy họ lúc nào cũng bận tâm lo lắng đến tiền bạc, ngay cả lúc mà cái chết đã gần kề. Bà bảo rằng: "Chưa hề có ai thấy một chiếc két sắt đặt trên một cỗ quan tài bao giờ cả !". Như vậy thì chúng ta sẽ nên lưu lại cho con cháu mình
21 Tháng Mười Một 20206:28 CH(Xem: 222)
Mười bốn câu trích dẫn lời của Đức Phật dưới đây được chọn trong số 34 câu đã được đăng tải trên trang mạng của báo Le Monde, một tổ hợp báo chí uy tínlâu đời của nước Pháp. Một số câu được trích nguyên văn từ các bài kinh, trong trường hợp này nguồn gốc của các câu trích dẫn đó sẽ được ghi chú rõ ràng, trái lại các câu
20 Tháng Mười Một 20201:53 CH(Xem: 212)
Điều trước nhất, ta nên thấy được sự khác biệt giữa một cái đau nơi thân với phản ứng của tâm đối với cái đau ấy. Mặc dù thân và tâm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, nhưng tâm ta không nhất thiết phải chịu cùng chung một số phận với thân. Khi thân có một cơn đau, tâm ta có thể lùi ra xa một chút. Thay vì bị lôi kéo vào, tâm ta có thể
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 295)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
18 Tháng Mười Một 20206:45 CH(Xem: 234)
Bài viết dưới đây, nguyên gốc là tài liệu hướng dẫn thực hành Phật Pháp, được phổ biến nội bộ trong một nhóm học Phật. Nhóm này có khoảng 10 thành viên nồng cốt, thường cùng nhau tu tập vào mỗi chiều tối thứ Sáu tại gia, về sau được đổi qua mỗi sáng thứ Bảy do đa phần anh chị em trong nhóm đã nghỉ hưu. Qua cơn bão dịch
14 Tháng Mười Một 20202:41 CH(Xem: 265)
Từ khổ đau đến chấm dứt khổ đau cách nhau bao xa? Khoảng cách ấy ta có thể vượt qua chỉ trong một chớp mắt. Đó là lời Phật dạy trong kinh Tu Tập Căn (Indriyabhavana Sutta), bài kinh cuối của Trung Bộ Kinh, số 152. Trong một trao đổi với một người đệ tử của Bà la môn tên Uttara, đức Phật mở đầu bằng sự diễn tả một kinh nghiệm
13 Tháng Mười Một 20208:24 CH(Xem: 275)
- Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng), Vô sanh (không còn sanh diệt) và Giải thoát v.v... những nghĩa này nhằm chỉ cho người đạt đạo sống trong trạng thái tâm thể hoàn toàn vắng lặng, dứt hết vọng tưởng vô minh.
12 Tháng Mười Một 20207:33 CH(Xem: 259)
Tại sao người hiền lành lại gặp phải tai ương? Câu hỏi này đặc biệt thích hợp khi áp dụng vào bối cảnh đại dịch Covid-19 đang diễn ra. Bệnh Covid-19 không chừa một ai, từ người giầu có đến người nghèo, từ người quyền quý đến người bình dân, từ người khỏe mạnh đến người yếu đuối. Tuy nhiên, ngay cả trong đời sống hàng ngày,
11 Tháng Mười Một 202011:43 CH(Xem: 256)
Có một anh thương gia cưới một người vợ xinh đẹp. Họ sống với nhau và sinh ra một bé trai kháu khỉnh. Nhưng người vợ lại ngã bịnh và mất sau đó, người chồng bất hạnh dồn tất cả tình thương vào đứa con. Đứa bé trở thành nguồn vui và hạnh phúc duy nhất của anh. Một hôm, vì việc buôn bán anh phải rời khỏi nhà, có một bọn cướp
10 Tháng Mười Một 20208:33 CH(Xem: 572)
Sáng nay, Thánh Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết thư cho Joe Biden để chúc mừng Ông được bầu làm Tổng thống tiếp theo của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ngài viết: “Như có lẽ bạn đã biết, từ lâu tôi đã ngưỡng mộ Hoa Kỳ như một nền tảng của sự tự do, dân chủ, tự do tôn giáo và pháp quyền. Nhân loại đã đặt niềm hy vọng lớn lao vào tầm nhìn
09 Tháng Mười Một 20208:19 CH(Xem: 297)
Có một chuyện kể trong Phật giáo như sau, có một vị tăng nhân cứu được mạng sống của một người thanh niên tự sát. Người thanh niên sau khi tỉnh dậy, nói với vị tăng nhân: “Cảm ơn đại sư, nhưng xin ngài đừng phí sức cứu tôi bởi vì tôi đã quyết định không sống nữa rồi. Hôm nay cho dù không chết thì ngày mai tôi cũng vẫn chết”.
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 358)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 386)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2195)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 3887)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 5513)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 295)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 358)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 386)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 200)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 5329)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 451)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 457)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 2979)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 1988)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng