Dưới Cội Cây Bồ Đề - Under The Bodhi Tree

23 Tháng Giêng 20188:30 SA(Xem: 6467)
Dưới Cội Cây Bồ Đề - Under The Bodhi Tree

UnderTheBoddhiTree_A


Dưới Cội Cây Bồ Đề - Under The Bodhi Tree
Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến - Source-Nguồn: buddhanet.net
Picture-Hình: Thus Have I Heard

___________________

Dưới Cội Cây Bồ Đề 

 

Sau khi Thái Tử Siddhartha (Sĩ Đạt Ta) rời khỏi hoàng cung, ngài đã quyết tâm khám phá ý nghĩa của kiếp người. Thái Tử học với các vị thầy giỏi nhất thời bấy giờ, và ngài sống một cuộc sống khó khăn của một nhà sư khổ hạnh. Tuy nhiên, Thái Tử không cảm thấy gần gũi hơn với Chân Lý. Khi ngài gần như bị chết vì đói, đấy là bước ngoặt thay đổi cuộc đời ngài. Không lâu sau đó, ngài đạt sự giác ngộ dưới cội cây Bồ Đề.    

 

THÁI TỬ SỐNG NHƯ MỘT NHÀ SƯ

 

Lúc Thái Tử Siddhartha 29 tuổi, ngài bắt đầu cuộc sống của một nhà sư không nhà cửa. Từ tỉnh Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ, thủ đô của nước Sakya thuộc dòng họ Thích Ca), ngài đi bộ về phía nam, đến thành phố Rajagaha (Vương Xá), là thủ đô của nước Magadha (Ma Kiệt Đà). Vị vua của nước nầy có tên là Bimbisara (Tần Bà Sa La).

 

Sáng hôm sau khi Thái Tử Siddhartha đến, ngài đi vào thành phố, và ngài có được thức ăn bằng cách ngài ôm bình bát đi khất thực từ nhà nầy sang nhà khác.  

 

THÁI TỬ ĐI TÌM CÁC THẦY HỌC ĐẠO

 

Thái Tử Siddhartha đi tìm kiếm các vị thầy tâm linh, dọc theo Sông Hằng. Alara Kalama và Uddaka Ramaputta được xem là các vị thầy giỏi nhất về thiền định vào thời điểm đó, vì thế Thái Tử Siddhartha đã đến học với hai vị thầy nầy.

 

Đầu tiên, Thái Tử Siddhartha học với thầy Uddaka Ramaputta, rồi sau đó với thầy Alara Kalama. Không lâu sau đó, ngài đã học được tất cả mọi điều mà các thầy giảng dạy, tuy nhiên, ngài đã không học được cách để chấm dứt sự đau khổ. Ngài nói với chính ngài, "Ta phải tự mình tìm ra chân lý".

 

SÁU NĂM KHỔ CỰC

 

Cùng với năm người bạn, Thái Tử Siddhartha đi đến một khu rừng gần làng Uruvela. Ở đây, họ sống cùng với một số người đàn ông dành trọn đời mình cho tôn giáo, và họ tự hành-hạ họ bằng sự nghèo đói, và sự thiếu thốn cùng cực. 

 

Họ tin rằng nếu họ ép buộc thân xác họ ở trong tình trạng khó khăn khủng khiếp về vật lý, họ sẽ hiểu biết về chân lý. Một số vị ngủ trên giường làm bằng những cây đinh. Một số vị ngủ với đầu dựng ngược dưới đất. Tất cả đều ăn rất ít, do đó họ chỉ còn da bọc xương.   

 

Thái Tử Siddhartha tìm thấy một nơi yên tĩnh dọc trên bờ của một con sông gần đó. Ở đó, ngài đã thực tập các thử thách gay go nhất. Thái Tử ngủ trên giường làm bằng những gai nhọn. Ngài chỉ ăn một hạt lúa mì, và một hạt vừng mỗi ngày.

 

Vào những lúc khác, Thái Tử không ăn gì cả. Thân thể của ngài bị gầy mòn đi, cho đến khi ngài chỉ còn một lớp da mỏng bọc xương. Chim làm tổ trên mái tóc rối bù của ngài, và các lớp bụi bặm bao phủ lên tấm thân khô héo của ngài. Thái Tử Siddhartha hoàn toàn ngồi yên, thậm chí ngài không phủi đi các con côn trùng trên người ngài.  

 

ÂM NHẠC TỪ CÂY ĐÀN TỲ BÀ

 

Vào một buổi tối, một nhóm những cô gái trẻ trên đường về nhà, họ đi ngang qua nơi Thái Tử Siddhartha đang ngồi thiền. Họ đang trình diễn với một nhạc cụ, đó là những cây đàn tỳ bà, và họ ca hát. Thái Tử nghĩ rằng, "Khi các sợi giây đàn nầy lỏng lẻo, thì tiếng đàn sẽ không hay. Khi các sợi giây đàn nầy quá căng thẳng, giây đàn sẽ đứt. Khi các sợi giây đàn không quá lỏng, cũng không quá căng, tiếng đàn sẽ tuyệt vời. Ta đang kéo các sợi giây trong-người của ta quá căng thẳng. Ta không thể nào tìm ra Con Đường Chân Lý, khi mà ta sống một cuộc đời xa hoa, hoặc ta sống trong một thân thể quá yếu đuối."

 

Vì thế, Thái Tử đã quyết định từ bỏ sự hành hạ thân xác của ngài. Ngài học được rằng sự hành-xác không phải là phương cách đúng đắn.  

 

Ngay sau đó, khi đang tắm trên sông, lúc ấy thân thể của Thái Tử Siddhartha đã quá yếu đuối, nên ngài ngất đi, và ngã xuống. Sujata, một cô gái trẻ trong làng sống gần sông, cô trông thấy ngài, và cô dâng ngài một bát cơm và sữa. Sau bữa ăn, ngài cảm thấy mạnh khỏe ngay lập tức, rồi ngài tiếp tục thiền định.  

 

Khi năm người bạn đồng hành của Thái Tử nhìn thấy ngài ăn, họ cảm thấy chán ghét ngài, rồi họ cho rằng ngài đã bỏ cuộc. Vì thế, họ bỏ đi.

 

MẶT TRỜI CỦA SỰ GIÁC NGỘ TỎA SÁNG

 

Thái Tử Siddhartha nhớ lại khi ngài còn nhỏ, ngài đã ngồi thiền dưới cây hồng-táo (cây roi hoặc cây mận?, rose-apple). "Ta sẽ ngồi thiền giống như trước kia. Có lẽ đây là cách để có sự giác ngộ." Rồi từ đó, ngài bắt đầu ăn mỗi ngày. 

 

Lúc nầy, Thái Tử Siddhartha vẫn còn tìm hiểu ý nghĩa của kiếp người, rồi ngài bắt đầu cuộc hành trình đến Buddhagaya. Đến gần một khu rừng nhỏ có bóng mát, ngài ngồi xuống dưới một cội cây Bồ Đề lớn. Thái Tử lặng lẽ tuyên thệ, "Ngay cả khi máu thịt của ta đã khô kiệt, và chỉ còn lại da bọc xương, ta sẽ không rời khỏi nơi nầy, cho tới khi nào ta tìm ra được cách để chấm dứt tất cả mọi sự đau khổ." Ngài ngồi ở đó suốt bốn mươi chín ngày. Ngài quyết chí tìm ra nguồn gốc của tất cả mọi sự đau khổ về thân thểtinh thần, trong kiếp người. Mara, là ma hung dữ, ông đã cố gắng dọa ngài từ bỏ đi sự tìm kiếm Chân Lý. Thí dụ như, ông hy vọng quyến rũ Thái Tử Siddhartha bằng các ảo tưởng của các cô con gái xinh đẹp của ông, để Thái Tử có những ý tưởng ích-kỷ. Tuy nhiên, lòng nhân từ của Đức Phật đã bảo vệ ngài, ra khỏi các cuộc tấn công như thế."

