Thế Kỷ 21 Đón Mừng Ngày Đức Phật Thành Đạo - Celebrating Bodhi Day For The 21st Century

23 Tháng Giêng 20188:40 SA(Xem: 5262)
Thế Kỷ 21 Đón Mừng Ngày Đức Phật Thành Đạo - Celebrating Bodhi Day For The 21st Century


BodhiDay_B
(Picture-Hình: catchnews.com)


Thế Kỷ 21 Đón Mừng Ngày Đức Phật Thành Đạo
Celebrating Bodhi Day For The 21st Century

Lewis Richmond - Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến
Source-Nguồn: huffingtonpost.com - Cập Nhật Ngày: 7/2/2013 

____________________


Thế Kỷ 21 Đón Mừng Ngày Đức Phật Thành Đạo 

 

Vào Ngày 08 Tháng 12 (theo Dương Lịch, hoặc Âm Lịch) các Phật Tử trên toàn thế giới sẽ đón mừng Ngày Đức Phật Thành Đạo (hoặc là Ngày Đức Phật Giác Ngộ), là ngày mà Thái Tử Siddhartha Gautama (Sĩ-Đạt-Ta Cồ Đàm) nhìn thấy 'sao mai' (hành tinh Venus) lúc bình minh, rồi ngài đạt giác ngộ dưới cội cây Bồ Đề, và trở thành Đức Phật, tức là "Bậc Giác Ngộ". Qua 2500 năm, sự giác ngộ của Đức Phật đã là niềm tin chính yếu, và quan trọng đối với mọi Phật Tử thuộc tất cả mọi trường phái, giáo phái, và quốc tịch, cũng như là nguyên lý hợp nhất của tất cả các giảng dạy của Đạo Phật. Đối với các Phật Tử ở khắp mọi nơi, ngày Đức Phật Thành Đạo là một cơ hội để chúng ta nhìn nhận, và trung thành với các sự thật căn-bản về trí tuệ, về lòng từ bi, và về sự tử tế - những đặc điểm của thế-giới-quan Phật Giáo. Tôi cũng nghĩ rằng đây là cơ hội để chúng ta hiểu rõ, sự giác ngộ của Đức Phật liên quan với thế giới ngày nay, ở nơi mà Đạo Phật đang được tích-cực phục hưng, ở thời điểm mà trái đất chúng ta có nhiều khó khăn, và đang cần có sự tử tế, và lòng từ bi hơn bao giờ hết. 

 

Trong câu chuyện truyền thống về sự giác ngộ của Đức Phật, tôi nghĩ đến ba phương cách suy ngẫm, và xem xét lại dưới cáí nhìn tinh-tế hiện đại. Phương cách thứ nhất là nhìn Thái Tử Siddhartha (Sĩ Đạt Ta) như một người đàn ông, như một vị Thái Tử, và như một chiến sĩ. Phương cách thứ hai là xem xét ý định của ngài. Và phương cách thứ ba là nói về sự khiêm tốn của ngài.  

 

Phật giáo, trong lịch sử, là một tôn giáo mà nam giới thống trị, và sự hòa nhập của người phụ nữ Phật Giáo hiện nay, là một sự phát triển mang tính cách-mạng. Kinh Phật viết rằng chính Đức Phật đã lưỡng lự, không muốn phụ nữ gia nhập Tăng Đoàn, và qua nhiều thế kỷ các phụ nữ Phật Giáo hầu như bị đối xử như công-dân hạng nhì. Các nhà sử học nói rằng có thể điều nầy là tiêu-chuẩn văn hóa (của thời bấy giờ), tuy nhiên, đây không phải là lý do chính đáng. Gần đây, một vị Lạt Ma trẻ nổi tiếng người Tây Tạng đã nói công khai rằng, thành-kiến lịch sử đối với phụ nữ là một sự sai lầm, mà hiện nay chúng ta cần phải sửa chữa lại. Đấy là một điều tốt nên làm.

