Truyện Tiền Thân Đức Phật: Vua Chó - The Dog-Birth: Kukkura-Jataka

26 Tháng Hai 201811:46 CH(Xem: 1038)
Truyện Tiền Thân Đức Phật: Vua Chó - The Dog-Birth: Kukkura-Jataka

TheDogBirth_B

(Picture-Hình: jatakakatha.wordpress.com)



Truyện Tiền Thân Đức Phật: Vua Chó - The Dog-Birth: Kukkura-Jataka
Translated from the Pali and retold by Margo McLoughlin 
Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến - Source-Nguồn: margostoryteller.net

__________________


Truyện Tiền Thân Đức Phật: Vua Chó 

 

Ngày xưa, có một vị Bồ Tát sinh ra là một con chó. Bồ Tát sống trong một nghĩa trang bên ngoài thành phố Varanasi (Ba La Nại), bao quanh bởi những giống chó khác - hàng trăm và hàng trăm những con chó khác. Chúng không phải là các giống chó săn thuần chủng: chúng là những con chó lai (mongrel và mutt), và chúng tồn tại bởi vì chúng có trí thông minh.

 

Một ngày kia nhà vua cảm thấy chán nản và lo lắng, cho nên ông đã không tham dự vào công việc triều đình, nhà vua bảo quân lính lấy xe ngựa, đưa ông lên đường đi xem các ngôi vườn giải trí của hoàng gia. Chiếc xe vua hai bánh được kéo bởi một cặp ngựa trắng, dây cương làm bằng da bện lộng lẫy lóe sáng dưới ánh sáng mặt trời. Khi họ đến các vườn giải trí, nhà vua đã dành phần lớn thời gian trong ngày để thưởng thức phong cảnh. Vào lúc hoàng hôn, nhà vua trở lại thành phố, rồi ông trở về cung điện. Ở đó, nhà vua xuống ngựa, và ông vào nghỉ trong hậu cung của mình. Những con ngựa được chăm sóc, nhưng không có ai nhớ đến việc tháo dây cương tốt đẹp bằng da trên chiếc xe vua, cho nên họ đã để dây lê lết trên mặt đất.

 

Đêm hôm đó trời đổ mưa, và dây cương ngựa bị ướt sũng. Những con chó săn của nhà vua nhảy xuống từ sân thượng, và chúng bắt đầu nhai và gặm những đoạn dây nịt bằng da của dây cương ngựa.

 

Ngày hôm sau, những người hầu của nhà vua báo cáo với nhà vua rằng: "Tâu Bệ hạ, sau cơn mưa ngày hôm qua, những con chó hoang chui qua đường cống vào trong sân cung điện. Chúng đã nhai gặm và phá hỏng dây cương bằng da tốt của chiếc xe vua.     

 

Nhà vua nghe rất tức giận. Ngay lập tức, nhà vua ra lệnh: "Hãy cho giết những con chó hoang nầy, bất cứ khi nào mà người ta trông thấy chúng."

 

Kể từ giây phút đó, có một sự đau khổ kinh khiếp bao trùm lên những con chó lang thang ở Varanasi (Ba La Nại). Nhiều con chó đã chạy trốn ra khỏi thành phố. Chúng chạy đến nghĩa trang nơi Bồ Tát đang sống. Khi Bồ Tát thấy những con chó đang đến gần, ngài hỏi: "Tại sao có nhiều các bạn (chó) đến đây như vậy?" Chúng kể lại câu chuyện cho ngài nghe: "Có những con chó nhai gặm và phá hỏng dây cương bằng da của xe vua. Nhà vua đã nổi giận, và ông ra lệnh giết chết tất cả các con chó hoang trong thành phố. Nhiều con chó đã bị giết chết, và chúng tôi đang sống trong sự sợ hãi."     

 

Bồ Tát là Vua Chó, dùng hai chân ôm lấy đầu, và suy ngẫm: "Vùng đất chung quanh cung điện là nơi có sự bảo vệ rất gắt gao. Không có cửa bí mật nào để chó chui vào. Dây cương ngựa của xe vua chắc là bị phá hỏng bởi những con chó trong hoàng cung. Chắc chắn là những con chó săn của nhà vua đã gây ra chuyện nầy. Và vào thời điểm nầy, thủ phạm thật sự chưa bị trừng phạt (dưới bất cứ hình thức nào), trong khi đó kẻ vô tội thì bị lên án tử hình. Ta sẽ đi đến cung điện, chỉ rõ cho nhà vua biết các thủ phạm thật sự, để cứu thân nhân đồng loại của ta." Sau đó Bồ Tát ngồi xuống, và ngài dùng những lời lẽ trấn an các đồng loại của ngài: "Quý vị đừng có sợ hãi nữa. Ngay khi ta đến gặp nhà vua, ta sẽ chỉ cho ông ta biết ai là người đã phá hỏng dây cương ngựa của ông."   

