V001

Truyện Tiền Thân Đức Phật: Vua Chó - The Dog-Birth: Kukkura-Jataka

26 Tháng Hai 201811:46 CH(Xem: 1469)
Truyện Tiền Thân Đức Phật: Vua Chó - The Dog-Birth: Kukkura-Jataka

TheDogBirth_B

(Picture-Hình: jatakakatha.wordpress.com)



Truyện Tiền Thân Đức Phật: Vua Chó - The Dog-Birth: Kukkura-Jataka
Translated from the Pali and retold by Margo McLoughlin 
Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến - Source-Nguồn: margostoryteller.net

__________________


Truyện Tiền Thân Đức Phật: Vua Chó 

 

Ngày xưa, có một vị Bồ Tát sinh ra là một con chó. Bồ Tát sống trong một nghĩa trang bên ngoài thành phố Varanasi (Ba La Nại), bao quanh bởi những giống chó khác - hàng trăm và hàng trăm những con chó khác. Chúng không phải là các giống chó săn thuần chủng: chúng là những con chó lai (mongrel và mutt), và chúng tồn tại bởi vì chúng có trí thông minh.

 

Một ngày kia nhà vua cảm thấy chán nản và lo lắng, cho nên ông đã không tham dự vào công việc triều đình, nhà vua bảo quân lính lấy xe ngựa, đưa ông lên đường đi xem các ngôi vườn giải trí của hoàng gia. Chiếc xe vua hai bánh được kéo bởi một cặp ngựa trắng, dây cương làm bằng da bện lộng lẫy lóe sáng dưới ánh sáng mặt trời. Khi họ đến các vườn giải trí, nhà vua đã dành phần lớn thời gian trong ngày để thưởng thức phong cảnh. Vào lúc hoàng hôn, nhà vua trở lại thành phố, rồi ông trở về cung điện. Ở đó, nhà vua xuống ngựa, và ông vào nghỉ trong hậu cung của mình. Những con ngựa được chăm sóc, nhưng không có ai nhớ đến việc tháo dây cương tốt đẹp bằng da trên chiếc xe vua, cho nên họ đã để dây lê lết trên mặt đất.

 

Đêm hôm đó trời đổ mưa, và dây cương ngựa bị ướt sũng. Những con chó săn của nhà vua nhảy xuống từ sân thượng, và chúng bắt đầu nhai và gặm những đoạn dây nịt bằng da của dây cương ngựa.

 

Ngày hôm sau, những người hầu của nhà vua báo cáo với nhà vua rằng: "Tâu Bệ hạ, sau cơn mưa ngày hôm qua, những con chó hoang chui qua đường cống vào trong sân cung điện. Chúng đã nhai gặm và phá hỏng dây cương bằng da tốt của chiếc xe vua.     

 

Nhà vua nghe rất tức giận. Ngay lập tức, nhà vua ra lệnh: "Hãy cho giết những con chó hoang nầy, bất cứ khi nào mà người ta trông thấy chúng."

 

Kể từ giây phút đó, có một sự đau khổ kinh khiếp bao trùm lên những con chó lang thang ở Varanasi (Ba La Nại). Nhiều con chó đã chạy trốn ra khỏi thành phố. Chúng chạy đến nghĩa trang nơi Bồ Tát đang sống. Khi Bồ Tát thấy những con chó đang đến gần, ngài hỏi: "Tại sao có nhiều các bạn (chó) đến đây như vậy?" Chúng kể lại câu chuyện cho ngài nghe: "Có những con chó nhai gặm và phá hỏng dây cương bằng da của xe vua. Nhà vua đã nổi giận, và ông ra lệnh giết chết tất cả các con chó hoang trong thành phố. Nhiều con chó đã bị giết chết, và chúng tôi đang sống trong sự sợ hãi."     

 

Bồ Tát là Vua Chó, dùng hai chân ôm lấy đầu, và suy ngẫm: "Vùng đất chung quanh cung điện là nơi có sự bảo vệ rất gắt gao. Không có cửa bí mật nào để chó chui vào. Dây cương ngựa của xe vua chắc là bị phá hỏng bởi những con chó trong hoàng cung. Chắc chắn là những con chó săn của nhà vua đã gây ra chuyện nầy. Và vào thời điểm nầy, thủ phạm thật sự chưa bị trừng phạt (dưới bất cứ hình thức nào), trong khi đó kẻ vô tội thì bị lên án tử hình. Ta sẽ đi đến cung điện, chỉ rõ cho nhà vua biết các thủ phạm thật sự, để cứu thân nhân đồng loại của ta." Sau đó Bồ Tát ngồi xuống, và ngài dùng những lời lẽ trấn an các đồng loại của ngài: "Quý vị đừng có sợ hãi nữa. Ngay khi ta đến gặp nhà vua, ta sẽ chỉ cho ông ta biết ai là người đã phá hỏng dây cương ngựa của ông."   