 

Trong kinh Phật, Thái Tử Siddhartha sinh ra với đặc quyền là một vị Thái Tử, và cuộc hành trình tâm-linh của ngài có đặc tính (điển hình) của một vị anh hùng, một 'chiến sĩ' nỗ lực chống lại cái chết, chiến đấu với những ảo tưởng của Mara là 'Ma Cám Dỗ', và ngài đạt được chiến thắng cuối cùng, khi ngài đối mặt với một tỷ lệ thắng cuộc khó khăn. Thái Tử Siddhartha cũng là một người cô độc. Ngài từ bỏ gia đình để theo đuổi cuộc sống tâm linh; ngài đặt tên cho con trai ngài là Rahula (La Hầu La), có nghĩa là cái còng chân, hoặc là sự trói buộc, hoặc là sợi dây xích. Tôi không chắc rằng những yếu tố trong cuộc đời của Đức Phật đã gây tạo nên một tiếng chuông cảnh-tỉnh đến những phụ nữ thực hành Đạo Phật ngày nay, những người mà phải phấn đấu với các nhu cầu về việc làm, về các mối quan hệ, về gia đình, và con cái, rồi họ còn dành thời gian cho việc thực hành tâm linh. Một trong những cách chúng ta có thể sửa đổi "sự sai lầm" (mà vị Lạt Ma có nhắc đến ở trên) là chúng ta hãy liên tưởng đến cuộc đời Đức Phật, và Ngày Thành Đạo của ngài để chúc mừng sự tham gia của các phụ nữ Phật Giáo ngày nay.   

 

Bước đầu tiên trong Con Đường Cao Quý Có Tám Phần là Sự Suy Nghĩ Đúng Đắn, và điều quan trọng để nhớ là lý do Thái Tử Siddhartha đã từ bỏ đặc quyền hoàng tộc, rồi ngài bắt đầu cuộc hành trình tâm linh của ngài. Lý do của Thái Tử Siddhartha không phải là ngài muốn nổi tiếng, hoặc muốn được chú ý, hoặc ngài muốn giàu có, hoặc muốn quyền lực. Vì, ngài đã có tất cả mọi điều nói trên, ngay từ khi ngài mới sinh ra đời. Động lực của Thái Tử Siddhartha là giải quyết được những bí mật làm cho con người đau khổ. Tại sao con người đau khổ, tại sao họ gây tạo ra sự đau khổ cho những người khác? Làm cách nào để con người bớt đi sự đau khổ? Đấy chính là các câu hỏi về kiếp người của Thái Tử Siddhartha. Ngài đã nhận ra rằng nơi chốn một người được sinh ra (đặc quyền về gia thế) không giúp ích gì cho việc trả lời các câu hỏi nầy. Trong thời cổ xưa, hoặc thời hiện đại, chỉ có rất ít người xoay lưng lại với sự giàu có, và quyền lực, bởi vì lý do như thế. (Thánh Francis của vùng Assisi là một trường hợp ngoại lệ của người Tây Phương.) Thái Tử Siddhartha đã thật sự làm được điều nầy, và ngài đem đến cho chúng ta niềm cảm hứng; vì ngài theo đuổi câu hỏi tâm linh nầy, để rồi cuối cùng chúng ta đón mừng Ngày Thành Đạo, hoặc Ngày Giác Ngộ của ngài, như ngày nay. 

 

Ngày hôm nay, các nhà lãnh đạo tinh thần đang làm gì? Một số người thường xuất hiện trên các chương trình truyền hình (hoặc truyền thanh) để nói chuyện, và trả lời trực tiếp với khán thính giả, họ thu hút một số lượng người theo đông đảo qua các trang mạng xã hội Twitter, hoặc là Facebook, họ xuất bản sách, và họ làm chủ các trung tâm tâm-linh, và họ có nhiều nhóm người yêu thích theo họ. Đức Phật đã không sống như thế. Đức Phật sống như một người hành khất không nhà cửa, rồi ngài đi bộ khất thực từ làng nầy sang làng khác, và ngài dành hết cuộc đời ngài để làm giảm bớt đi sự đau khổ của người khác. Chúng ta không nói rằng ngài là một người ngây thơ; vì ngài đã xử dụng các kết nối cá-nhân của ngài với các nhà quý tộc địa phương, để ngài có được một công viên, hoặc một khu rừng để làm nơi trú ẩn cho cộng đồng tu sĩ của ngài. Chắc chắn rằng dòng dõi hoàng tộc của Đức Phật, trong nhiều cách đã giúp đỡ ngài trong vai trò của một vị thầy tâm linh. Tuy nhiên, chúng ta thấy rõ ràng rằng Đức Phật đã sống một cuộc đời khiêm tốn - bởi vì, trong tất cả các đức tính để sống và duy trì cuộc sống, đấy là điều khó khăn nhất.