 

Sau đó, lấy ra từ những đức tính cao quý Ba La Mật (sự hoàn hảo),‎ Bồ Tát đã chọn lòng từ bi để làm người hướng dẫn cho ngài. Ngài một mình bước vào thành phố, và không ai trông thấy ngài, rồi ngài nói rằng, "Đừng để ai ném đất, hoặc ném cây gỗ vào thân thể của ta." Và đúng như thế, không có gì đáng tiếc xảy ra cả. Không một ai, khi nhìn thấy ngài, mà giơ tay lên đánh ngài.            

 

Vị Vua mà đã ra lệnh giết hại các con chó, giờ đây ông đang ngồi trong Phòng Công Lý. Trong lúc nhà vua ngồi đó, vị Bồ Tát đưa người vào, và nhảy về phía trước, rồi ngài giấu mình dưới ghế của nhà vua. Ở đó, Bồ Tát thu mình lại, và thở hổn hển. Ngay lập tức, những người lính của nhà vua tiến lại gần, định đưa ngài ra ngoài. Tuy nhiên, nhà vua đã ngăn cản họ lại. Vị Bồ Tát, lúc đó khôi phục lại phần nào, chui ra từ dưới ngai vàng, và cúi đầu trước mặt nhà vua.

    

Rồi Bồ Tát (Vua Chó) nói bằng tiếng người, như sau, "Có phải Bệ hạ là người đã ra lệnh sát hại chó?"

 

"Đúng như thế," nhà vua trả lời "Chính là trẫm."

 

"Ông Vua của loài người ơi, nhưng các con chó có tội tình gì?"

 

"Chúng đã nhai gặm và phá hủy dây cương da trên chiếc xe của trẫm."   

       

"Bệ hạ có biết chắc những con chó nào đã phá hủy dây cương da không?"

 

"Không," nhà vua thừa nhận, "chúng tôi không biết."

  

"Thưa Bệ hạ, điều nầy không công bằng. Bệ hạ chưa biết chắc ai là thủ phạm đã nhai gặm dây cương da, mà bệ hạ đã ra lệnh giết chó bất cứ lúc nào mà người ta trông thấy chúng."  

 

"Đúng rồi, trẫm đã ra lệnh giết chết tất cả các con chó, tất cả các con vật đã nhai gặm dây da, bất cứ lúc nào mà người ta trông thấy chúng."

 

"Quân lính của triều đình sẽ giết chết tất cả các con chó, hay là còn có những con chó khác mà không bị kết án tử hình nầy?"     

 

"Phải rồi, có những trường hợp ngoại lệ. Những con chó trong hoàng cung sẽ không bị kết án tử hình."

 

"Vị vua Cao Quý ơi, vài phút trước đây bệ hạ có nói rằng, 'Ta ra lệnh giết chết tất cả các con chó, tất cả các con đã nhai gặm dây da, bất cứ lúc nào mà người ta trông thấy chúng', tuy nhiên, bây giờ bệ hạ lại nói rằng, 'Các con chó ở trong hoàng cung thì không bị kết án tử hình.' Có phải bệ hạ đã tỏ lòng thiên vị với chó trong hoàng cung không? Đây là một trong bốn phần của các hành động sai trái. Điều nầy không phù hợp, cũng không phải là công lý của nhà vua. Công lý phải được đo lường (tính toán chính xác) và cân bằng, như thể một người đang cầm một cái cán cân. Công lý chỉ được thể hiện sau khi đã tìm ra được nguyên nhân, một cách cẩn thận. Vào lúc nầy, những con chó trong hoàng cung không bị án tử hình, trong khi những con chó hoang thì lại bị kết án nầy. Đây không phải là án lệnh giết tất cả các con chó, mà đây là lệnh giết hại những con vật yếu đuối, vì chúng không có người bảo vệ.'"

 

Sau khi nhà vua nghe xong, nhà vua nói với Vua Chó:

 

"Ông là người khôn ngoan, ông có biết ai là người đã phá hủy dây cương da của trẫm không?"

 

"Dạ thưa bệ hạ, tôi biết," vị Bồ Tát trả lời. "Đấy là những con chó thuần chủng trong cung điện của bệ hạ."     

 

Nhà vua nhăn mặt. "Làm cách nào để ông biết rằng chúng chính là thủ phạm?"

 

"Tôi có cách chỉ cho bệ hạ trông thấy."

 

"Được rồi," ông vua nói. "ông hãy làm cho ta xem nào."