 

Trong thời gian nầy, Thái Tử Siddhartha có thể nhìn thấy mọi sự vật thật-sự như chúng là-như-thế. Giờ đây, cuối cùng ngài đã tìm được câu trả lời cho sự đau khổ: "Nguyên nhân của sự đau khổ chính là sự tham lam, sự ích kỷ, và sự ngu dốt. Nếu tất cả mọi người vượt ra khỏi những cảm xúc tiêu cực nầy, họ sẽ hạnh phúc." 

 

Trong đêm trăng tròn vào Tháng Năm, Thái Tử Siddhartha đã đi sâu vào thiền định. Khi ngôi sao-mai xuất hiện trên bầu trời ở phía đông, ngài trở thành Đức Phật, là một bậc giác ngộ. Năm đó, ngài ba mươi lăm tuổi.

 

Cuối cùng, Đức Phật đứng dậy. ngài chăm chú nhìn cây bồ-đề với lòng biết ơn, rồi ngài cảm ơn cây bồ-đề đã cho ngài nơi trú ẩn. Kể từ đó về sau, cây nầy được gọi là Cây Bồ Đề, hoặc là Cây Giác Ngộ

Under The Bodhi Tree 

 

After leaving the palace, Siddhartha was determined to discover the meaning of existence. He studied with the best teachers of the day, and lived the hard life of an ascetic. Yet he didn't feel any closer to the Truth. The turning point came when he almost died of hunger. Soon after that, he attained enlightenment under the Bodhi tree.

 

LIVING AS A MONK

                                       

At the age of 29, Siddhartha began the homeless life of a monk. From Kapilavatthu, he walked south to the city of Rajagaha, the capital of the Magadha country. The king of this country was named Bimbisara.

 

The morning after Siddhartha arrived, he went to the city and obtained his meal for the day by going from house-to-house begging with an alms-bowl.        

      

SEARCHING FOR TEACHERS

 

Siddhartha wandered along the Ganges River looking for spiritual teachers. Alara Kalama and Uddaka Ramaputta were considered to be the best teachers in meditation at that time so Siddhartha went to study with them.

 

First he studied under Uddaka Ramaputta, then under Alara Kalama. Very soon he had learnt all they had to teach, but he had not learnt to end suffering. He said to himself, "I must find the truth on my own".

 

SIX YEARS OF HARDSHIP

 

With his five friends, Siddhartha went to a forest near the village of Uruvela. Here, several holy men were living in and tormenting themselves with extreme poverty.

 

They believed that if they put their bodies through terrible physical hardship, they would understand the truth. Some slept on a bed of nails. Some stood on their head. They all ate so little they were just skin and bones.

 

Siddhartha found a quiet spot on the banks of a nearby river. There he practised the most severe hardship. He slept on a bed of thorns. He ate only one grain of wheat and one sesame seed a day.

 

At other times, he would eat nothing at all. His body wasted away until there was only a layer of thin skin covering his bones. Birds made nests in his matted hair and layers of dust covered his dried-up body. Siddhartha sat completely still, not even brushing away insects.

 

THE SONG OF THE LUTE

 

One evening, a group of young girls on their way home passed by Siddhartha who was sitting in meditation. They were playing lutes, a musical instrument, and singing. He thought, "When the strings of the lute are loose, its sound won't carry. When the strings are too tight, it breaks. When the strings are neither too loose nor too tight, the music is beautiful. I'm pulling my strings too tightly. I cannot find the Way to Truth living a life of luxury or with my body so weak."

 

Thus, he decided to give up self-torture. He came to know that this was not the correct way.

 

Soon after, while bathing in the river, Siddhartha was so weak that he fainted and fell. Sujata, a young village girl who lived by the river, saw him and brought him a bowl of rice and milk. After his meal, he immediately felt stronger and continued his meditation.

 

When his five companions saw him eat, they were disgusted, thinking he'd given up. So they left him.

 

THE SUN OF ENLIGHTENMENT SHINES

 

Siddhartha remembered meditating under the rose-apple tree when he was a child. "I shall meditate as I did before. Perhaps that is the way to become enlightened." From then on he began to eat daily.