 

Sau đó, lấy ra từ những đức tính cao quý Ba La Mật (sự hoàn hảo),‎ Bồ Tát đã chọn lòng từ bi để làm người hướng dẫn cho ngài. Ngài một mình bước vào thành phố, và không ai trông thấy ngài, rồi ngài nói rằng, "Đừng để ai ném đất, hoặc ném cây gỗ vào thân thể của ta." Và đúng như thế, không có gì đáng tiếc xảy ra cả. Không một ai, khi nhìn thấy ngài, mà giơ tay lên đánh ngài.            

 

Vị Vua mà đã ra lệnh giết hại các con chó, giờ đây ông đang ngồi trong Phòng Công Lý. Trong lúc nhà vua ngồi đó, vị Bồ Tát đưa người vào, và nhảy về phía trước, rồi ngài giấu mình dưới ghế của nhà vua. Ở đó, Bồ Tát thu mình lại, và thở hổn hển. Ngay lập tức, những người lính của nhà vua tiến lại gần, định đưa ngài ra ngoài. Tuy nhiên, nhà vua đã ngăn cản họ lại. Vị Bồ Tát, lúc đó khôi phục lại phần nào, chui ra từ dưới ngai vàng, và cúi đầu trước mặt nhà vua.

    

Rồi Bồ Tát (Vua Chó) nói bằng tiếng người, như sau, "Có phải Bệ hạ là người đã ra lệnh sát hại chó?"

 

"Đúng như thế," nhà vua trả lời "Chính là trẫm."

 

"Ông Vua của loài người ơi, nhưng các con chó có tội tình gì?"

 

"Chúng đã nhai gặm và phá hủy dây cương da trên chiếc xe của trẫm."   

       

"Bệ hạ có biết chắc những con chó nào đã phá hủy dây cương da không?"

 

"Không," nhà vua thừa nhận, "chúng tôi không biết."

  

"Thưa Bệ hạ, điều nầy không công bằng. Bệ hạ chưa biết chắc ai là thủ phạm đã nhai gặm dây cương da, mà bệ hạ đã ra lệnh giết chó bất cứ lúc nào mà người ta trông thấy chúng."  

 

"Đúng rồi, trẫm đã ra lệnh giết chết tất cả các con chó, tất cả các con vật đã nhai gặm dây da, bất cứ lúc nào mà người ta trông thấy chúng."

 

"Quân lính của triều đình sẽ giết chết tất cả các con chó, hay là còn có những con chó khác mà không bị kết án tử hình nầy?"     

 

"Phải rồi, có những trường hợp ngoại lệ. Những con chó trong hoàng cung sẽ không bị kết án tử hình."

 

"Vị vua Cao Quý ơi, vài phút trước đây bệ hạ có nói rằng, 'Ta ra lệnh giết chết tất cả các con chó, tất cả các con đã nhai gặm dây da, bất cứ lúc nào mà người ta trông thấy chúng', tuy nhiên, bây giờ bệ hạ lại nói rằng, 'Các con chó ở trong hoàng cung thì không bị kết án tử hình.' Có phải bệ hạ đã tỏ lòng thiên vị với chó trong hoàng cung không? Đây là một trong bốn phần của các hành động sai trái. Điều nầy không phù hợp, cũng không phải là công lý của nhà vua. Công lý phải được đo lường (tính toán chính xác) và cân bằng, như thể một người đang cầm một cái cán cân. Công lý chỉ được thể hiện sau khi đã tìm ra được nguyên nhân, một cách cẩn thận. Vào lúc nầy, những con chó trong hoàng cung không bị án tử hình, trong khi những con chó hoang thì lại bị kết án nầy. Đây không phải là án lệnh giết tất cả các con chó, mà đây là lệnh giết hại những con vật yếu đuối, vì chúng không có người bảo vệ.'"

 

Sau khi nhà vua nghe xong, nhà vua nói với Vua Chó:

 

"Ông là người khôn ngoan, ông có biết ai là người đã phá hủy dây cương da của trẫm không?"

 

"Dạ thưa bệ hạ, tôi biết," vị Bồ Tát trả lời. "Đấy là những con chó thuần chủng trong cung điện của bệ hạ."     

 

Nhà vua nhăn mặt. "Làm cách nào để ông biết rằng chúng chính là thủ phạm?"