     

Bồ Tát đã yêu cầu các con chó săn của nhà vua được tập trung lại trong sân. Rồi ông yêu cầu cung cấp sữa-bơ và một số cỏ kusa. (Đức Phật Thích Ca đã dùng loại cỏ kusa nầy trải trên đất để ngồi thiền.)

 

Sau đó, vị Bồ Tát nói: "Hãy cho nghiền nát cỏ kusa rồi trộn với sữa-bơ. Sau đó, hãy cho các con chó uống thứ sữa hỗn hợp nầy." Nhà vua gật đầu và vỗ tay ra lệnh. Các người hầu mang cối và chày bằng đá để nghiền nát cỏ kusa. Sau đó, họ rót vào cối một phân lượng sữa-bơ có mùi vị ngon ngọt, và họ cho trộn hai thứ vào nhau, rồi đổ sữa hỗn hợp (trông lổn nhổn với cỏ xay) vào cái máng cho chó ăn. Các con chó của nhà vua đến gần, chúng quẫy đuôi, rồi chúng dùng lưỡi liếm sữa hỗn hợp nầy. Tuy nhiên, ngay sau khi các con chó vừa ăn sữa cỏ xong, chúng buồn nôn, và chúng ói mửa trên sân của cung điện. Ói ra cùng với sữa-bơ và cỏ kusa, là những mảnh da nát của dây cương ngựa, được trông thấy rõ ràng trên nền cung điện.   

 

Nhà vua hài lòng, "Ông đã cho tôi nhìn thấy những thủ phạm thật sự," nhà vua nói với vị Bồ Tát (Vua Chó). "Trẫm cúi đầu khâm phục ông." Và nhà vua đến gần một cái lọng vua, rồi ông hiến tặng lọng cho vị Bồ Tát.

    

Vị Bồ Tát cho phép để chiếc lọng vua che trên đầu ngài. "Vị Vua Cao Quý ơi, ông cần làm những điều đúng đắn," vị Bồ Tát nói. Rồi, ngài dạy Phật Pháp cho nhà vua bằng những bài kệ hướng dẫn về đạo đức. Sau cùng, vị Bồ Tát nói, "Vị Vua Cao Quý ơi, từ giờ trở đi, ông hãy sống tỉnh thức. Và ông hãy làm việc hết lòng." Bồ Tát bắt đầu dạy nhà vua năm giới, rồi ngài trả lại chiếc lọng cho nhà vua.

 

Sau đó, nhà vua hiến tặng sự tự do và sự an toàn cho tất cả mọi chúng sinh. Nhà vua cũng liên tục cung cấp nguồn thực phẩm, tương tự như những gì ông ăn, cho tất cả các con chó. Nhà vua gìn giữ các giới luật, và ông tạo công đức bằng cách thực hành sự rộng lượng. Vào lúc cuối đời của nhà vua, ông đã tái sinh vào cõi trời. Lời dạy của Bồ Tát (Vua Chó) đã kéo dài mười ngàn năm. Và đối với vị Bồ Tát, ngài đã sống một kiếp sống tốt đẹp, xứng đáng với các hành động cao quý của ngài.    

 

BÌNH LUẬN:

 

Từ ngữ chính trong tiếng nguyên thủy Pali "Sinh Ra Là Chó" là rajadhammo (raja + dhammo). Tôi (Margo McLoughlin) đã dịch thuật là "công lý của nhà vua." Gốc của từ ngữ Dhamma là dhr, có nghĩa là hỗ trợ, hoặc là chịu đựng. Sau đó, dhamma là những gì tạo thành nền tảng, và duy trì nền tảng. Ý nghĩa chính của dhamma là "hành vi đúng đắn" hoặc "những gì là đúng đắn." Để thiết lập luật pháp và trật tự trong vương quốc, nhà vua có trách nhiệm làm những điều luật đúng đắn bằng cách tạo ra một hệ thống công lý công bằng và vô tư. Nhà vua đã hành động dưới ảnh hưởng của sự giận dữ nhất thời - khi ông ra lệnh cho sát hại tất cả các con chó - do đó, nhà vua đã lạm dụng quyền hành của ông. Hình ảnh của người chống đối, bất tuân lệnh trong câu chuyện nầy là một con chó (sống trong nghĩa trang!) dạy nhà vua về công lý. Trong cuộc đối thoại với nhà vua, vị Bồ Tát đã làm cho nhà vua thấy ra được sự thật. Bồ Tát đã đặt nhà vua ở vị trí nhân chứng, rồi ngài đưa ra những sự thật, và sau đó ngài lập luận cho nhà vua thấy được hành động của nhà vua là bất công. Bồ Tát kết luận bằng cách chứng minh ai thật sự là người có tội. Đây là một vở kịch đóng trong tòa án, tuyệt vời nhất!