 

Still seeking a way to understand the meaning of life, Siddhartha set out for Buddhagaya. Near a grove, he sat down under a huge Bodhi tree. Silently he vowed, "Even if my flesh and blood were to dry up, leaving only skin and bones, I will not leave this place until I find a way to end all sorrow." He sat there for forty nine days. He was determined to discover the source of all pain and suffering in the world. Mara, the evil one, tried to scare him into giving up his quest. For instance, he hoped to lure Siddhartha into having selfish thoughts by sending visions of his very beautiful daughters. But the Buddha's goodness protected him from such attacks.

 

During this period, Siddhartha was able to see things as they truly were. Now he had finally found the answer to suffering: "The cause of suffering is greed, selfishness and stupidity. If people get rid of these negative emotions, they will be happy."

 

During a full-moon night in May, Siddhartha went into deep meditation. As the morning star appeared in the eastern sky, he became an enlightened one, a Buddha. He was thirty five years old.

 

When the Buddha stood up at last, he gazed at the tree in gratitude, to thank it for having given him shelter. From then on, the tree was known as the Bodhi tree, the tree of Enlightenment.


___________________


Source-Nguồn: http://www.buddhanet.net/e-learning/buddhism/pbs2_unit03.htm


___________________



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Giêng 2019(Xem: 6250)
23 Tháng Mười Hai 20209:43 CH(Xem: 925)
Thiền mà Thầy hướng dẫn có một điều đặc biệt, đó là lý thuyếtthực hành xảy ra cùng một lúc chứ không mất thời gian tập luyện gì cả. Khi nghe pháp thoại mà một người thấy ra được vấn đề một cách rõ ràng thì ngay đó người ấy đã "thiền" rồi, chứ không có gì để mang về áp dụng hay hành theo cả. Thiền mục đích chỉ để thấy ra
22 Tháng Mười Hai 20209:09 CH(Xem: 901)
Các vị Đạt Lai Lạt Ma [trong quá khứ ] đã nhận lãnh trách nhiệm như là những vị lãnh đạo chính trị và tâm linh của Tây Tạng trong suốt 369 năm từ năm 1642 cho đến nay. Giờ đây, bản thân tôi [Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14, Tenzin Gyatso] đã tình nguyện chấm dứt [việc nhận lãnh trách nhiệm] như trên. Tôi hãnh diệnhài lòng là giờ đây
21 Tháng Mười Hai 202011:35 CH(Xem: 673)
Con không thể bỏ nhậu được vì do bản thân con không thể bỏ được rượu bia và vì trong công việc, gặp đối tác, bạn bè, người thân thì thường nhậu vài chai bia (trung bình 4-5 lần tháng). Con cảm thấy việc gặp gỡ và uống bia như thế cũng không có gì là tội lỗi và cũng cần thiết cho công việc và duy trì mối quan hệ xã hội. Nhưng sau một thời gian
20 Tháng Mười Hai 202011:53 CH(Xem: 804)
Những kẻ đang gieo nhân cướp của giết người và những người đang chịu quả khổ báo đều là "các chúng sanh nhân vì trước kia chứa nhóm các nhiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ" thì đã có Bồ-Tát Phổ Hiền đại từ, đại bi, đại nhẫn, đại xả... chịu thay hết rồi, con đừng có dại mà đem cái tình hữu hạn của con vào giải quyết giùm họ
15 Tháng Mười Hai 202010:03 CH(Xem: 876)