 

"Tôi có cách chỉ cho bệ hạ trông thấy."

 

"Được rồi," ông vua nói. "ông hãy làm cho ta xem nào."

     

Bồ Tát đã yêu cầu các con chó săn của nhà vua được tập trung lại trong sân. Rồi ông yêu cầu cung cấp sữa-bơ và một số cỏ kusa. (Đức Phật Thích Ca đã dùng loại cỏ kusa nầy trải trên đất để ngồi thiền.)

 

Sau đó, vị Bồ Tát nói: "Hãy cho nghiền nát cỏ kusa rồi trộn với sữa-bơ. Sau đó, hãy cho các con chó uống thứ sữa hỗn hợp nầy." Nhà vua gật đầu và vỗ tay ra lệnh. Các người hầu mang cối và chày bằng đá để nghiền nát cỏ kusa. Sau đó, họ rót vào cối một phân lượng sữa-bơ có mùi vị ngon ngọt, và họ cho trộn hai thứ vào nhau, rồi đổ sữa hỗn hợp (trông lổn nhổn với cỏ xay) vào cái máng cho chó ăn. Các con chó của nhà vua đến gần, chúng quẫy đuôi, rồi chúng dùng lưỡi liếm sữa hỗn hợp nầy. Tuy nhiên, ngay sau khi các con chó vừa ăn sữa cỏ xong, chúng buồn nôn, và chúng ói mửa trên sân của cung điện. Ói ra cùng với sữa-bơ và cỏ kusa, là những mảnh da nát của dây cương ngựa, được trông thấy rõ ràng trên nền cung điện.   

 

Nhà vua hài lòng, "Ông đã cho tôi nhìn thấy những thủ phạm thật sự," nhà vua nói với vị Bồ Tát (Vua Chó). "Trẫm cúi đầu khâm phục ông." Và nhà vua đến gần một cái lọng vua, rồi ông hiến tặng lọng cho vị Bồ Tát.

    

Vị Bồ Tát cho phép để chiếc lọng vua che trên đầu ngài. "Vị Vua Cao Quý ơi, ông cần làm những điều đúng đắn," vị Bồ Tát nói. Rồi, ngài dạy Phật Pháp cho nhà vua bằng những bài kệ hướng dẫn về đạo đức. Sau cùng, vị Bồ Tát nói, "Vị Vua Cao Quý ơi, từ giờ trở đi, ông hãy sống tỉnh thức. Và ông hãy làm việc hết lòng." Bồ Tát bắt đầu dạy nhà vua năm giới, rồi ngài trả lại chiếc lọng cho nhà vua.

 

Sau đó, nhà vua hiến tặng sự tự do và sự an toàn cho tất cả mọi chúng sinh. Nhà vua cũng liên tục cung cấp nguồn thực phẩm, tương tự như những gì ông ăn, cho tất cả các con chó. Nhà vua gìn giữ các giới luật, và ông tạo công đức bằng cách thực hành sự rộng lượng. Vào lúc cuối đời của nhà vua, ông đã tái sinh vào cõi trời. Lời dạy của Bồ Tát (Vua Chó) đã kéo dài mười ngàn năm. Và đối với vị Bồ Tát, ngài đã sống một kiếp sống tốt đẹp, xứng đáng với các hành động cao quý của ngài.    

 

BÌNH LUẬN:

 

Từ ngữ chính trong tiếng nguyên thủy Pali "Sinh Ra Là Chó" là rajadhammo (raja + dhammo). Tôi (Margo McLoughlin) đã dịch thuật là "công lý của nhà vua." Gốc của từ ngữ Dhamma là dhr, có nghĩa là hỗ trợ, hoặc là chịu đựng. Sau đó, dhamma là những gì tạo thành nền tảng, và duy trì nền tảng. Ý nghĩa chính của dhamma là "hành vi đúng đắn" hoặc "những gì là đúng đắn." Để thiết lập luật pháp và trật tự trong vương quốc, nhà vua có trách nhiệm làm những điều luật đúng đắn bằng cách tạo ra một hệ thống công lý công bằng và vô tư. Nhà vua đã hành động dưới ảnh hưởng của sự giận dữ nhất thời - khi ông ra lệnh cho sát hại tất cả các con chó - do đó, nhà vua đã lạm dụng quyền hành của ông. Hình ảnh của người chống đối, bất tuân lệnh trong câu chuyện nầy là một con chó (sống trong nghĩa trang!) dạy nhà vua về công lý. Trong cuộc đối thoại với nhà vua, vị Bồ Tát đã làm cho nhà vua thấy ra được sự thật. Bồ Tát đã đặt nhà vua ở vị trí nhân chứng, rồi ngài đưa ra những sự thật, và sau đó ngài lập luận cho nhà vua thấy được hành động của nhà vua là bất công. Bồ Tát kết luận bằng cách chứng minh ai thật sự là người có tội. Đây là một vở kịch đóng trong tòa án, tuyệt vời nhất!