 

Những câu chuyện Tiền Thân Đức Phật gồm có nhiều câu chuyện nói về vua chúa, trong đó có một số chuyện thể hiện thái độ mâu thuẫn lớn đối với (người có) vị thế quyền hành. Trong truyện Tiền Thân Temiya, Bồ Tát sinh ra là một hoàng tử, ngài đã giả câm và điếc, để tránh lên ngôi vua, bởi vì ngài biết rằng cai trị quốc gia cần phải dùng đến bạo lực. Những câu chuyện khác khám phá tiềm năng của các vị vua để thiết lập "Một Quốc Gia Có Đạo Đức Hoàn Hảo" (đó là những từ ngữ mà học giả Steven Collins đã xử dụng), trong đó các tòa án thì trống rỗng, và các ông quan tòa ngồi chơi nhàn rỗi, bởi vì dân chúng đang sống trong hòa bình và thịnh vượng. Như ông Collins đã nói rõ, những câu chuyện nầy có thể miêu tả một xã hội lý tưởng (trong quá khứ hoặc là trong tương lai), với mục đích khuyên nhủ và khuyến khích các vị nguyên thủ quốc gia ngày nay, hãy dùng công lý để cai trị nước nhà.

The Dog-Birth: Kukkura-Jataka

 

Once the Bodhisatta was born as a dog.  He lived in a great cemetery outside the city of Varanasi, surrounded by dogs of all kinds—hundreds and hundreds of dogs. They were not purebred hounds: They were mongrels and mutts, and they survived by their wits.

   

It happened that one day the king, feeling too restless to attend to his duties, summoned his chariot and set off for the royal pleasure gardens. His two-wheeled chariot was drawn by a pair of white horses, their gorgeous trappings of braided leather gleaming in the sunlight. When they reached the pleasure gardens, the king spent the greater part of the day enjoying himself. At sunset he re-entered the city and returned to the palace. There he dismounted and retired to his quarters. The horses were tended to, but no one remembered to unfasten the chariot's fine leather harness and it was left dragging on the ground.

   

That night it rained and the harness was soaked. The king’s hounds came leaping down from the terrace and began to chew and gnaw on the leather straps of the harness.

   

The next day, the king’s servants gave their report to the king: "Your Majesty, after the rain last night, stray dogs came into the courtyard through the drain. They have chewed and destroyed your chariot’s fine leather harness."

   

The king was furious. At once, he gave his orders: "Kill these dogs, wherever they are seen."

   

From that moment a great misery befell the wandering strays of Varanasi. Many fled the city. They came to the cemetery where the Bodhisatta lived. When he saw the dogs approaching, the Bodhisatta questioned them: "What brings you in such numbers?" They told him all: "Dogs have gnawed and destroyed the leather harness on the king’s chariot. In his anger, the king has given orders to kill all the strays in the city. Many are being done away with and we live in fear."

    

The Bodhisatta, King of the Dogs, put his head down between his paws and reflected: "The palace grounds are wellguarded. There is no secret entrance or opening for so many dogs to come in. The chariot harness must have been destroyed by dogs inside the king’s palace. It must be the king’s hunting hounds that did it. And at this moment, the true perpetrators have received no punishment of any kind, while those who are not responsible are under a sentence of death. I shall go to the palace, show the king the real culprits and save my kin." Then the Bodhisatta sat up and spoke calming words to his relatives: "Do not be afraid any longer. As soon as I see the king, I will show him who destroyed his leather harness."

     

Then he summoned the perfections  and chose loving-kindness to be his guide.  He entered the city all alone and unseen, saying, "Let none throw a clod of earth or a club at me." And it was so. Not a single person, seeing him, raised a hand against him.

    

The King had given his orders for the slaughter of the dogs, and now he was sitting in the Hall of Justice. While he sat there, the Bodhisatta slipped into the hall, sprang forward, and hid himself under the king’s seat. There he crouched, panting. Straight away, the king's men approached, intent on getting him out. But the king stopped them. The Bodhisatta, somewhat restored, came out from under the throne and bowed before the king.

   

Speaking in a human voice, he said, "Is it you who gave orders for the dogs to be killed?"

   

"Yes," answered the king. "It is I."

   

"What is their offence, King of Men?"

   

"They have gnawed and destroyed the leather work covering my chariot."

   

"Do you know without a doubt which dogs destroyed it?"

   

"No," the king admitted, "we do not know."

   

"Your Majesty, this is not just. You do not know for certain which are the leather-chewing culprits, yet you have given order to kill dogs wherever they are seen."

 

"This is true. I gave orders to kill all of the dogs, all these chewers of chariot leather, wherever they are seen."

   

"But are your men killing all the dogs, or are there some who are not under sentence of death?"