Phật giáo giảng rằng mọi vật thể và mọi biến cố, tức mọi hiện tượng trong thế giới này là « ảo giác », « bản thể tối hậu » của chúng chỉ là « trống không ». Bản chất của tất cả những gì xảy ra chung quanh ta, trong đó kể cả bản thântâm thức của ta nữa, đều « không thật », tức « không hàm chứa bất cứ một sự hiện hữu tự tại
14 Tháng Mười Hai 202010:57 CH(Xem: 817)
Đức Phật đã tịch diệt hơn hai mươi lăm thế kỷ, và chỉ còn lại Đạo Pháp được lưu truyền cho đến ngày nay. Thế nhưng Đạo Pháp thì lại vô cùng sâu sắc, đa dạng và khúc triết, đấy là chưa kể đến các sự biến dạngthêm thắt trên mặt giáo lý cũng như các phép tu tập đã được "sáng chế" thêm để thích nghi với thời đại, bản tính
13 Tháng Mười Hai 202011:25 CH(Xem: 963)
Vipassana có thể được dịch là “Tuệ”, một sự tỉnh giác sáng suốt về những gì xuất hiện đúng như chính chúng xuất hiện. Samatha có thể được dịch là “Định” (sự “tập trung”, quán; hay sự “tĩnh lặng”, tịnh, chỉ). Đây là một trạng thái mà tâm được đưa vào sự ngưng nghỉ, chỉ hội tụ duy nhất vào một chủ đề, không được phép lang thang.
12 Tháng Mười Hai 202010:58 CH(Xem: 858)
Thầy đã từng nói "dù sự cố gì trên đời đến với mình đều có lợi, không có hại" và đều có nhân duyên hợp tình hợp lý của nó. Vì mình nghĩ theo hướng khác nên mới có cảm giác như những sự cố đó nghịch lại với mình thôi. Sở dĩ như vậy vì mọi sự đều do duyên nghiệp chính mình đã tạo ra trong quá khứ, nay đương nhiên phải gặt quả.
10 Tháng Mười Hai 202011:10 CH(Xem: 1083)
Khi hiểu được bản chất của cuộc đờiVô thường, Khổ và Vô ngã thì chúng ta sẽ hành động có mục đích hơn. Nếu không thì chúng ta sẽ luôn sống trong ảo tưởngniềm tin mơ hồ về những cái không thậtcoi thường việc phát triển các giá trị tinh thần cho đến khi quá trễ. Có một câu chuyện ngụ ngôn về tâm lý này của con người
08 Tháng Mười Hai 202011:04 CH(Xem: 1434)
Con nói đúng, nếu về quê con sẽ có một cuộc sống tương đối bình yên, ít phiền não, ít va chạm, nhưng chưa chắc thế đã là tốt cho sự tu tập của mình. Môi trường nào giúp mình rèn luyện được các đức tính, các phẩm chất Tín Tấn Niệm Định Tuệ, các ba la mật cần thiết cho sự giác ngộ, môi trường ấy là môi trường lý tưởng để tu tập.
06 Tháng Mười Hai 20208:18 CH(Xem: 1066)
Bạn muốn chết trong phòng cấp cứu? Trong một tai nạn? Trong lửa hay trong nước? Hay trong nhà dưỡng lão hoặc phòng hồi phục trí nhớ? Câu trả lời: Chắc là không. Nếu bạn sẵn lòng suy nghĩ về đề tài này, có thể bạn thà chết ở nhà với người thân bên cạnh. Bạn muốn được ra đi mà không phải đau đớn. Muốn còn nói năng được
05 Tháng Mười Hai 202011:21 CH(Xem: 1507)
Sợ là một cảm xúc khó chịu phát khởi chủ yếu từ lòng tham. Tham và sự bám chấp là nhân cho nhiều thứ bất thiện, phiền nãoác nghiệp trong đời. Vì hai thứ này mà chúng ta lang thang trong vòng luân hồi sinh tử (samsāra). Ngược lại, tâm vô úy, không sợ hãi, là trạng thái của sự bình an, tĩnh lặng tuyệt hảo, và là thứ ân sủng
04 Tháng Mười Hai 20208:48 CH(Xem: 1033)
Thưa Thầy, con không phải là Phật tử, con cũng không theo Đạo Phật. Nhưng mỗi ngày con đều nghe Thầy giảng. Con cũng không biết về kinh kệ Phật giáo hay pháp môn thiền nào nhưng con biết tất cả những gì Thầy giảng là muốn cho những người Phật tử hay những người không biết Đạo giống con hiểu về chân đế,