 

Những câu chuyện Tiền Thân Đức Phật gồm có nhiều câu chuyện nói về vua chúa, trong đó có một số chuyện thể hiện thái độ mâu thuẫn lớn đối với (người có) vị thế quyền hành. Trong truyện Tiền Thân Temiya, Bồ Tát sinh ra là một hoàng tử, ngài đã giả câm và điếc, để tránh lên ngôi vua, bởi vì ngài biết rằng cai trị quốc gia cần phải dùng đến bạo lực. Những câu chuyện khác khám phá tiềm năng của các vị vua để thiết lập "Một Quốc Gia Có Đạo Đức Hoàn Hảo" (đó là những từ ngữ mà học giả Steven Collins đã xử dụng), trong đó các tòa án thì trống rỗng, và các ông quan tòa ngồi chơi nhàn rỗi, bởi vì dân chúng đang sống trong hòa bình và thịnh vượng. Như ông Collins đã nói rõ, những câu chuyện nầy có thể miêu tả một xã hội lý tưởng (trong quá khứ hoặc là trong tương lai), với mục đích khuyên nhủ và khuyến khích các vị nguyên thủ quốc gia ngày nay, hãy dùng công lý để cai trị nước nhà.

The Dog-Birth: Kukkura-Jataka

 

Once the Bodhisatta was born as a dog.  He lived in a great cemetery outside the city of Varanasi, surrounded by dogs of all kinds—hundreds and hundreds of dogs. They were not purebred hounds: They were mongrels and mutts, and they survived by their wits.

   

It happened that one day the king, feeling too restless to attend to his duties, summoned his chariot and set off for the royal pleasure gardens. His two-wheeled chariot was drawn by a pair of white horses, their gorgeous trappings of braided leather gleaming in the sunlight. When they reached the pleasure gardens, the king spent the greater part of the day enjoying himself. At sunset he re-entered the city and returned to the palace. There he dismounted and retired to his quarters. The horses were tended to, but no one remembered to unfasten the chariot's fine leather harness and it was left dragging on the ground.

   

That night it rained and the harness was soaked. The king’s hounds came leaping down from the terrace and began to chew and gnaw on the leather straps of the harness.

   

The next day, the king’s servants gave their report to the king: "Your Majesty, after the rain last night, stray dogs came into the courtyard through the drain. They have chewed and destroyed your chariot’s fine leather harness."

   

The king was furious. At once, he gave his orders: "Kill these dogs, wherever they are seen."

   

From that moment a great misery befell the wandering strays of Varanasi. Many fled the city. They came to the cemetery where the Bodhisatta lived. When he saw the dogs approaching, the Bodhisatta questioned them: "What brings you in such numbers?" They told him all: "Dogs have gnawed and destroyed the leather harness on the king’s chariot. In his anger, the king has given orders to kill all the strays in the city. Many are being done away with and we live in fear."

    

The Bodhisatta, King of the Dogs, put his head down between his paws and reflected: "The palace grounds are wellguarded. There is no secret entrance or opening for so many dogs to come in. The chariot harness must have been destroyed by dogs inside the king’s palace. It must be the king’s hunting hounds that did it. And at this moment, the true perpetrators have received no punishment of any kind, while those who are not responsible are under a sentence of death. I shall go to the palace, show the king the real culprits and save my kin." Then the Bodhisatta sat up and spoke calming words to his relatives: "Do not be afraid any longer. As soon as I see the king, I will show him who destroyed his leather harness."

     

Then he summoned the perfections  and chose loving-kindness to be his guide.  He entered the city all alone and unseen, saying, "Let none throw a clod of earth or a club at me." And it was so. Not a single person, seeing him, raised a hand against him.

    

The King had given his orders for the slaughter of the dogs, and now he was sitting in the Hall of Justice. While he sat there, the Bodhisatta slipped into the hall, sprang forward, and hid himself under the king’s seat. There he crouched, panting. Straight away, the king's men approached, intent on getting him out. But the king stopped them. The Bodhisatta, somewhat restored, came out from under the throne and bowed before the king.

   

Speaking in a human voice, he said, "Is it you who gave orders for the dogs to be killed?"

   

"Yes," answered the king. "It is I."

   

"What is their offence, King of Men?"