   

"Yes, there are some. The dogs in our household are not under sentence of death."

   

"Great King, a moment ago you said, 'I gave orders to kill all of the dogs, all these chewers of chariot leather, wherever they are seen', but now you say, 'The dogs in our household are not under sentence of death' Are you not showing favor to one group? This is partiality, one of the four wrong courses of action.  It is not fitting, nor is it kingly justice. Justice ought to be measured and balanced, as if one were using a weighing pole. It ought to come from careful searching for a cause. At this time, the dogs in your household are not under sentence of death, while the stray dogs of the city are. This is not slaughter of all the dogs, it is murder of the weak and unprotected." '

   

The king listened and then addressed the King of the Dogs:

   

"Wise one, do you know who is responsible for destroying the leather harness?"

   

"Yes, I do know," answered the Bodhisatta. "It was the purebred dogs in your own home."

   

The king frowned. "How do you know it was them?"

   

"I will show you."

   

"Yes,” said the king. "Show me."

        

The Bodhisatta asked that the king’s hounds be gathered in the courtyard. He requested a supply of buttermilk and some kusa grass.

    

Then the Bodhisatta said: "Crush the kusa grass and mix it in with the buttermilk. Give the mixture to the dogs to drink." The king nodded and clapped his hands. Servants brought a mortar and crushed the kusa grass with a stone pestle. Into the mortar they poured a measure of sweet-smelling buttermilk, mixed the two ingredients together, and poured the lumpy mixture into the dog’s drinking trough. The king’s dogs came, with their tails wagging, and lapped it up. But no sooner was the mixture all gone than the dogs could be seen heaving and vomiting all over the palace courtyard. Along with the buttermilk and kusa grass, up came bits of chariot leather, plainly visible on the palace grounds.

   

The king was satisfied. "You have shown me the real culprits," he said to the Bodhisatta-King of the Dogs. "I bow to you." Then he reached for the white parasol of kingship and offered it to the Bodhisatta.

   

The Bodhisatta allowed the parasol to be held above him. "Great King, you must do what is right," he said. Then he taught the Dhamma to the king with verses of ethical instruction. He finished by saying, "Great King, from this moment on, be mindful. Be diligent." He established the king in the five precepts and returned the parasol of kingship.

    

The king offered freedom and safety to all beings. He established a continuous food supply, much like what he ate himself, for all the dogs. He kept the precepts and made merit by practicing generosity. At the end of his life he was reborn in the heaven realms. The dog’s teaching endured for ten thousand years. And as for the Bodhisatta, he also lived out his life and fared according to his actions.

 

COMMENTARY:

 

The key word in the Pali original of "The Dog Birth" is rajadhammo (raja + dhammo). I have translated it as "kingly justice." The verbal root of dhamma is dhŗ, which means to support, or to bear. Dhamma then is that which forms a foundation and upholds. Its principle meaning is "right behavior" or "what is right." As the source of law and order in the kingdom, the king is responsible for doing what is right by creating a system of justice that is fair and impartial. By acting under the influence of impulse—when he gives orders for all the dogs to be killed—he is misusing his power. The subversive element in this story is the image of a dog (and one who lives in a cemetery, no less!) teaching a king about justice. In his dialogue with the king, the Bodhisatta appeals to the king's rational mind. He puts the king in the witness box, so to speak, establishes the facts, and then sets out to show the king how his actions are unjust. He finishes by demonstrating who the guilty ones really are. This is courtroom drama at its best!

 

The Jataka (accounts of the Buddha's former lives) include many stories about kingship, some of which demonstrate an attitude of great ambivalence towards the position of power. In Temiya Jataka, the Bodhisatta, born as a prince, pretends to be deaf and dumb, in order to avoid taking on the role of king, knowing that to rule necessarily requires violence.  Other stories explore the potential of kings to establish what scholar Steven Collins refers to as a "Perfect Moral Commonwealth," in which courts lie empty and judges sit idle because there is peace and prosperity in the land.  As Collins points out, these kind of stories may be depicting an ideal society (past or future), while also serving to admonish and exhort present-day rulers to rule with justice.