03 Tháng Mười Hai 202011:17 CH(Xem: 1045)
Thầy nói nếu con tu tập, mọi thứ sẽ tốt đẹp lên theo nghĩa là tu tập sẽ làm con bớt phiền não, bớt sai lầm và bớt bị quá khứ ám ảnhchi phối hiện tại của con – và để con trưởng thành hơn, sống bình aný nghĩa hơn trong hiện tại, chứ không phải nghĩa là mọi việc sẽ “tốt” trở lại y như xưa, hay là con sẽ có lại tài sản đã mất…
02 Tháng Mười Hai 202011:16 CH(Xem: 910)
Kính thưa Thầy, con xin Thầy giảng rộng cho con hiểu một vài câu hỏi nhỏ. Con nghe chị con nói ở bên Ấn Độ có nhiều người giả làm ăn mày nên khi bố thí thì cẩn thận kẻo không bị lầm. Vả lại, khi xưa có một vị Thiền sư đã từng bố thí con mắt của Ngài. Hai kiểu bố thí trên thực tế có được gọi là thông minh không? Thưa Thầy,
30 Tháng Mười Một 20209:41 CH(Xem: 1012)
Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc với sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên ngài chóng đến Niết bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó.
29 Tháng Mười Một 20208:53 CH(Xem: 1010)
Hôm nay tôi sẽ nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho quý vị nghe. Vì tất cả chúng ta tu mà nếu không nắm vững đầu mối của sự tu hành đó, thì có thể mình dễ đi lạc hoặc đi sai. Vì vậy nên hôm nay tôi nhân ngày cuối năm để nhắc lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, để mỗi người thấy rõ con đườngĐức Phật
28 Tháng Mười Một 202010:29 CH(Xem: 1004)
Tôi được biết về Pháp qua hai bản kinh: “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được Pháp; ai thấy được Pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (Kinh Trung bộ, số 28, Đại kinh Dụ dấu chân voi) và “Ai thấy Pháp, người ấy thấy Như Lai; ai thấy Như Lai, người ấy thấy Pháp (Kinh Tương ưng bộ). Xin quý báo vui lòng giải thích Pháp là gì?
27 Tháng Mười Một 202011:20 CH(Xem: 956)
Kính thưa Sư Ông, Con đang như 1 ly nước bị lẫn đất đá cặn bã, bị mây mờ ngăn che tầng tầng lớp lớp, vô minh dày đặc nên không thể trọn vẹn với thực tại, đôi khi lại tưởng mình đang học đạo nhưng hóa ra lại là bản ngã thể hiện. Như vậy bây giờ con phải làm sao đây thưa Sư Ông? Xin Sư Ông từ bi chỉ dạy cho con. Kính chúc
26 Tháng Mười Một 202011:32 CH(Xem: 819)
Tại sao người Ấn lại nói bất kỳ người nào mình gặp cũng đều là người đáng gặp? Có lẽ vì người nào mà mình có duyên gặp đều giúp mình học ra bài học về bản chất con người để mình tùy duyên mà có thái độ ứng xử cho đúng tốt. Nếu vội vàngthái độ chấp nhận hay chối bỏ họ thì con không thể học được điều gì từ những người
02 Tháng Mười Hai 201910:13 CH(Xem: 2755)
Nhật Bản là một trong những quốc gia có tỉ lệ tội phạm liên quan đến súng thấp nhất thế giới. Năm 2014, số người thiệt mạng vì súng ở Nhật chỉ là sáu người, con số đó ở Mỹ là 33,599. Đâu là bí mật? Nếu bạn muốn mua súng ở Nhật, bạn cần kiên nhẫnquyết tâm. Bạn phải tham gia khóa học cả ngày về súng, làm bài kiểm tra viết
12 Tháng Bảy 20199:30 CH(Xem: 4463)
Khóa Tu "Chuyển Nghiệp Khai Tâm", Mùa Hè 2019 - Ngày 12, 13, Và 14/07/2019 (Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00 PM) - Tại: Andrew Hill High School - 3200 Senter Road, San Jose, CA 95111
12 Tháng Bảy 20199:00 CH(Xem: 6194)