 

Chúng ta hãy sống trong ánh sáng của sự khiêm tốn, sự tử tế, và lòng từ bi, vì đấy chính là bài học sâu sắc, và là niềm cảm hứng vô tận của Ngày Đức Phật Thành Đạo. Khi chúng ta mừng Ngày Đức Phật Thành Đạo năm nay, tôi hy vọng rằng chúng ta đón mừng ngày nầy như ngày lễ hội của thế kỷ 21, chúng ta nhiệt-tình chấp nhận, và hỗ-trợ toàn bộ lịch-sử lâu dài của Đạo Phật, mà không bị giới hạn bởi giá trị nầy. Sự giác ngộ tồn-tại một phần ở bên ngoài lịch-sử, và một phần ở bên trong lịch-sử. Sự đau khổ của con người, và nguyên nhân của sự đau khổ vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm nay, giống y như trong thời đại của Đức Phật; câu hỏi về kiếp người của Đức Phật hãy còn đó - chúng ta phải làm gì để vượt ra khỏi sự tham lam, lòng giận dữ, và sự si mê, để rồi xã hội chúng ta trở thành một nơi mà con người thật-sự có lòng tử tế và có lòng từ bi? Trong niềm đau, nỗi khổ của con người hiện nay, phản ứng thật sự của chúng ta như thế nào? Dựa theo lời dạy cổ xưa trong truyền thống Thiền Tông, chúng tôi muốn nói một cách khác đi: mỗi ngày của chúng ta là một Ngày Giác Ngộ.  

Celebrating Bodhi Day For The 21st Century

 

On Dec. 8 Buddhists the world over will celebrate Bodhi Day, the day when Siddhartha Gautama, on seeing the morning star at dawn, attained enlightenment under the Bodhi Tree and became the Buddha, the “Awakened One.” Buddha’s enlightenment has for 2,500 years been the central article of faith for Buddhists of every school, sect and nationality, as well as being the unifying principle of all Buddhist teaching. For Buddhists everywhere Bodhi Day is an opportunity to acknowledge our dedication to the principles of wisdom, compassion and kindness — the distinguishing features of the Buddhist worldview. I also think it is an opportunity to understand the relevance of Buddha’s enlightenment to today’s world, where Buddhism is enjoying something of a renaissance at a time when a troubled planet needs kindness and compassion more than ever.

 

I think of three ways that the traditional story of Buddha’s enlightenment can be reassessed in the light of modern sensibility. The first has to do with Siddhartha’s identity as a man, a prince and a warrior. The second has to do with his intention. And the third has to do with humility.

 

Historically, Buddhism has been a male-dominated religion, and today’s inclusion of Buddhist women as equals is a revolutionary development. Scripture tells that the Buddha himself was reluctant to include women in his monastic order and down through the centuries Buddhist women have for the most part been treated as second class citizens. Historians can say this was culturally normative, but that is not an excuse. Recently an influential young Tibetan Lama announced in public that this historical bias against women was simply a mistake that now needed to be corrected. This is good.

 

The Siddhartha of scripture was born into privilege as a prince, and his spiritual journey has the archetypal quality of the warrior hero, making death-defying efforts, battling the delusions of Mara the Tempter, and achieving final victory in the face of difficult odds. Siddhartha was a loner, too. He abandoned his family in favor of the spiritual life; he had named his son Rahula, which means a fetter or chain. I doubt that these elements of Buddha’s story resonate much with women practitioners of today, who juggle the demands of work, relationship, family and children and still find time for spiritual practice. One of the ways we can rectify the “mistake” the Lama spoke of is to imagine a Buddha story and Bodhi Day that celebrates the experience of modern Buddhist women.