   

"They have gnawed and destroyed the leather work covering my chariot."

   

"Do you know without a doubt which dogs destroyed it?"

   

"No," the king admitted, "we do not know."

   

"Your Majesty, this is not just. You do not know for certain which are the leather-chewing culprits, yet you have given order to kill dogs wherever they are seen."

 

"This is true. I gave orders to kill all of the dogs, all these chewers of chariot leather, wherever they are seen."

   

"But are your men killing all the dogs, or are there some who are not under sentence of death?"

   

"Yes, there are some. The dogs in our household are not under sentence of death."

   

"Great King, a moment ago you said, 'I gave orders to kill all of the dogs, all these chewers of chariot leather, wherever they are seen', but now you say, 'The dogs in our household are not under sentence of death' Are you not showing favor to one group? This is partiality, one of the four wrong courses of action.  It is not fitting, nor is it kingly justice. Justice ought to be measured and balanced, as if one were using a weighing pole. It ought to come from careful searching for a cause. At this time, the dogs in your household are not under sentence of death, while the stray dogs of the city are. This is not slaughter of all the dogs, it is murder of the weak and unprotected." '

   

The king listened and then addressed the King of the Dogs:

   

"Wise one, do you know who is responsible for destroying the leather harness?"

   

"Yes, I do know," answered the Bodhisatta. "It was the purebred dogs in your own home."

   

The king frowned. "How do you know it was them?"

   

"I will show you."

   

"Yes,” said the king. "Show me."

        

The Bodhisatta asked that the king’s hounds be gathered in the courtyard. He requested a supply of buttermilk and some kusa grass.

    

Then the Bodhisatta said: "Crush the kusa grass and mix it in with the buttermilk. Give the mixture to the dogs to drink." The king nodded and clapped his hands. Servants brought a mortar and crushed the kusa grass with a stone pestle. Into the mortar they poured a measure of sweet-smelling buttermilk, mixed the two ingredients together, and poured the lumpy mixture into the dog’s drinking trough. The king’s dogs came, with their tails wagging, and lapped it up. But no sooner was the mixture all gone than the dogs could be seen heaving and vomiting all over the palace courtyard. Along with the buttermilk and kusa grass, up came bits of chariot leather, plainly visible on the palace grounds.

   

The king was satisfied. "You have shown me the real culprits," he said to the Bodhisatta-King of the Dogs. "I bow to you." Then he reached for the white parasol of kingship and offered it to the Bodhisatta.

   

The Bodhisatta allowed the parasol to be held above him. "Great King, you must do what is right," he said. Then he taught the Dhamma to the king with verses of ethical instruction. He finished by saying, "Great King, from this moment on, be mindful. Be diligent." He established the king in the five precepts and returned the parasol of kingship.

    

The king offered freedom and safety to all beings. He established a continuous food supply, much like what he ate himself, for all the dogs. He kept the precepts and made merit by practicing generosity. At the end of his life he was reborn in the heaven realms. The dog’s teaching endured for ten thousand years. And as for the Bodhisatta, he also lived out his life and fared according to his actions.

 

COMMENTARY:

 

The key word in the Pali original of "The Dog Birth" is rajadhammo (raja + dhammo). I have translated it as "kingly justice." The verbal root of dhamma is dhŗ, which means to support, or to bear. Dhamma then is that which forms a foundation and upholds. Its principle meaning is "right behavior" or "what is right." As the source of law and order in the kingdom, the king is responsible for doing what is right by creating a system of justice that is fair and impartial. By acting under the influence of impulse—when he gives orders for all the dogs to be killed—he is misusing his power. The subversive element in this story is the image of a dog (and one who lives in a cemetery, no less!) teaching a king about justice. In his dialogue with the king, the Bodhisatta appeals to the king's rational mind. He puts the king in the witness box, so to speak, establishes the facts, and then sets out to show the king how his actions are unjust. He finishes by demonstrating who the guilty ones really are. This is courtroom drama at its best!

 

The Jataka (accounts of the Buddha's former lives) include many stories about kingship, some of which demonstrate an attitude of great ambivalence towards the position of power. In Temiya Jataka, the Bodhisatta, born as a prince, pretends to be deaf and dumb, in order to avoid taking on the role of king, knowing that to rule necessarily requires violence.  Other stories explore the potential of kings to establish what scholar Steven Collins refers to as a "Perfect Moral Commonwealth," in which courts lie empty and judges sit idle because there is peace and prosperity in the land.  As Collins points out, these kind of stories may be depicting an ideal society (past or future), while also serving to admonish and exhort present-day rulers to rule with justice.