Các Khóa Tu Học Mỗi Năm (Thường Niên) Ở San Jose, California Của Thiền Viện Đại Đăng
19 Tháng Mười Một 20206:34 CH(Xem: 1383)
Khi tôi viết về đề tài sống với cái đau, tôi không cần phải dùng đến trí tưởng tượng. Từ năm 1976, tôi bị khổ sở với một chứng bệnh nhức đầu kinh niên và nó tăng dần thêm theo năm tháng. Tình trạng này cũng giống như có ai đó khiêng một tảng đá hoa cương thật to chặn ngay trên con đường tu tập của tôi. Cơn đau ấy thường xóa trắng
08 Tháng Mười Một 20207:59 CH(Xem: 1352)
Upasika Kee Nanayon, tác giả quyển sách này là một nữ cư sĩ Thái lan. Chữ upasika trong tiếng Pa-li và tiếng Phạn có nghĩa là một cư sĩ phụ nữ. Thật thế, bà là một người tự tu tậpsuốt đời chỉ tự nhận mình là một người tu hành thế tục, thế nhưng giới tu hành
06 Tháng Mười Một 202011:19 CH(Xem: 1313)
Upasika Kee Nanayon, còn được biết đến qua bút danh, K. Khao-suan-luang, là một vị nữ Pháp sư nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 ở Thái Lan. Sinh năm 1901, trong một gia đình thương nhân Trung Hoa ở Rajburi (một thành phố ở phía Tây Bangkok), bà là con cả
23 Tháng Mười Một 202010:04 CH(Xem: 1217)
Thầy Xá Lợi Phất - anh cả trong giáo đoàn - có dạy một kinh gọi là Kinh Thủy Dụ mà chúng ta có thể học hôm nay. Kinh này giúp chúng ta quán chiếu để đối trị hữu hiệu cái giận. Kinh Thủy Dụ là một kinh trong bộ Trung A Hàm. Thủy là nước. Khi khát ta cần nước để uống, khi nóng bức ta cần nước để tắm gội. Những lúc khát khô cổ,
22 Tháng Mười 20201:00 CH(Xem: 6508)
Tuy nhiên đối với thiền sinh hay ít ra những ai đang hướng về chân trời rực rỡ ánh hồng giải thoát, có thể nói Kinh Đại Niệm Xứbài kinh thỏa thích nhất hay đúng hơn là bài kinh tối cần, gần gũi nhất. Tối cần như cốt tủy và gần gũi như máu chảy khắp châu thân. Những lời kinh như những lời thiên thu gọi hãy dũng mãnh lên đường
21 Tháng Mười 202010:42 CH(Xem: 1144)
Một lần Đấng Thế Tôn ngụ tại tu viện của Cấp Cô Độc (Anathapindita) nơi khu vườn Kỳ Đà Lâm (Jeta) gần thị trấn Xá Vệ (Savatthi). Vào lúc đó có một vị Bà-la-môn to béo và giàu sang đang chuẩn bị để chủ tế một lễ hiến sinh thật to. Số súc vật sắp bị giết gồm năm trăm con bò mộng, năm trăm con bê đực, năm trăm con bò cái tơ,
20 Tháng Mười 20209:07 CH(Xem: 1162)
Tôi sinh ra trong một gia đình thấp hèn, Cực khổ, dăm bữa đói một bữa no. Sinh sống với một nghề hèn mọn: Quét dọn và nhặt hoa héo rơi xuống từ các bệ thờ (của những người Bà-la-môn). Chẳng ai màng đến tôi, mọi người khinh miệt và hay rầy mắng tôi, Hễ gặp ai thì tôi cũng phải cúi đầu vái lạy. Thế rồi một hôm, tôi được diện kiến
14 Tháng Mười 202010:00 SA(Xem: 3952)
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng. Bấy giờ, Bāhiya là một người theo giáo phái Áo Vải, sống ở vùng đất Suppāraka ở cạnh bờ biển. Ông là một người được thờ phụng, kính ngưỡng, ngợi ca, tôn vinh và kính lễ. Ông là một người lỗi lạc, được nhiều người thần phục.
11 Tháng Năm 20208:38 CH(Xem: 2910)
một lần Đấng Thế Tôn lưu trú tại bộ tộc của người Koliyan, gần một ngôi làng mang tên là Haliddavasana, và sáng hôm đó, có một nhóm đông các tỳ-kheo thức sớm. Họ ăn mặc áo lót bên trong thật chỉnh tề, khoác thêm áo ấm bên ngoài, ôm bình bát định đi vào làng