 

The first step in Buddha’s eight-step Path is Right Intention, and it is important to remember why Prince Siddhartha abandoned his royal privilege and set out on his spiritual journey. It was not to become famous, charismatic, wealthy or powerful. He already had all of that through his birth. His motivation was to solve the riddle of human suffering. Why do people suffer and cause suffering for others? How can their suffering be eased? This was Siddhartha’s life question. He came to realize that no privileges of birth were useful in solving this riddle. In ancient times or modern, very few people turn their back on wealth and power for such a reason. (St. Francis of Assisi was one Western exception.) The fact that Siddhartha did this is inspiring; that he pursued his spiritual question to the end is what we celebrate on Bodhi Day.

 

What about spiritual leaders of today? Some go on talk shows, attract large numbers of Twitter or Facebook followers, publish books and preside over spiritual centers and legions of rapt followers. The Buddha was not like that. He lived as a homeless mendicant and walked from village to village, devoting his life to easing the suffering of others. This is not to say he was naïve; when he needed a park or a forest for his monastic community he used his personal connections with local aristocrats to acquire them. Undoubtedly Buddha’s royal pedigree helped him as a spiritual teacher in numerous ways. But he clearly lived a life of humility — the most difficult of all spiritual virtues to inhabit and sustain.

 

Living in the light of humility, kindness and compassion is the deep lesson and timeless inspiration of Bodhi Day. When we celebrate Bodhi Day this year I hope that we can celebrate it as a 21st century holiday, embracing the full weight of Buddhism’s long history without being limited by it. Enlightenment exists partly outside of history and partly within it. The suffering of humanity and its causes persists today as it did in Buddha’s time; the life question of the Buddha remains — how do we overcome greed, anger and confusion and create a truly kind and compassionate persons and societies? What is our authentic response to the world’s pain as it exists today? To paraphrase an old teaching from the Zen tradition: every day is Bodhi day.


____________________


Source-Nguồn: http://www.huffingtonpost.com/lewis-richmond/celebrating-bodhi-day-for-the-21st-century_b_2254289.html?