 



__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19 Tháng Năm 20196:24 SA(Xem: 62)
Chào mừng các bạn đã đến với lớp học. Tôi rất vui khi gặp các bạn. Như tôi đã từng nói, hình ảnh đẹp nhất là hình ảnh một thiền sinh đang ngồi thiền, thật là đẹp. Từ khi còn là một cậu bé, mỗi lần nhìn thấy một người đang ngồi thiền là thế nào tôi cũng đứng nán lại một chút để xem; dáng ngồi thật tĩnh lặng, thân hình tĩnh lặng
18 Tháng Năm 201911:26 SA(Xem: 50)
* Tôi đã thấy biết bao người giàu có. Chưa bao giờ từ bỏ tánh tham lam. Vẫn mãi mê ham của cải bạc vàng. Vẫn khao khát chạy hoài theo khoái lạc. * Tôi đã thấy biết bao là vua chúa. Chưa bao giờ an phận với giang san. Dù biên cương giáp bốn biển ngút ngàn. Vẫn muốn nữa, muốn biên thùy rộng mãi. * Người thế gian, từ bần dân, vua chúa.
17 Tháng Năm 20192:36 CH(Xem: 65)
Giờ Đức Phật thuyết về chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng (tỉnh giác). Đây là phương cách mà giáo lý của Ngài phát triển trong rất nhiều bản kinh: đầu tiên, gìn giữ giới luật; sau đến kiềm chế các căn; rồi đến chánh niệm và sự hiểu biết rõ ràng (tỉnh giác). Hai điểm sau cùng đi đôi với nhau, thường được nhắc đến cùng lúc.
16 Tháng Năm 201910:56 CH(Xem: 60)
Chúng tôi đến thăm Việt Nam một vài lần, tôi nhớ có lần chúng tôi đang ở Hà Nội. Lúc đó là Đại hội Phật Giáo, tôi cũng có buổi thuyết trình cùng với những vị khác nữa. Hôm đó đang ngồi đợi, thì có một vị Thầy trẻ người Việt đến chào, sau khi hỏi từ đâu đến, tôi nói tôi đến từ Australia. Thầy ấy nói, oh… woh… vậy Thầy có biết vị Tăng tên Ajahn Brahm không?
15 Tháng Năm 201910:12 CH(Xem: 67)
Nếu ta không hoàn toàn chú tâm đến từng chi tiết, ta sẽ chẳng bao giờ chuyển hóa đến chỗ tuyệt đối. Chú tâm đến chi tiết là cốt lõi của chánh niệm. Tuy nhiên, phần đông không được hướng dẫn hoặc không thực sự thực hành chánh niệm. Hiểu biết qua sách vở là một chuyện, thực hành lại là chuyện khác. Chánh niệm là cốt lõi của trí tuệ,
14 Tháng Năm 20195:40 CH(Xem: 97)
Chúng ta hãy nói một chút về việc hành thiền (thiền tứ niệm xứ). Quí vị cần phải biết một số điểm quan trọng trước khi bắt đầu thực hành. Hành thiền có nghĩa là gì? Quý vị thực hành như thế nào? Trạng thái tâm quan sát ra sao, thái độ thế nào? Mục đích hành thiền của quý vị là gì? Quý vị cần có một ý niệm và mục đích rõ ràng
13 Tháng Năm 20199:32 CH(Xem: 93)
Tôi muốn bày tỏ sự cám ơn đối với tất cả các thiền sinh. Những khó khăn, vướng mắc và những câu hỏi của họ đã đưa đến những câu trả lời và những điểm diễn giảng được trình bày trong cuốn sách này. Tôi thực sự hy vọng rằng cuốn sách này sẽ giúp các thiền sinh hiểu rõ hơn về thiền chánh niệm và giúp cho pháp hành của họ thêm phần sâu sắc.
12 Tháng Năm 20199:16 CH(Xem: 90)
Tu viện này giống các tu viện trong rừng ở Miến Điện. Tôi muốn sống một thời gian tại một tu viện trong rừng. Năm ngoái tôi tới đây và đã thực hiện được mong muốn đó, mặc dầu không hề có ý định trước. Khi tới đây tôi rất thích chỗ này. Tôi nhận ra rằng đối với tôi đây là nơi tu thiền rất tốt. Khung cảnh ở đây đúng là khung cảnh của một tu viện
10 Tháng Năm 201911:05 CH(Xem: 79)
Vào năm 2007, Sayadaw U Tejaniya, một nhà sư người Miến điện, đến thăm các trung tâm Phật Pháp Phương Tây tại Mỹ lần thứ hai. Tôi đã có cơ hội đến nghe Thầy giảng pháp ở một vài nơi, phỏng vấn Thầy và người phiên dịch xuất sắc của Thầy là cô Tet- Tet và trò chuyện với các thiền sư và thiền sinh về kinh nghiệm của họ trên cách tiếp cận mới mẻ của Thầy
09 Tháng Năm 201910:48 CH(Xem: 92)