 



__________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Mười Một 20198:43 CH(Xem: 122)
Nguyên câu tiên tri như sau: “Chừng nào chim sắt bay, ngựa chạy trên bánh xe, người Tây Tạng phải lang thang khắp cùng trái đất, lúc đó Phật pháp sẽ được truyền đến đất nước của người da đỏ.” (‘Đất của người da đỏ’, được xem là Tây phương, vì đối với người Á châu, da người Tây phương đỏ hồng). Mã lực của các xe hơi, “con chim sắt” máy bay
06 Tháng Mười Một 20195:22 CH(Xem: 78)
Đây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc sống qua con đường tâm linh. Con đường Đạo của Đức Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người. Bất cứ ai với lòng quyết tâm và thiện ý đều có thể đi trên con đường nầy để đạt được tự do, giải thoát cho thân tâm. Cuộc hành trình nầy đòi hỏi người tham dự
02 Tháng Mười Một 201911:37 SA(Xem: 134)
Quyển Khóa Hư Lục Giảng Giải này ra đời do lòng nhiệt tình, tâm tha thiết mong muốn có một “Pho Sách Phật Giáo Việt Nam” thật sự Việt Nam của chúng tôi. Bao nhiêu năm rồi, chúng tôi ao ước những tư liệu Phật giáo Việt Nam còn sót lại được dịch ra chữ quốc ngữ
31 Tháng Mười 20199:43 SA(Xem: 226)
Mười Vị Đệ Tử Lớn Của Đức Phật, Trọn Bộ (1->10)
30 Tháng Mười 20193:43 CH(Xem: 187)
Ngày xửa, ngày xưa, có một cô công chúa Út con gái yêu của hoàng đế La Mã - một ông hoàng giàu sang độc tài và rất hung bạo. Lúc lớn lên, nàng công chúa lại đem lòng thầm yêu trộm nhớ một chàng trai trẻ tuổi trong đội Ngự lâm quân của cha mình.
29 Tháng Mười 20195:40 CH(Xem: 134)
Ngày xưa ở nước Ba Tư, có một vị vua (theo đạo Hồi Giáo) đã cho tập họp tất cả những vị quan thông thái nhất của mình, rồi hỏi họ rằng liệu có một câu thần chú nào mà nhà vua có thể làm theo, để giúp nhà vua vượt qua được mọi tình huống, bất kể lúc nào và ở đâu, trong lúc vui hoặc lúc buồn, trong lúc chiến thắng hoặc khi thất bại.
28 Tháng Mười 20199:29 CH(Xem: 106)
Nếu nhẫn nại bao dung được thử thách bằng giông tố cuộc đời, thì tôi là kẻ đang lọt vào trung tâm bão lũ lần thứ nhì, khi Khang bị đột quỵ và trút hơi tàn trên xe cấp cứu. Đám tang Khang diễn ra trong ngậm ngùi, vì con cháu của tôi không có ai tham dự để đưa Khang về nơi an nghỉ sau cùng. Tôi trở lại mái nhà xưa, nơi núm ruột duy nhất của mình
26 Tháng Mười 20199:33 CH(Xem: 146)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
23 Tháng Mười 20197:31 CH(Xem: 250)
"Bài Học Ngàn Vàng" là câu chuyện đã có từ xưa, một câu chuyện vô cùng thâm thúy và bổ ích cho thế đạo nhân tâm. Từ khi được biết bài học này, tôi đem áp dụng vào các công việc hàng ngày, thấy được lợi ích chẳng nhỏ. Từ lâu, tôi muốn đem bài học này viết ra thành sách, để cống hiến quý Phật tử bốn phương
21 Tháng Mười 20191:37 CH(Xem: 167)
Nước Việt Nam đời Trần có Tuệ Trung Thượng Sĩ là cư sĩ tại gia do ngộ đạo, được cả cư sĩ cùng tăng sĩ tìm đến tham học. Người học đạo chỉ quí trọng vấn đề giác ngộ, chớ không quan tâm bởi những vấn đề khác. Đây là chứng minh cụ thể Phật giáo Bắc tông cũng như Thiền tông đặt giác ngộ lên trên tất cả.
19 Tháng Mười 20196:29 CH(Xem: 161)
Sau trên mười chín thế kỷ, ở Việt Nam đời Trần, vua Trần Nhân Tông cũng thấm thiết nỗi đau khổ của con người, Ngài từ bỏ ngai vàng vào núi Yên Tử tu hành được ngộ đạo thành Tổ, và ngót hai mươi năm đi truyền bá khắp nơi, lập thành hệ phái Trúc Lâm Yên Tử. Tiếp theo sau, một vị Trạng nguyên cũng cùng một tâm tư ấy, từ quan đi tu đuợc ngộ đạo