____________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Giêng 2019(Xem: 3247)
02 Tháng Bảy 201911:36 SA(Xem: 1776)
Đức Đạt Lai Lạt Ma (được dịch là "Trí Tuệ Như Biển") đời thứ 14, sinh ngày 6/7/1935, tên ngài lúc mới sinh là Lhamo Thondup. The 14th Dalai Lama (loosely translated "Ocean of Wisdom") was born Lhamo Thondup on July 6, 1935.
08 Tháng Bảy 20209:02 CH(Xem: 47)
"Tôi nghĩ rằng chúng ta nên nhấn mạnh đến sự đồng nhất, sự giống nhau ... nhấn mạnh đến điều đó", nhà sư đoạt giải Nobel Hòa bình nói. Đôi khi, ông nói, chúng ta đặt nặng quá nhiều vào "sự khác biệt nhỏ" và "điều đó tạo ra vấn đề". ("I think we should emphasize oneness, sameness...emphasize that," says the Nobel Peace Prize winning monk.
07 Tháng Bảy 202010:00 CH(Xem: 121)
Trong thế giới chúng ta sống hôm nay, các quốc gia không còn cô lập và tự cung cấp như xưa kia. Tất cả chúng ta trở nên phụ thuộc nhau nhiều hơn. Vì thế, càng phải nhận thức nhiều hơn về tính nhân loại đồng nhất. Việc quan tâm đến người khác là quan tâm chính mình. Khí hậu thay đổi và đại dịch hiện nay, tất cả chúng ta bị đe doạ,
05 Tháng Bảy 20208:28 CH(Xem: 164)
Tâm biết có hai phương diện: Tánh biết và tướng biết. Tánh biết vốn không sinh diệt, còn tướng biết tuỳ đối tượng mà có sinh diệt. Khi khởi tâm muốn biết tức đã rơi vào tướng biết sinh diệt. Khi tâm rỗng lặng hồn nhiên, tướng biết không dao động thì tánh biết tự soi sáng. Lúc đó tánh biết và tướng biết tương thông,
04 Tháng Bảy 20202:37 CH(Xem: 172)
Từ yoniso nghĩa là sáng suốt, đúng đắn. Manasikāra nghĩa là sự chú ý. Khi nào chú ý đúng đắn hợp với chánh đạo, đó là như lý tác ý; khi nào chú ý không đúng đắn, hợp với tà đạo, đó là phi như lý tác ý. Khi chú ý đến các pháp khiến cho năm triền cái phát sanh là phi như lý tác ý, trái lại khi chú ý đến các pháp mà làm hiện khởi
03 Tháng Bảy 20207:32 CH(Xem: 172)
Trước hết cần xác định “tác ý” được dịch từ manasikāra hay từ cetanā, vì đôi lúc cả hai thuật ngữ Pāli này đều được dịch là tác ý như nhau. Khi nói “như lý tác ý” hoặc “phi như tác ý” thì biết đó là manasikāra, còn khi nói “tác ý thiện” hoặc “tác ý bất thiện” thì đó là cetanā. Nếu nghi ngờ một thuật ngữ Phật học Hán Việt thì nên tra lại
02 Tháng Bảy 20206:13 CH(Xem: 206)
Bạn nói là bạn quá bận rộn để thực tập thiền. Bạn có thời gian để thở không? Thiền chính là hơi thở. Tại sao bạn có thì giờ để thở mà lại không có thì giờ để thiền? Hơi thở là thiết yếu cho đời sống. Nếu bạn thấy rằng tu tập Phật pháp là thiết yếu trong cuộc đời, bạn sẽ thấy hơi thởtu tập Phật pháp là quan trọng như nhau.
01 Tháng Bảy 20205:53 CH(Xem: 234)
Khi con biết chiêm nghiệm những trải nghiệm cuộc sống, con sẽ thấy ra ý nghĩa đích thực của khổ đau và ràng buộc thì con sẽ có thể dễ dàng tự do tự tại trong đó. Thực ra khổ đau và ràng buộc chỉ xuất phát từ thái độ của tâm con hơn là từ điều kiện bên ngoài. Nếu con tìm thấy nguyên nhân sinh khổ đau ràng buộc ở trong thái độ tâm
30 Tháng Sáu 20209:07 CH(Xem: 211)
Cốt lõi của đạo Phật khác với các tôn giáo khác ở chỗ, hầu hết các tôn giáo khác đều đưa ra mục đích rồi rèn luyện hay tu luyện để trở thành, để đạt được lý tưởng nào đó. Còn đạo Phật không tu luyện để đạt được cái gì cả. Mục đích của đạo Phậtgiác ngộ, thấy ra sự thật hiện tiền tức cái đang là. Tất cả sự thật đều bình đẳng,
29 Tháng Sáu 20208:36 CH(Xem: 204)