Cách đây gần một năm, khi con đến vấn đạo, Thầy nhớ là đã phân tích những nguyên nhân của phiền não khổ đau và con đường đi đến giải thoát ra khỏi những trói buộc ấy. Một cách tóm tắt, con đường đó là một đời sống sáng suốt, định tĩnh và trong lành. Hôm nay Thầy nhắc lại một số nét chính yếu để con nắm vững nguyên lý đời sống giác ngộ.
08 Tháng Năm 20199:37 CH(Xem: 113)
Con thích thiền định? đó là một ý hướng tốt nhưng cũng có thể là một trong những mâu thuẫn đưa đến dồn nén của con hiện nay. Thiền định phải hiểu và hành đúng mức bằng không sẽ là con dao hai lưỡi: một là thăng hoa thành diệu dụng, hai là dồn nén và sinh ra biến chứng tâm thần. Thiền định là một mức sống tâm linh cao nhưng
07 Tháng Năm 20198:42 CH(Xem: 73)
Chà, trông L đường đường một đấng nam nhi như thế mà sao hơi yếu đó nghe! Ai lại đi mơ một cảnh Tịnh Độ ở ngoài cuộc đời nắng lửa như một kẻ mê tín vậy. Lại còn mê ba cái ông du tăng trong Thiền Luận nữa chứ! Không biết các ông du tăng ngày xưa ra sao chứ cứ mà làm biếng, vô trách nhiệm cái kiểu ông VT với một số du sĩ ngày nay
06 Tháng Năm 20198:18 SA(Xem: 77)
Thầy tự trách là quá thờ ơ với những nỗi khổ của con. Nhưng Thầy cũng trách con là đã không nói thật hoàn cảnh của con cho Thầy biết. Con sợ làm phiền Thầy, con sợ đánh mất sự thanh thản của Thầy, và vì vậy con đóng kịch để Thầy yên tâm. Con đã lầm với thiện ý ấy. Chính ra Thầy cần phải biết mọi nỗi khổ ở đời để sửa sai mình và nuôi lớn
05 Tháng Năm 20199:53 CH(Xem: 108)
Khi người ta nói “một tâm hồn thánh thiện trong một cơ thể tráng kiện” là người ta lý tưởng hóa đời sống quá, người Tây phương ưa cái gì cũng hoàn hảo như thế đó. Trái lại người bình dân Đông phương có khi thực tế hơn. Họ nói: “Một mái nhà tranh, hai quả tim vàng”. Hai vấn đề tuy không cùng một lãnh vực vậy mà vẫn nói lên
04 Tháng Năm 201910:23 CH(Xem: 89)
Thư con viết khá rành mạch chứng tỏ con có tiến bộ nhiều. Diễn tả rành mạch nội tâm mình là kết quả của chánh niệm tỉnh giác. Một người thiếu sáng suốt, thiếu tỉnh thức và tự tri không làm được điều đó. Những điều con giải bày chứng tỏ con đã bắt đầu lãnh hội và thể nghiệm được những gì Thầy đã hướng dẫn, Thầy mừng cho con.
03 Tháng Năm 201911:21 CH(Xem: 90)
Những ngày lưu lại Đà Nẵng Thầy thấy con siêng năng đi chùa, học hỏi giáo lý và tinh tấn tu tập Thầy rất hoan hỷ. Giữa xã hội loài người hiếm thay là người theo đạo, giữa những người theo đạo, hiếm thay là người theo đạo chánh, giữa những người theo đạo chánh hiếm thay là người hiểu đạo lý, giữa những người hiểu đạo lý hiếm thay là người thực hành
02 Tháng Năm 201910:51 CH(Xem: 102)
Đã lâu không nhận được thư con, Thầy nghĩ là con đã trở lại bình thường. “Trở lại bình thường”, Thầy nói đây, không phải theo nghĩa thông thường, mà là “bình thường tâm thị đạo”. Than ôi! Chúng sinh ít ai có thể trở lại bình thường vì họ hoặc là đã quá tầm thường, quá bất thường hay quá phi thường. Người tầm thường là người bị cuộc sống cuốn trôi
01 Tháng Năm 20195:28 CH(Xem: 109)
Khi chưa biết đạo, người ta thấy núi là núi, nhưng sau thuần đạo rồi người ta lại thấy núi cũng vẫn là núi mà thôi. Cũng vậy, người đời làm cái gì thì kẹt vào cái đó, như con đã kẹt vào cái tu, cái học. Sau khi được khai thị cho thì lại bỏ tu, bỏ học, bỏ hết tất cả. Cuối cùng khi đạo đã thâm trầm thì té ra cũng tu, cũng học, cũng làm tất cả, không bỏ thứ gì.
30 Tháng Tư 201910:33 SA(Xem: 142)
Trong thư con có hỏi Thầy về một triệu chứng khi chánh niệm tỉnh giác là cảm thấy trơ cứng, khô khan và giả tạo trên đối tượng sở quán. Con đừng ngại, rất nhiều người có cảm tưởng đó, tất nhiên là có lý do, nhưng trước hết con đừng chán nản dao động, cứ tiếp tục chánh niệm tỉnh giác rồi mọi sự sẽ được giải quyết và thấu rõ.