19 Tháng Mười 201910:42 SA(Xem: 278)
Soi sáng thực tại thực ra là tên chúng tôi đặt cho những bài ghi chép tóm tắt các buổi đàm đạo hay tham vấn thiền với Hòa thượng Viên Minh trong giờ uống trà buổi sáng tại khách đường Chùa Bửu Long. Những buổi đàm đạo này đã có từ lâu nhưng chỉ giới hạn trong nội bộ chùa. Về sau một Phật tử đến tham dự buổi trà đàm thấy hay
17 Tháng Mười 20192:39 CH(Xem: 157)
Quyển Hai quãng đời của Sơ tổ Trúc Lâm do chúng tôi giảng giải, để nói lên một con người siêu việt của dân tộc Việt Nam. Khi còn gánh vác việc nước, Ngài sẵn sàng hi sinh thân mạng để giữ gìn đất nước được vẹn toàn. Lúc đất nước thái bình, Ngài dành nửa thời gian lo cho đời, nửa thời gian nghiên cứu Phật pháp. Đến lúc có người thay thế việc nước,
12 Tháng Mười 201910:53 CH(Xem: 234)
Ngài U Thittila không những uyên thâm pháp học, pháp hành ở Myanmar - xứ sở có truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy lâu đời và thuần tuý nhất, mà Ngài còn là một trong những vị Như Lai sứ giả thành công trong việc truyền bá chánh pháp sang các nước phương Tây sớm nhất. Chính nhờ những kinh nghiệm sâu rộng đó
10 Tháng Mười 20199:53 CH(Xem: 236)
Đức Phật là người đã tự mình giác ngộ lý tứ diệu đế và đem những điều mình đã hiểu biết ra dạy dỗ kẻ khác. Rất dễ dàng để nói chữ Phật. Nhưng thực hành hạnh Bồ Tát để trở thành một vị Phật là điều rất khó khăn. Người nào thực hành hoàn mãn các pháp Bala mật
07 Tháng Mười 20199:48 CH(Xem: 221)
Thuở xưa, đức Phật với nắm lá trong tay, hỏi chư tỳ-khưu rằng: “Số lá trong bàn tay của Như Lai, so với lá trong rừng, ở đâu nhiều hơn?” Khi chư tỳ-khưu đáp “Lá trong rừng nhiều hơn”, đức Phật bèn nói tiếp: “Cũng vậy, những thấy biết của Như Lai nhiều như lá cây trong rừng, nhưng những điều Như Lai đem ra giảng nói chỉ như nắm lá ít ỏi
05 Tháng Mười 20194:57 CH(Xem: 233)
"Con Đường Cổ Xưa" đã cố gắng giúp người học Phật tập chú vào những điểm giáo lý cốt lõi nhất đã được tất cả các Tông phái công nhận như là điểm chung đồng và thuần túy nhất của đạo Phật. Thông suốt được những điểm giáo lý này có thể được xem như đã thâm nhập toàn bộ
02 Tháng Mười 20198:19 CH(Xem: 303)
Xuyên suốt những bài pháp, Ajahn Sumedho luôn nhắc chúng ta chánh niệm, tỉnh giác và khẳng định đây là con đường duy nhất giúp chúng ta đi đến giải thoát. Sư nói ở đâu và bất cứ lúc nào, chúng ta cũng có thể chánh niệm nếu chúng ta nhớ đến nó và sử dụng nó.
01 Tháng Mười 20194:22 CH(Xem: 162)
03) Bạn có tin rằng một cây xoài cứ lặng lẽ sống trọn vẹn trong từng phút giây thì nó không phát triển đến lúc ra hoa kết trái sao? Và nếu cây đó cứ mãi nghĩ đến việc ra hoa kết trái ở tương lai mà quên đi những giây phút đang sống của mình thì liệu nó sẽ như thế nào?
30 Tháng Chín 20199:23 CH(Xem: 207)
Thưa Thầy, con đã điều chỉnh để sống hài hoà với vợ con. Vợ con vì những phiền não trong quá khứ do vậy ko buông bỏ được mà coi con như kẻ thù. Lúc đầu con rất muốn giúp vợ con có thái độ đúng, buông bỏ vì vậy con lựa lời gặp mặt và hỏi han. Nhưng con quan sát thấy vợ con rất khổ tâm khi đối diện với con và hoàn toàn “phản ứng” với những gì đối mặt.
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 1468)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 2744)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