Theo nguyên lý thì tụng gì không thành vấn đề, miễn khi tụng tập trung được tâm ý thì đều có năng lực. Sự tập trung này phần lớn có được nhờ đức tin vào tha lực. Luyện bùa, trì Chú, thôi miên, niệm Phật, niệm Chúa, thiền định, thần thông v.v… cũng đều cần có sức mạnh tập trung mới thành tựu. Tưởng đó là nhờ tha lực nhưng sức mạnh
28 Tháng Sáu 20209:36 CH(Xem: 211)
Giác ngộvô minh thì thấy vô minh, minh thì thấy minh… mỗi mỗi đều là những cái biểu hiện để giúp tâm thấy ra tất cả vốn đã hoàn hảo ngay trong chính nó. Cho nên chỉ cần sống bình thường và thấy ra nguyên lý của Pháp thôi. Sự vận hành của Pháp vốn rất hoàn hảo trong những cặp đối đãi – tương sinh tương khắc – của nó.
27 Tháng Sáu 20206:31 CH(Xem: 223)
Thầy có ví dụ: Trong vườn, cây quýt nhìn qua thấy cây cam nói nói tại sao trái cam to hơn mình. Và nó ước gì nó thành cây cam rồi nó quên hút nước và chết. Mình thường hay muốn thành cái khác, đó là cái sai. Thứ hai là mình muốn đốt thời gian. Như cây ổi, mình cứ lo tưới nước đi. Mọi chuyện hãy để Pháp làm. Mình thận trọng,
26 Tháng Sáu 20209:57 CH(Xem: 209)
Từ đó tôi mới hiểu ý-nghĩa này. Hóa ra trong kinh có nói những cái nghĩa đen, những cái nghĩa bóng. Có nghĩa là khi một người được sinh ra trên thế-gian này, dù người đó là Phật, là phàm-phu, là thánh-nhân đi nữa, ít nhất đầu tiên chúng ta cũng bị tắm bởi hai dòng nước, lạnh và nóng, tức là Nghịch và Thuận; nếu qua được
25 Tháng Sáu 202010:14 CH(Xem: 251)
trí nhớ là tốt nhưng đôi khi nhớ quá nhiều chữ nghĩa cũng không hay ho gì, nên quên bớt ngôn từ đi, chỉ cần nắm được (thấy ra, thực chứng) cốt lõi lý và sự thôi lại càng tốt. Thấy ra cốt lõi tinh tuý của sự thật mới có sự sáng tạo. Nếu nhớ từng lời từng chữ - tầm chương trích cú - như mọt sách rồi nhìn mọi sự mọi vật qua lăng kính
24 Tháng Sáu 202010:08 CH(Xem: 257)
Kính thưa Thầy, là một người Phật Tử, mỗi khi đi làm phước hay dâng cúng một lễ vật gì đến Chư Tăng thì mình có nên cầu nguyện để mong được như ý mà mình mong muốn không? Hay là để tâm trong sạch cung kính mà dâng cúng không nên cầu nguyện một điều gì? Và khi làm phước mà mong được gieo giống lành đắc Đạo quả
23 Tháng Sáu 20207:24 CH(Xem: 281)
Tất cả chúng ta sẽ phải đối mặt với cái chết, vì vậy, không nên bỏ mặc nó. Việc có cái nhìn thực tế về cái chết của mình sẽ giúp ta sống một đời trọn vẹn, có ý nghĩa. Thay vì hấp hối trong sự sợ hãi thì ta có thể chết một cách hạnh phúc, vì đã tận dụng tối đa cuộc sống của mình. Qua nhiều năm thì cơ thể của chúng ta đã thay đổi.
22 Tháng Sáu 20209:23 CH(Xem: 300)
Đúng là không nên nhầm lẫn giữa luân hồi (saṃsāra) và tái sinh (nibbatti). Tái sinh là sự vận hành tự nhiên của vạn vật (pháp hữu vi), đó là sự chết đi và sinh lại. Phàm cái gì do duyên sinh thì cũng đều do duyên diệt, và rồi sẽ tái sinh theo duyên kế tục, như ví dụ trong câu hỏi là ngọn lửa từ bật lửa chuyển thành ngọn lửa
21 Tháng Sáu 20208:58 CH(Xem: 269)
Trong Tăng chi bộ, có một lời kinh về bản chất chân thật của tâm: “Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào” cùng với ý nghĩa “cội nguồn” của “yoni” trong “yoniso mananikara” là hai y cứ cho tựa sách “Chói sáng cội nguồn tâm”. Tựa đề phụ “Cách nhìn toàn diện hai chiều vô vihữu vi của thực tại”
20 Tháng Sáu 20203:42 CH(Xem: 339)
Trong tu tập nhiều hành giả thường cố gắng sắp đặt cái gì đó trước cho việc hành trì của mình, như phải ngồi thế này, giữ Tâm thế kia, để mong đạt được thế nọ… nhưng thật ra không phải như vậy, mà là cứ sống bình thường trong đời sống hàng ngày, ngay đó biết quan sát mà thấy ra và học cách hành xử sao cho đúng tốt là được.