29 Tháng Tư 20199:42 CH(Xem: 145)
Phải, chính là bản ngã rơi rụng. Tuy nhiên rơi rụng của cánh sen khác với rơi rụng của bản ngã. Thật ra bản ngã không rơi rụng mà nó tự biến mất khi trí tuệ soi chiếu, vì nó chỉ là ảo tưởng, không có thật, như hoa đốm giữa hư không, chỉ khi mắt bệnh mới thấy, khi mắt sáng thì nó liền tự tiêu. Do đó chỉ cần thấy ra bản ngã chứ không cần dụng công loại bỏ nó
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 821)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
02 Tháng Tám 201812:13 CH(Xem: 1764)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
15 Tháng Bảy 20186:28 SA(Xem: 2611)
Tăng đoàn trân trọng thông báo và mời toàn thể Quý Đồng Hương Phật Tử xa gần hãy cố gắng về tu tập Chánh Pháp của Bậc Đại Giác Ngộ, để vững niềm tin... để ứng dụng Thiền vào trong cuộc sống. Thiền rất thực tại và rất khoa học. Nếu chúng ta hiểu và hành đúng, thì kết quả giải thoát phiền não ngay trong hiện tại.
18 Tháng Tư 201910:00 SA(Xem: 2190)
Thiền không phải là nỗ lực tìm cầu để đạt được cái chưa có mà là buông hết mọi nỗ lực tìm cầu thì liền thấy ra ngay đó đã có tất cả. Nhiều người nỗ lực tu luyện để thấy ra thực tánh pháp (hay kiến tánh) trong trạng thái thiền định xuất thần,
18 Tháng Tư 20199:00 SA(Xem: 1722)
Có một điều là, xưa nay Phật giáo Việt Nam đã thống nhất, nhưng là thống nhất trên ý chí, trên hiến chương, trên hình thức tổ chức chi chi đó thôi, chứ có một điều chưa bao giờ thống nhất được: ấy là tư tưởng Phật học. Mỗi tông phái thường có một số kinh điển làm tư tưởng nồng cốt cho tông phái mình, từ đó làm kim chỉ nam cho sinh hoạt, tu hành, xiển dương phát triển v.v...
24 Tháng Mười Hai 20188:31 SA(Xem: 1510)
Kinh Pháp Cú (TN), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26
11 Tháng Ba 20191:03 CH(Xem: 570)
Hôm nay là ngày quý vị làm việc một cách hăng hái - Bởi vì ai biết được, cái chết có thể xảy ra ngày mai! Chẳng có cách nào để mặc cả (và điều đình) với lưỡi hái của Thần Chết và đoàn âm binh đáng sợ của ông ta. Vị Đại Sư sống an lạc đã giải thích rằng những người hết lòng sống thiền (theo cách trên), họ sống với tâm hăng hái
07 Tháng Hai 201912:02 CH(Xem: 837)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau: "Bà La Môn Bharadvaja, dường như, đã trở thành một nhà sư tu theo Đại Sư Gotama (Cồ Đàm)." Tức giận và không vui, ông ta đi đến nơi Đức Thế Tôn ở.
06 Tháng Hai 201910:00 SA(Xem: 1054)
1. Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama, có tên là Kesaputta. Người (bộ lạc) Kamala là các cư dân của Kesaputta: "Đức Thế Tôn Gotama (Cồ Đàm), là một vị tu sĩ, là con trai của dòng họ Sakyans (Thích Ca),
05 Tháng Hai 201910:45 CH(Xem: 4231)
Phước lành thay, thời gian nầy vui như ngày lễ hội, Vì có một buổi sáng thức dậy vui vẻ và hạnh phúc, Vì có một giây phút quý báu và một giờ an lạc, Cho những ai cúng dường các vị Tỳ Kheo. Vào ngày hôm ấy, lời nói thiện, làm việc thiện, Ý nghĩ thiện và ước nguyện cao quý, Mang lại phước lợi cho những ai thực hành;
24 Tháng Giêng 20194:07 CH(Xem: 565)
Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Nhiều Tác Giả - Many Authors)
10 Tháng Giêng 20198:57 CH(Xem: 559)
Hai câu kệ nầy cho chúng ta thấy biểu tượng chữa lành bệnh qua giáo lý của Đức Phật. Ngài thường được xem như là một vị thầy thuốc giỏi bậc nhất, ngài nhìn thấy sự đau khổ của tất cả chúng sinh trên thế gian nầy, ngài áp dụng công thức y khoa của Bốn Sự Thật Cao Quý cho mọi người: 1) diễn tả các triệu chứng của "đau khổ, không như ý,