12 Tháng Hai 20196:53 SA(Xem: 1639)
Là những người Phật Tử, tôi mạnh mẽ tin rằng chúng ta nên đại diện cho giới không-gây-hại bằng mọi cách chúng ta có thể làm được, và chúng ta sẵn sàng đứng lên bảo vệ giới luật nầy. Tôi nghĩ rằng điều này không có nghĩa là chúng ta chỉ nên ngồi thiền định, hoặc là chỉ nói lời nguyện cầu từ bi, vân vân...
08 Tháng Mười Một 20198:43 CH(Xem: 122)
Nguyên câu tiên tri như sau: “Chừng nào chim sắt bay, ngựa chạy trên bánh xe, người Tây Tạng phải lang thang khắp cùng trái đất, lúc đó Phật pháp sẽ được truyền đến đất nước của người da đỏ.” (‘Đất của người da đỏ’, được xem là Tây phương, vì đối với người Á châu, da người Tây phương đỏ hồng). Mã lực của các xe hơi, “con chim sắt” máy bay
06 Tháng Mười Một 20195:22 CH(Xem: 78)
Đây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc sống qua con đường tâm linh. Con đường Đạo của Đức Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người. Bất cứ ai với lòng quyết tâm và thiện ý đều có thể đi trên con đường nầy để đạt được tự do, giải thoát cho thân tâm. Cuộc hành trình nầy đòi hỏi người tham dự
02 Tháng Mười Một 201911:37 SA(Xem: 134)
Quyển Khóa Hư Lục Giảng Giải này ra đời do lòng nhiệt tình, tâm tha thiết mong muốn có một “Pho Sách Phật Giáo Việt Nam” thật sự Việt Nam của chúng tôi. Bao nhiêu năm rồi, chúng tôi ao ước những tư liệu Phật giáo Việt Nam còn sót lại được dịch ra chữ quốc ngữ
26 Tháng Mười 20199:33 CH(Xem: 146)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
21 Tháng Chín 20198:40 SA(Xem: 941)
Kinh Pháp Cú (TTS), Phẩm 01-26 - The Dhammapada, Chapter 01-26 (Kệ 1-423 - Verses 1-423) - Translated By: Acharya Buddharakkhita - Dịch từ tiếng Hán: Thích Thiện Siêu - Illustrations by - Tranh Vẽ: Mr. P. Wickramanayaka
21 Tháng Tám 201910:09 CH(Xem: 495)
Sở dĩ ảnh hưởng rộng lớn như thế là vì Pháp cú kinh tuy ngắn nhỏ nhưng bao hàm đầy đủ giáo lý căn bản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, như Tứ diệu đế, lý Duyên khởi, định luật Vô thường, v.v., những lời Phật dạy thật thực tiễn, gần gũi, dễ hiểu, dễ ứng dụng trong đời sống đạo đức hàng ngày, cho cả hai giới xuất gia và tại gia.
20 Tháng Tám 201911:33 CH(Xem: 408)
Kinh Pháp Cú là cuốn kinh chọn lọc những lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế. Suốt trong 45 năm thuyết pháp, đức Phật đã nói rất nhiều Pháp ngữ, bao gồm nghĩa lý thâm thiết để cởi mở nghiệp khổ cho chúng sanh mà đưa họ đến Niết-bàn an lạc. Những giáo pháp ấy, ngay ba tháng sau khi Phật diệt độ, các vị Cao đồ đã hội họp
22 Tháng Sáu 20194:39 CH(Xem: 1402)
"Ở gần tỉnh Benares, trong công viên nai ở Isipatana, Bậc Giác Ngộ, bậc hoàn hảo, bậc hoàn toàn tỉnh thức, tức là Đức Phật đã lăn Bánh-Xe-Pháp cao-quý nhất. Và bánh xe pháp nầy không thể nào bị quay ngược (trở lại) bởi bất cứ người nào trên thế giới, dù cho: đó là nhà sư tu khổ hạnh, hoặc là vị Bà La Môn, hoặc là vị trời, hoặc là Ma Vương,
20 Tháng Sáu 201910:54 CH(Xem: 1201)
Tại thành phố Sāvatthī (Xá Vệ). "Nầy các Tỳ Kheo, ta sẽ giảng dạy, và phân tích cho các ông nghe về con đường cao quý có tám phần. Khi ta nói, các ông hãy chú ý và lắng nghe." "Bạch Thế Tôn, dạ vâng," họ cùng trả lời. Rồi, Đức Phật nói như sau: "Con đường cao quý có tám phần là gì? Con đường nầy gồm có: cái-nhìn-đúng, suy-nghĩ-đúng,