19 Tháng Sáu 20204:48 CH(Xem: 333)
Lúc còn nhỏ, khi đến thiền viện, tôi phải có cha mẹ đi cùng, và không được đi hay ngồi chung với các sư. Khi các sư giảng Pháp, tôi luôn ngồi bên dưới, chỉ đủ tầm để nghe. Vị thiền sư đáng kính dạy chúng tôi cách đảnh lễ Đức Phậttụng kinh xưng tán ân đức của Ngài. Thiền sư khuyến khích chúng tôi rải tâm từ cho mọi chúng sinh,
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 1274)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 2847)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 4358)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
09 Tháng Bảy 20208:49 CH(Xem: 36)
Ngày nay, người ta biết đến triều đại các vua chúa Ai Cập thời cổ qua sách vở của người Hy Lạp. Sở dĩ các sử gia Hy Lạp biết được các chi tiết này vì họ đã học hỏi từ người Ai Cập bị đày biệt xứ tên là Sinuhe. Đây là một nhân vật lạ lùng, đã có công mang văn minh Ai Cập truyền vào Hy Lạp khi quốc gia này còn ở tình trạng kém mở mang
12 Tháng Sáu 20205:26 CH(Xem: 446)
I am very impressed by the thoroughness and care with which Dr. Thynn Thynn explains the path of mindfulness in daily life in her book. This has not been emphasized as strongly in the monastic and meditative teachings of Buddhism that have taken root in the West.
11 Tháng Sáu 20205:08 CH(Xem: 450)
Tôi rất cảm phục Bs Thynn Thynn khi bà đã tận tình giải thích thấu đáo, trong quyển sách của bà, về cách sống tỉnh giác trong đời sống thường ngày. Trước đây, điểm nầy chưa được nhấn mạnh đúng mức trong giáo lý Phật-đà tại các thiền việntu việnTây phương. Trong thực tế, phần lớn các phương pháp tu hành ở Á châu đều theo
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 639)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng
08 Tháng Năm 202010:32 CH(Xem: 645)
"Này Rahula, cũng tương tự như vậy, bất kỳ ai dù không cảm thấy xấu hổ khi cố tình nói dối, thì điều đó cũng không có nghĩa là không làm một điều xấu xa. Ta bảo với con rằng người ấy [dù không xấu hổ đi nữa nhưng cũng không phải vì thế mà] không tạo ra một điều xấu xa.
28 Tháng Tư 202010:41 CH(Xem: 755)
Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) là một lời dạy hết sức quan trọng của Đức Phật đáng được những người có lòng tôn trọng Phật Pháp lưu tâm một cách nghiêm túc. Vì cốt lõi của bài kinh Đức Phật khuyên các đệ tử của ngài nên tránh theo đuổi tài sản vật chất và hãy tìm kiếm sự thừa tự pháp qua việc thực hành Bát Chánh Đạo.
04 Tháng Ba 20209:20 CH(Xem: 1070)
Chàng kia nuôi một bầy dê. Đúng theo phương pháp, tay nghề giỏi giang. Nên dê sinh sản từng đàn. Từ ngàn con đến chục ngàn rất mau. Nhưng chàng hà tiện hàng đầu. Không hề dám giết con nào để ăn. Hoặc là đãi khách đến thăm. Dù ai năn nỉ cũng bằng thừa thôi
11 Tháng Hai 20206:36 SA(Xem: 1276)
Kinh Thập Thiện là một quyển kinh nhỏ ghi lại buổi thuyết pháp của Phật cho cả cư sĩ lẫn người xuất gia, hoặc cho các loài thủy tộc nhẫn đến bậc A-la-hán và Bồ-tát. Xét hội chúng dự buổi thuyết pháp này, chúng ta nhận định được giá trị quyển kinh thế nào rồi. Pháp Thập thiện là nền tảng đạo đức, cũng là nấc thang đầu
09 Tháng Hai 20204:17 CH(Xem: 1155)
Quyển “Kinh Bốn Mươi Hai Chương Giảng Giải” được hình thành qua hai năm ghi chép, phiên tả với lòng chân thành muốn phổ biến những lời Phật dạy. Đầu tiên đây là những buổi học dành cho nội chúng Tu viện Lộc Uyển, sau đó lan dần đến những cư sĩ hữu duyên.